Tin mới :

Latest Post

Sài Gòn với người Pháp

Written By Hồ Nguyên Đức on 17/06/2014 | 07:40


Sang đến thời kỳ “một trăm năm đô hộ giặc Tây” Việt Nam nói chung và Sài Gòn nói riêng đã trở thành thuộc địa của Pháp. Cũng vì thế, tiếng Pháp đã có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống văn hóa, xã hội của người Việt. Tiếng Pháp được sử dụng trong các văn bản, giấy tờ của Chính phủ Bảo hộ và trong giảng dạy ở nhà trường, bên cạnh đó là các loại sách báo thâm nhập đời sống thường ngày của người dân.
Chữ Quốc ngữ, vốn được tạo ra bởi một số nhà truyền giáo Tây phương, đặc biệt là linh mục Alexandre de Rhodes (tác giả cuốn Từ điển Việt-Bồ-La năm 1651), với mục đích dùng ký tự Latinh làm nền tảng cho tiếng Việt. “Latinh hóa” chữ Việt ngày càng được phổ biến để trở thành Quốc ngữ, chịu ảnh hưởng bởi những thuật ngữ, từ ngữ mới của ngôn ngữ Tây phương, chủ yếu là từ tiếng Pháp.
Khi nắm được ba tỉnh Nam Bộ, người Pháp đã nắm trong tay một công cụ vô cùng hữu hiệu để truyền bá văn hoá đồng thời chuyển văn hoá cũ theo hướng văn hoá Pháp. Tờ Gia Định Báo là tờ báo đầu tiên được phát hành bằng chữ Quốc ngữ vào năm 1865, khẳng định sự phát triển và xu hướng của chữ Quốc Ngữ như là chữ viết chính thức của nước Việt Nam sau này.
Đối với người bình dân, việc tiếp nhận tiếng Pháp đến một cách rất tự nhiên. Người ta có thể nói “Cắt tóc, thui dê” để chỉ ngày Quốc khánh Pháp 14/7, Quatorze Juliet. Người ta có thể dùng tiếng Tây “bồi” nhưng lại không cảm thấy xấu hổ vì vốn liếng tiếng Pháp của mình chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Để tả con cọp, người ta có thể dài dòng văn tự: “tí ti giôn, tí ti noa, lủy xực me-xừ, lủy xực cả moi”. Diễn nôm câu này là một chút màu vàng (jaune), một chút màu đen (noir), nó ăn thịt ông (monsieur), nó ăn thịt cả tôi (moi).
Nhân đây cũng xin nói thêm về những đại danh từ nhân xưng như toa (anh, mày -toi), moa hay mỏa (tôi, tao- moi), en hay ẻn (cô ấy, chị ấy – elle), lúy hay lủy (anh ấy, hắn – lui), xừ hay me-xừ (ông, ngài – monsieur)… Học trò trường Tây, những nhà trí thức khoa bảng hay cả những kẻ tỏ ra “thời thượng” ngày xưa thường dùng những đại từ này. Cũng vì thế có một câu mang tính cách châm chọc: “Hôm qua moa đi xe lửa, buồn đái quá nên moa phải đái trên đầu toa” (toa ở đây có 2 nghĩa: toa xe lửa nhưng cũng có ý là toi (anh) trong tiếng Pháp).
Người Pháp xây dựng đường xe lửa đầu tiên ở Việt Nam tại Sài Gòn từ năm 1881. Đây là đoạn đường ray (rail) từ Cột cờ Thủ Thiêm đến bến xe Chợ Lớn, dài 13km. Mãi đến năm 1885 chuyến xe lửa đầu tiên mới được khởi hành và một năm sau, tuyến đường Sài Gòn-Mỹ Tho dài 71km bắt đầu hoạt động. Sau đó, mạng lưới đường sắt được xây dựng trên khắp lãnh thổ Việt Nam, dùng kỹ thuật của Pháp với khổ đường ray 1 mét. Tính đến năm 1975 miền Nam có khoảng 1.240km đường ray nhưng vì chiến cuộc nên chỉ được sử dụng khoảng 60%.
Nhà ga cũng có xuất xứ từ tiếng Pháp gare. Ga là công trình kiến trúc làm nơi cho tàu hoả, tàu điện hay máy bay đỗ để hành khách lên xuống hoặc để xếp dỡ hàng hoá. Từ sự vay mượn này ta có thêm những từ ngữ như sân ga, trưởng ga, ga chính,ga xép… Nhân nói về ga tưởng cũng nên nhắc lại động từ bẻ ghi (aiguiller) tức là điều khiển ghi (aiguille) cho xe lửa chuyển sang đường khác. Trong tiếng Việt, bẻ ghi còn có nghĩa bóng là thay đổi đề tài, chuyển từ chuyện mình không thích sang một đề tài khác.
Có những từ ngữ xuất xứ từ tiếng Pháp nhưng vì lâu ngày dùng quen nên người ta cứ tưởng chúng là những từ “thuần Việt”. Chẳng hạn như cao su (caoutchouc), một loại cây công nghiệp được người Pháp du nhập vào Việt Nam qua hình thức những đồn điền tại miền Nam. Ngôn ngữ tiếng Việt rất linh động trong cách dùng từ ngữ cao su qua các biến thể như giờ cao su (giờ giấc co dãn, không đúng giờ), kẹo cao su (chewing-gum), bao cao su (còn gọi là “áo mưa” dùng để tránh thai hoặc tránh các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục)…
Nhà băng (banque) là một chữ quen dùng trong ngôn ngữ hàng ngày còn xà bông cũng là loại chữ dùng lâu ngày thành quen nên ít người để ý xuất xứ của nó là từ tiếng Pháp, savon. Ở miền Bắc, xà bông được cải biên thành xà phòng, là chất dùng để giặt rửa, chế tạo bằng cách cho một chất kiềm tác dụng với một chất béo. Nổi tiếng ở Sài Gòn xưa có xà bông Cô Ba của Trương Văn Bền, dùng dầu dừa làm nguyên liệu chính.
Chúng ta thấy ngôn ngữ Việt vay mượn từ tiếng Pháp trong rất nhiều lãnh vực. Về ăn uống, tiếng Việt thường mượn cả cách phát âm đến tên của các món ăn có xuất xứ từ phương Tây. Vào nhà hàng, người phục vụ đưa ra mơ-nuy (thực đơn – menu) trong đó có những món như bít-tết (chữ bifteck của Pháp lại mượn từ nguyên thủy tiếng Anh- beefsteak), những thức uống như bia (rượu bia- bière, được chế biến từ cây hốt bố hay còn gọi là hoa bia – houblon), rượu vang (rượu nho- vin)…
Về thịt thì có xúc-xích (saucisse), pa-tê (paté), giăm-bông (jambon), thịt phi-lê (thịt thăn, thịt lườn – filet). Các món ăn thì có ra-gu (ragout), cà-ri (curry)… Khi ăn xong, khách xộp còn cho người phục vụ tiền puộc-boa (tiền thưởng – pourboire). Ngày nay từ boa hay bo được dùng phổ biến với ý nghĩa cho tiền thưởng, hay còn gọi là tiền phong bao hoặc tiền phục vụ.
Từ rất lâu, ở Sài Gòn xuất hiện các loại bánh mì theo kiểu Pháp, miền Bắc lại gọi là bánh tây với hàm ý du nhập từ Pháp. Có nhiều loại bánh đặc biệt như bánh mì ba-ghét (loại bánh mì nhỏ, dài – baguette), bánh pa-tê-sô (một loại bánh nhân thịt, ăn lúc nóng vừa dòn vừa ngon – pathé chaud), bánh croát-xăng (hay còn gọi là bánh sừng bò – croissant
Người Sài Gòn thường ăn sáng với bánh mì kèm theo nhiều kiểu chế biến trứng gà như ốp-la (trứng chỉ chiên một mặt và để nguyên lòng đỏ – oeuf sur le plat), trứng ốp-lết (trứng tráng – omelette) hoặc trứng la-cóc (trứng chụng nước sôi, khi ăn có người lại thích thêm một chút muối tiêu – oeuf à la coque).
Món không thể thiếu trong bữa ăn sáng là cà phê (café). Cà phê phải được lọc từ cái phin (filtre à café) mới đúng điệu. Người miền Bắc ít uống cà phê nên sau năm 1975 vào Sài Gòn đã mô tả cái phin cà phê một cách rất “gợi hình”: “cái nồi ngồi trên cái cốc”.
Ngôn ngữ về trang phục cũng chịu ảnh hưởng rất nhiều từ tiếng Pháp. Bình thường hàng ngày người ta mặc áo sơ-mi (chemise), cổ tay có cài khuy măng-sét (manchette). Khi đi tiệc tùng hoặc hội họp thì mặc áo vét (vest) hay bộ vét-tông (veston) kèm theo chiếc cà-vạt (cravate) trên cổ áo sơ mi. Trời hơi lạnh có thể mặc bên trong áo vét một chiếc gi-lê (gilet) và hai tay mang găng (gants) cho ấm.
Ngay cả quần áo lót bên trong cũng mượn từ tiếng Pháp. Phụ nữ trên thì mang xú-chiêng (nịt ngực- soutien-gorge) dưới thì có xì-líp (slip). Nam giới thì mặc áo may-ô (maillot) bên trong áo sơ-mi. Mặc quần thì phải có xanh-tuya (dây nịt – ceinture) và khi trời nóng thì mặc quần sóc (quần ngắn, tiếng Pháp là short được mượn từ tiếng Anh shorts).
Trang phục có thể được may từ các loại cô-tông (vải bông – coton) hoặc bằng len (làm từ lông cừu – laine). Trên đầu có mũ phớt (feutre, một loại mũ dạ), mũ be-rê (béret, một loại mũ nồi)… dưới chân là đôi dép săng-đan (sandales), sau này người Sài Gòn lại chế thêm dép sa-bô (sabot nguyên thủy tiếng Pháp là guốc).
Đi lính cho Tây thì được phát đôi giày săng-đá (giày của lính – soldat). Loại lính nhảy dù, biệt kích (ngày nay là đặc công) gọi là còm-măng-đô (commando). Một đoàn xe quân sự có hộ tống được gọi là công-voa (convoi, trông cứ như con voi trong tiếng Việt!). Thuật ngữ quân sự chỉ những công sự xây đắp thành khối vững chắc, dùng để phòng ngự, cố thủ một nơi nào đó được gọi là lô-cốt có xuất xứ từ blockhaus. Ngày nay, chữ lô cốt còn được dùng chỉ những nơi đào đường, thường được rào chắn, vây kín mặt đường, cản trở lưu thông.
Xưa kia cảnh sát được gọi qua nhiều tên: mã-tà (xuất xứ từ tiếng Pháp matraque, có nghĩa là dùi cui), sen đầm (gendarme), phú-lít (police), ông cò (commissaire)… Lực lượng thuế quan được gọi là đoan (douane), lính đoan còn có nhiệm vụ đi bắt rượu lậu là một mặt hàng quốc cấm thời Pháp thuộc.
Nông phẩm thì có đậu cô-ve (còn gọi tắt là đậu ve – haricot vert), đậu pơ-tí-poa (đậu Hòa Lan có hột tròn màu xanh – petits-pois), bắp sú (bắp cải – chou), súp-lơ (bông cải – chou-fleur), xà lách (salade), cải xoong (còn gọi là xà lách xoong cresson), cà-rốt (carotte), ác-ti-sô (artichaut)…
Tiếng Tây cũng đi vào âm nhạc. Từ điệu valse, tango… đến đàn piano (dương cầm), violon (vĩ cầm), kèn harmonica (khẩu cầm)… Ở các đăng-xinh (khiêu vũ trường – dancing) luôn có ọc-két (ban nhạc- orchestre) chơi nhạc và xuất hiện một nghề mới gọi là ca-ve (gái nhẩy – cavalière). Ngày nay người ta dùng từ ngữ ca-ve với ý chỉ tất cả những cô gái làm tiền, khác hẳn với ý nghĩa nguyên thủy của nó. Người phương Tây dùng nhiều sữa và các sản phẩm của sữa nên đã đưa vào ngôn ngữ tiếng Việt những từ ngữ như bơ (beurre), pho-mát (fromage), kem (crème)… Nổi tiếng ở Sài Gòn có hai nhãn hiệu sữa Ông Thọ (Longevity) và Con Chim (Nestlé) như đã nói ở phần trên.
Có người cắc cớ thắc mắc, đàn ông mà lại là ông già thì làm sao có sữa? Xin thưa, hình tượng “Ông Thọ chống gậy” trên hộp sữa chỉ muốn nói lên tuổi thọ (longévité) của người dùng sữa. Trường hợp của Nestlé cũng vậy. Con Chim thì làm gì có sữa? Thực ra thì logo của Nestlé là một tổ chim (gồm chim mẹ và 2 chim con) nhưng người Việt mình cứ gọi là sữa Con Chim cho tiện. Cũng vì thế mới có nhiều câu chuyện khôi hài về sữa Con Chim. Chú Ba Tàu, chủ tiệm “chạp phô”, giải thích vì sao sữa Con Chim lại bán với giá mắc hơn những sữa khác: “Sữa con bò vì có nhiều vú nên rẻ, sữa mẹ chỉ có 2 vú nên đắt nhưng Con Chim nhỏ chút xíu, vắt được 1 lon sữa là quý lắm thì phải mắc tiền nhất chớ!”. Các ông lại giải thích khi các bà thắc mắc Con Chim làm gì có sữa: “Tại mấy bà không để ý đấy thôi, con chim khi hứng chí cũng tiết ra một thứ sữa màu trắng đục, đó không phải là sữa thì là gì?”.
Thế mạnh của Nestlé là các sản phẩm sữa bò khác như Núi Trắng (Lait Mont-Blanc) và sữa bột Guigoz. Ngày xưa, những gia đình trung lưu đều nuôi con bằng sữa bột Guigoz. Tôi vẫn còn nhớ cảm giác khi ăn vụng một thìa Guigoz của em út: vừa bùi, vừa béo, những hạt sữa nhỏ ly ty như tan ngay trong miệng. Guigoz được chứa trong một cái lon bằng nhôm, cao 15cm, có sọc ngang, bên trong lại có sẵn thìa để giúp người pha dễ sử dụng. Khi dùng hết bột, các bà nội trợ không vứt lon như những loại sữa khác vì lon Guigoz có nắp đậy rất kín nên được “tái sử dụng” trong việc đựng đường, muối, tiêu, bột ngọt…
Những người thiết kế lon Guigoz chắc hẳn chưa bao giờ nghĩ cái lon lại có nhiều công dụng sau khi sữa bột ở bên trong đã dùng hết. Lon Guigoz lại còn theo chân những tù nhân cải tạo như một vật “bất ly thân”. Những người “tưởng đi học có 10 ngày” mang theo lon Guigoz để đựng các vật dụng linh tinh như bàn chải, kem đánh răng, vài loại thuốc cảm cúm, nhức đầu để phòng khi cần đến.
Lon Guigoz thường được chúng tôi gọi tắt là “lon gô”. Học tập càng lâu lon gô càng tỏ ra “đa năng, đa hiệu”. Muốn múc nước từ giếng lên thì dùng gô làm gàu, buổi sáng thức dậy dùng gô làm ly đựng nước súc miệng, nhưng gô còn tỏ ra đặc biệt hữu ích khi dùng như một cái nồi để nấu nước, thổi cơm, luộc măng (lấy ở trên rừng), luộc rau, luộc khoai mỳ (“chôm chỉa” khi đi “tăng gia sản xuất”)… nghĩa là làm được tất cả mọi công việc bếp núc.
Chúng tôi ở trong một căn cứ cũ của Sư đoàn 25 tại Trảng Lớn (Tây Ninh) nên có cái may là còn rất nhiều vỏ đạn 105 ly. Người cải tạo săn nhặt những vỏ đạn về và chế thành một cái lò “dã chiến” và lon gô để vào trong lò vừa khít, tưởng như 2 nhà thiết kế vỏ đạn và lon gô đã ăn ý với nhau “từng centimét” ngay từ khâu thiết kế ban đầu! Ai chưa có lon gô thì nhắn gia đình tìm để đựng đồ ăn mỗi khi được vào trại “thăm nuôi”. Sau 30/4/75 lon gô trở nên hữu dụng vì công nhân, sinh viên, học sinh dùng lon gô để đựng cơm và thức ăn cho bữa trưa. Người Sài Gòn thường đeo một cái túi đựng lon gô khi đi làm, một hình ảnh không thể nào quên của “thời điêu linh” sau 1975.
Tình cờ tôi bắt gặp trang web (http://www.teslogos.com/.html) của Pháp quảng cáo bán lon sữa Guigoz cho những người sưu tầm, giá lên tới 15 euro cho một lon Guigoz xưa, dĩ nhiên là chỉ có lon không, không có sữa! Người Pháp khi đến Việt Nam mang theo cả chiếc ô-tô (xe hơi – auto, automobile). Xe xưa thì khởi động bằng cách quay ma-ni-ven (manivelle) đặt ở đầu xe, sau này tân tiến hơn có bộ phận đề-ma-rơ (khởi động – démarreur). Sau khi đề (demarrer), xe sẽ nổ máy, sốp-phơ (người lái xe – chauffeur) sẽ cầm lấy vô-lăng (bánh lái-volant) để điều khiển xe… Về cơ khí thì người Sài Gòn dùng các từ ngữ như cờ-lê (chìa vặn-clé), mỏ-lết (molete), đinh vít (vis), tuốc-nơ-vít (cái vặn vít- tournevis),công-tơ (thiết bị đồng hồ – compteur), công tắc (cầu dao – contact)…
Bây giờ nói qua chuyện xe đạp cũng có nhiều điều lý thú. Chiếc xe đạp trong ngôn ngữ Việt mượn rất nhiều từ tiếng Pháp. Trước hết, phía trước có guy-đông (thanh tay lái – guidon), dưới chân có pê-đan (bàn đạp- pedale), săm (ruột bánh xe -chambre à air) và phía sau là bọc-ba-ga (để chở hàng hóa- porte-bagages). Chi tiết các bộ phận trong xe đạp cũng… Tây rặc. Có dây sên (dây xích – chaine), có líp (bộ phận của xe đạp gồm hai vành tròn kim loại lồng vào nhau, chỉ quay tự do được theo một chiều – roue libre), rồi phanh (thắng – frein) ở cả bánh trước lẫn bánh sau. Thêm vào đó còn có các bộ phận bảo vệ như gạc-đờ-bu (thanh chắn bùn – garde-boue) và gạc-đờ-sên (thanh che dây xích – garde-chaine).
Mỗi chiếc xe đạp xưa còn trang bị một ống bơm (pompe) để phòng khi lốp xe xuống hơi. Bên cạnh đó người ta gắn một chiếc đy-na-mô (dynamo – bộ phận phát điện làm sáng đèn để đi vào ban đêm). Tôi còn nhớ khi tháo tung một cái dynamo cũ thấy có một cục man châm gắn vào một trục để khi trục quay sẽ sinh ra điện.
Hồi xửa hồi xưa, đi xe đạp không đèn vào ban đêm rất dễ bị phú-lít thổi phạt nên nếu xe không đèn, người lái phải cầm bó nhang thay đèn! Sài Gòn xưa có các nhãn hiệu xe đạp mổi tiếng như Peugoet, Mercier, Marila, Follis, Sterling… Đó là những chiếc xe đã tạo nên nền “văn minh xe đạp” của những thế hệ trước và một nền “văn hóa xe đạp” còn lưu lại trong ngôn ngữ tiếng Việt của người Sài Gòn xưa.
(Sưu tầm)

Ký ức xe đạp một thời gian khó

Written By Hồ Nguyên Đức on 07/03/2014 | 09:26

Mấy chục năm trước, chiếc xe đạp trị giá cả cây vàng, được cấp giấy chứng nhận sở hữu, có biển số và được giữ gìn như vật báu trong nhà.
16.jpg
Cũng như cầu Long Biên (Hà Nội) chứng kiến bao thăng trầm lịch sử, xe đạp là phương tiện gợi nhắc người Việt ký ức về những năm chiến tranh ác liệt và gắn với một thời bao cấp khó khăn. Xe đạp là phương tiện lưu thông chính trên đường phố thời bấy giờ.
b.jpg
Chiếc xe là tài sản mơ ước của nhiều gia đình. Xe các hãng nước ngoài như Peugeot, Aviac hay Mercie... giá bằng cả cây vàng. Vì thế, những chiếc xe đạp còn có giấy chứng nhận sở hữu, không khác gì đăng ký xe máy hay ôtô hiện nay.
Chiếc xe đạp được khóa cẩn thận trước cửa rạp chiếu phim. Trong nhà, xe đạp được để ở vị trí trang trọng, có gia đình còn đặt nó trên một cái giá đỡ bằng gỗ chứ nhất định không để bệt xuống đất, xe không có một hạt bụi. "Mua một chiếc xe đạp Phượng Hoàng có giá 220 đồng, xe Favorit có giá 1.000 đồng, bằng 2 năm tiền lương công chức", ông Trịnh Kim Thắng (60 tuổi) nhớ lại ký ức một thời khốn khó. Bản thân ông phải chờ 10 năm, nhờ danh hiệu cán bộ tiên tiến mới mua được một chiếc xe đạp Phượng Hoàng.
Chiếc xe Thống Nhất (Việt Nam sản xuất) được khóa cẩn thận trước cửa rạp chiếu phim. Trong nhà, xe đạp được để ở vị trí trang trọng, có gia đình còn đặt nó trên một cái giá đỡ bằng gỗ. Nhiều người phải dành dụm vài năm mới mua được một chiếc xe.
1_1394020978.jpg
Xe có số khung và được đăng ký, cấp biển số.
Những góc phố, ngã tư Hà Nội gắn liền với bao thăng trầm của thời gian. Đường Hoàng Diệu rộng thênh thang với những bóng cây cổ thụ tỏa mát, người dân thong dong đạp xe trên phố.
11.jpg
Khu vực ngã tư Tràng Tiền - Hàng Bài chưa có đèn xanh đèn đỏ. Lực lượng công an trực tiếp tham gia điều hành giao thông.
19.jpg
Hồ Gươm với Tháp Rùa, cầu Thê Húc, đền Ngọc Sơn soi bóng. Dù bận rộn lao động, người Hà Nội vẫn không thể quên thú vui dạo chơi quanh hồ Gươm bằng xe đạp mỗi khi rảnh rỗi.
17.jpg
Những lúc tắc đường, chen chúc, người dân phải vác xe Thống Nhất lên vai. Có câu chuyện truyền tai rằng nếu trời đổ mưa, đố ai tìm được một chiếc Peugeot ngoài đường vì người ta sợ xe bị rỉ sét và nhanh hỏng.
29.jpg
Những nữ sinh trong tà áo dài giờ tan trường. Nhiều người nhận xét con gái thời xưa đi xe đạp bao giờ cũng khép chân, đầu gối gần sát vào khung xe, đầu ngón chân đặt trên bàn đạp, không khuỳnh tay dạng chân, không phóng nhanh. Người ngồi sau không đặt tay vào đùi hoặc bụng người đằng trước vì cho là không đứng đắn.
10.jpg
'Một yêu anh có Sen-kô (đồng hồ đeo tay hiệu Seiko) / Hai yêu anh có Pơ - giô cá vàng (xe đạp Peugeot màu cá vàng) / Ba yêu anh có téc gang (quần vải téc) / Bốn yêu hộ tịch rõ ràng Thủ đô'. Xe đạp trở thành một trong những tiêu chí chọn chồng của các cô gái thời đó. Những thanh niên mới lớn coi xe đạp là thứ đồ hàng hiệu, việc được ngồi sau cũng là một niềm hãnh diện lớn.
22.jpg
Đám cưới thời bao cấp có mốt rước dâu bằng xe đạp.
8_1394017695.jpg
Tập đi xe đạp là ký ức tuổi thơ khó quên của nhiều người. Những đứa trẻ nhỏ thó, chân còn ngắn nên không ngồi hẳn lên yên được mà cứ nhấp nhổm theo những vòng quay của bánh xe. Thậm chí, các em còn phải vẹo hẳn lưng sang một bên để đạp xe nhưng vẫn hăng say tập. 

13.jpg
Những năm chiến tranh, Hà Nội, Hải Phòng và một số tỉnh miền Bắc phải chịu tổn thất nặng nề của bom đạn bắn phá. Người dân phải di tản về các vùng nông thôn, tài sản lớn nhất mà nhiều gia đình còn giữ là chiếc xe đạp.
25_1394026635.jpg
Chiếc xe đạp thồ được gọi là ngựa sắt chiến trường. Nhiều đội quân xe đạp thồ được thành lập, vượt mưa bom bão đạn đem gạo, muối, thuốc men... ra tiền tuyến, góp phần không nhỏ vào chiến thắng của dân tộc. Những tên tuổi được nhắc đến nhiều nhất như kiện tướng xe đạp thồ Cao Văn Tỵ chuyển 320 kg hàng mỗi chuyến, Ma Văn Thắng chở được 352 kg hàng.
27.jpg
Anh thương binh cùng đồng đội đi dạo phố. Trong chiến tranh, câu chuyện gắn với chiếc xe đạp được các cựu binh kể cho nhau nghe nhiều nhất là về liệt sĩ Lang Sỹ Thủy. Anh bị đạn súng máy của địch bắn gãy cánh tay phải, được đưa về hậu phương điều trị, sau đó mượn chiếc xe đạp Thống Nhất của chị gái đạp hơn 600 km từ Thanh Hóa vào Quảng Trị chiến đấu tiếp. Anh hy sinh chỉ 4 ngày trước khi Hiệp định Paris có hiệu lực. Chiếc xe đạp hiện nay còn được trưng bày tại Bảo tàng Quân sự Việt Nam.
28_1394019815.jpg
Những ánh mắt ngây thơ mở to sau giá ngồi theo mẹ đi làm, đi sơ tán trong chiến tranh. Tuổi thơ cứ thế lớn lên theo những vòng quay đều đều của bánh xe. Bức ảnh được nhiếp ảnh gia người Đức Thomas Bill Hardt ghi lại.
5_1394017969.jpg
Khi xe đạp là tài sản lớn thì bơm, vá xe đạp trở thành một nghề kiếm ra tiền.
6_1394018348.jpg
Những chiếc bơm tay hầu như không còn xuất hiện trên đường phố Hà Nội ngày nay.
26.jpg
Một cửa hàng sửa chữa xe đạp ở phố Hai Bà Trưng với tấm biển đơn giản và cách quảng cáo phổ biến là treo những chiếc lốp xe ngoài cửa.
3.jpg
Xe đạp trở thành phương tiện vận chuyển hàng hóa trên những con phố Hà Nội. Những chiếc sọt đầy hàng luôn được buộc chắc chắn phía sau và hai bên xe.
20_1394021116.jpg
Đạp xe dạo chơi gần khu vực lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.
9_1394018006.jpg
Nụ cười trong trẻo của một em bé Hà Nội xưa.
24_1394026172.jpg
Cả gia đình bốn người chở nhau trên xe đạp.
c_1394021248.jpg
Qua thời gian, con người phát minh nhiều phương tiện hiện đại hơn phục vụ cuộc sống. Xe đạp không còn giữ được vị trí độc tôn trên bản đồ giao thông nữa. Nhưng những kỷ niệm gợi nhắc về một thời gian khổ vẫn còn đọng lại trong ký ức nhiều thế hệ người Việt Nam.
Theo Vnexpress: Hoàng Phương
Ảnh tư liệu

Những kỷ vật một thời

Written By Hồ Nguyên Đức on 03/02/2014 | 21:03

 
 Non nửa thế kỷ sau chiến tranh, những vật dụng gắn với đời sống trong thời bom đạn, rồi cùng ta đi qua những tháng ngày bao cấp đã dần tuyệt chủng. Nếu còn chăng, chỉ trong những bộ sưu tập của giới chơi kỷ vật chiến tranh, hay lẻ tẻ trong góc tủ những người ưa hoài niệm.
Lon Guigoz
Nhà văn Đồng Sa Băng quê gốc Quảng Ngãi. Ông viết ít. Những truyện ngắn của ông không thật sắc sảo cá tính, nhưng đầy hồn hậu và nhân cảm về thân phận người bình dân nhập cư Sài Gòn giữa thời loạn lạc.

Những kỷ vật một thời. 

Ông có truyện ngắn Lon Ghi-gô kể về bi kịch của hai cha con nghèo miền Trung vào Sài Gòn làm thuê kiếm sống trong những năm tháng chiến tranh tàn khốc. Một hôm, tai họa đến với họ: người cha bị tai nạn phải nằm viện; Du, cậu con trai nhỏ đã phải tìm cách xoay sở kiếm tiền nuôi cha nằm bịnh. Chỉ với “vốn liếng” là một chiếc lon Ghi-gô trong tay, cái khó ló cái khôn, cậu bé nhanh trí nghĩ ra cách dùng nó nấu nước sôi ở hành lang nhà thương để chào bán cho những thân nhân đi nuôi bệnh. Truyện ngắn kết thúc như một tiếng thở dài, khi đứa trẻ không đủ tiền mua vé máy bay theo cha về quê, nó đánh rơi cái lon Ghi-gô trống, hắt hiu nhìn cha mình đi vào cõi chết.

Lon Ghi-gô, có người gọi là lon gô, hay có nơi đọc trại đi, là mi-gô, bi-gô... cũng đã gắn bó nặng tình nặng nghĩa với đời sống người bình dân, kẻ sa cơ thất thế trước, và chừng chục năm sau chiến tranh cũng theo cái nghĩa “xoay sở” đó.
Người thiết kế ra chiếc lon thon dài, có những đường viền nổi, có nắp đậy kín là ai, không ai biết. Nhưng chắc rằng, khi sáng tạo ra loại lon đặc biệt này cho nhãn sữa Guigoz, ông (bà) ta cũng không thể ngờ được rằng, nó hữu dụng, đa năng đến như vậy với người dân ở một thị trường xa xôi đang đắm chìm trong khói lửa thời chiến tranh và giai đoạn tái thiết hậu chiến đến vậy.
Nghe kể, trước 1975 tại Sài Gòn, những đứa trẻ xuất thân từ những gia đình trung lưu đều có may mắn thụ hưởng nguồn dinh dưỡng từ một loại sữa bột mang họ của một gia đình sống tận bên Thụy Sỹ. Nhưng giới bình dân, người nghèo khó tỉnh lẻ như cậu bé Du trong truyện ngắn trên, lại cũng được hưởng sái những chiếc lon tốt để sử dụng trong công việc hàng ngày như: đựng thức ăn, gia vị, cau trầu, tiền bạc, thậm chí, có thể nấu nướng vô tư thay cho chiếc soong nhỏ.
Trong một bức ảnh tư liệu chụp quán cháo lòng lề đường Sài Gòn trước 1976 mà chúng tôi tìm được, có thể thấy trên bàn của chị chủ hàng, có hai chiếc lon Ghi-gô đựng đũa, muỗng trông rất vệ sinh. Hẳn là vệ sinh hơn các ống đũa bằng nhựa sản xuất hàng loạt mà ta vẫn thấy ở những quán sá vỉa hè nhếch nhác vừa bán vừa canh công an giải tỏa thời buổi này. Nếu sữa Ghi-gô thì chỉ dành cho con cái những nhà có tiền thì cái lon nhôm lại đạt tới sự đại đồng rất sớm, nó không câu nệ người dùng và không hạn chế sự sáng tạo trong cách dùng.
Trong hồi ký của những người đi cải tạo sau 1975, có thể thấy nói nhiều đến cái lon Ghi-gô. Trong hoàn cảnh thiếu thốn và khắc nghiệt, chiếc lon Ghi-gô sống với người tù như vật bất ly thân, đơn giản vì gọn nhẹ dễ xoay sở (lại “xoay sở”), sử dụng được cho nhiều việc, từ đựng bàn chải đánh răng, thuốc men, cho đến thay ca múc nước, thay nồi nấu cơm, luộc rau, khoai, mì... Lúc đó, bên ngoài xã hội đang nhá nhem bao cấp, những vùng khó khăn, chiếc lon Ghi-gô cũng kiêm nhiệm những việc đó. Chiếc lon ghi-gô theo những gia đình xê dịch, li tán để rồi tiếp tục trở thành vật bất ly thân của họ trong hoàn cảnh thiếu thốn trăm bề.

Lon Guigoz. 

Chiếc lon nhôm gầy có nắp đậy kín xuất hiện khắp nơi, từ hàng nước bà già quê dùng đựng mớ tiền bạc lẻ cho đến chạn bếp bảo quản mấy tán đường cho đỡ ruồi, kiến. Nhà khó khăn quá, con cái bệnh tật, dùng cái lon nhôm mỏng đó mà nấu miếng cháo muối thiệt gọn gàng. Mấy ông già ghiền thuốc rê kỹ tính còn dùng cái lon Ghi-gô để đựng nào giấy vấn, nào lá thuốc nào bật lửa, khư khư trong tủ, có khách quý, ngày lễ tết mới dọn ra bàn rồi cẩn thận mở nắp như cướp biển khoe kho báu. Cái lon Ghi-gô cũng từng giúp mấy gia đình địa chủ, khá giả giấu vàng bạc tiền của một cách an toàn trong thời kỳ “đánh tư sản”, “vô sản hóa bằng mọi giá”.

Chuyện cũ qua rồi. Sức sống của một đồ vật là tại ở công năng của nó và một phần ở sự thói quen, ký ức gắn bó của người sử dụng. Có lẽ vì cũng quá đa năng, đa dụng mà những chiếc lon nhôm đã cùng chúng ta kinh qua lửa đạn cuộc chiến, cùng lăn tăn trôi nổi với ta trong những ngày khốn khó đầu hòa bình đã trở thành thứ đồng nát toàn diện chỉ có thể gom đổi cà rem trong thời buổi trẻ con còn thiếu thốn quà vặt.
Và như thế, anh bạn mang cái gốc gác Thụy Sỹ đã vẫy chào ta vĩnh viễn trong thời đầu đổi mới, thời hàng nhựa tái chế lên ngôi.
Sữa Guigoz vẫn được nhập sang Việt Nam cho tới hôm nay, nhưng không nổi danh như trào cũ.
Còn nhớ, có ông già ở làng quê nọ trước khi tắt thở, chẳng trối trăng gì, chỉ dặn con cái nhớ cho cha mang theo chiếc lon Ghi-gô mới nhất còn lại trong nhà. Một chiếc lon Ghi-gô quen thuộc và đa dụng chắc sẽ giúp người ta yên tâm hơn trong một hành trình đi từ thế giới này sang thế giới khác, mà nào ai chắc đích đến là đâu.
Ca inox US
Chiếc ca làm theo khối hình ô van được nắn lỏm một bên, xét về đặc điểm tạo hình, phải nói là không lẫn vào đâu. Và muốn xác minh là “con nhà nòi” bước ra từ máu lửa chiến trường, cần nhận diện thêm, trên chiếc đai sắt của ca có in dập chữ US W.C.W rất sắc nét. Cái đai sắt vuông được thiết kế khớp vào chỗ lượn của hình khối tạo ra thế kềm chắc chắn, rất tiện cho lính tráng đeo lên mình như một vật bất ly thân trong những cuộc chinh chiến dài ngày.


Ca inox US. 

Sau chiến tranh, dấu tích chiến trường có khi còn hằn lên trên bề mặt những chiếc ca US được Mỹ sản xuất và đưa vào chiến trường trong giai đoạn khoảng 1964-1975. Đó là những vết khắc bằng mũi dao lên đáy ca tên một cô Linda, Sophia hay Anna nào đó mà chủ nhân cái ca mang theo hình bóng đi vào khói lửa chiến trường, có khi là một đường “sẹo” do va đập mạnh trên đường hành quân, cũng có khi là một câu chửi F*** bâng quơ khắc vụng vào ánh thép. Tất cả xuất phát từ tâm trạng tham chiến, tâm lý ức chế về sự vô nghĩa của cuộc chiến. Tất cả những thông điệp hằn lên chiếc ca sắt đó lại được vô tình gửi tới tương lai, vào tay những chủ nhân xa lạ chỉ quan tâm tới chức năng sử dụng, ngoài ra, đã quá mệt mỏi để tái hiện hay suy diễn những tình huống chiến tranh. Những cái ca US đường hoàng đi vào đời sống người dân Việt Nam như chưa hề bị phân biệt là vật dụng của bên này hay bên kia chiến tuyến.


Xét về độ bền và khả năng kinh qua phong trần thì các loại ca, bình inox hiện đại sau này phải gọi ca US bằng sư cụ.
Thời bao cấp, chiếc ca US quen thuộc với những gia đình người dân miền Trung, miền Nam, đặc biệt những vùng ngày trước từng hứng chịu chiến sự khốc liệt. Thời chưa có nước đá, ở mấy vùng quê, người ta cho nước giếng vào ca US đựng một lúc, có cảm giác nước mát hơn, có vị ngọt hơn. Và cũng nhờ chất liệu inox giữ nhiệt tốt, nên mấy bà già quê vẫn dùng ca US để đựng nước chè xanh, lâu ngày bợn chè quánh vàng đáy ca, vậy mà chỉ cần mang ra chà rửa lại một nước là sáng bóng như mới.
Bây giờ, khi phong trào sưu tầm kỷ vật thời chiến và bắt chước lối sống bụi bờ của lính tráng đang lên trong giới trẻ mê phượt ở đô thị, thì mấy ông Trung Quốc xứng danh là bậc thầy hàng chế khi đã luộc, nhái những sản phẩm ca US thời chiến tranh Việt Nam để tung ra thị trường. Nhưng dân nhà nghề trên mạng bảo nhau rằng, ngó qua nước màu, nhìn độ sắc sảo của chữ in, cái vẻ ngụy quân tử của mấy thằng bã khựa lộ ra ngay.
Với dân sành chơi, anh hùng đoán giữa trần ai mới già.
Bình toong, mũ cối và nón sắt
Mới đây, trên mạng kienthuc.net.vn có đăng loạt ảnh chủ đề “Lính Mỹ lỉnh kỉnh quân trang trong chiến tranh Việt Nam”. Trong 18 bức thì cường độ xuất hiện cao nhất là... súng. Dĩ nhiên. Và tiếp theo là những chiếc bình toong (bidon US Irro) và mũ cối mà người lính mang theo trong chiến trường khắc nghiệt.

Bình toong U.S 1969 

Bình toong đựng nước uống được người Mỹ mang qua Việt Nam cơ bản có hai loại. Một, bằng nhựa tốt, nhẹ, có màu xanh ôliu và một, bằng inox trắng. Bình được thiết kế dáng mềm mại, có bao, đai đeo. Loại bình inox phần lưng cũng hơi móp như ca US, có một viền nổi trên thân bình, phần cổ bình có khoen cài một sợi xích nhỏ nối với nắp, trông chắc chắn. Loại bình này, cũng như số phận của ca US, được tận dụng trong những ngày tháng đầu hòa bình. Có thể thấy nó đồng hành với người dân nhiều nơi trên dải đất chữ S. Nó theo mấy bác nông dân ra đồng, theo bác đưa thư đi rong ruỗi khắp nơi đến một lúc, ngược trở lại vào quân đội chính quy và khoác áo chiến lợi phẩm... Thậm chí, ở vài vùng quê khó khăn trong thời bao cấp, có khi học trò cấp một cũng phải mang bình toong nước lủng lẳng trên đường đến trường xa xôi.

Dạo gần đây, bình toong lính Mỹ một thời trở thành món trang sức được ưa chuộng của những tay chơi xe cổ. Diện đồ lính, quần rằn ri lủng gối, đội nón cối, cưỡi chiếc Honda 67, móc lủng lẳng bên hông một chiếc bình toong vừa đấu giá được trên mạng... vậy là đủ sức “lên màu hầm hố”. Khi đô thị đang ướp con người ta thơm tho trong sự chật chội và khuôn khổ, thì việc trình diễn chút phong trần lơ láo đôi khi cũng giải quyết được phần nào cái ẩn ức bị đè nén, vùng lên giành quyền được phá phách bụi bặm chút đỉnh.
Cái bình toong của mấy tay chơi giả cầy này như râu của ông diễn viên, không biết đâu là thật đâu là giả, có khi chỉ dùng cho mục đích trình diễn không chừng. Đa phần thì... không có đựng nước.
Một thứ vật dụng khác rất quen thuộc là chiếc nón cối của lính Mỹ làm bằng một loại bố, màu xanh cũng được những tay trình diễn đường phố ưa sử dụng thay cho nón bảo hiểm. Mặc dù, qua thời gian, quai đeo “gin” bên trong của những chiếc nón cối này cũng đã hỏng, thường cải thiện bằng hàng độ.
Bây giờ, thứ nón này rất quý, có cái mới toanh thấy rao bán trên mạng đến gần 3 triệu đồng, chứ vào thời hợp tác xã tăng gia sản xuất ở thôn quê, nhiều vô kể. Thời hợp tác xã, những chiếc nón cối Mỹ có độ trủng sâu, được bà con mình tận dụng làm gàu múc nước giếng, tát nước mương. Phải công nhận là thứ vải dù nón cối rất bền. Chúng từng được đem vào chiến trường để bảo vệ cho những cái đầu đa phần bấn loạn mệt mỏi, và khi cuộc chiến kết thúc, chúng là vật dụng để đựng một vốc nước sạch cho những con người bị đày ải bởi chiến tranh lâu năm có dịp nhìn lại chân dung mình được phản chiếu sóng sánh, vẹo vọ, méo mó ra sao. Mặt người chắc chi còn ra cái mặt người.
Lại nhớ, có một bài hát dành tặng lính miền Nam tử trận, có chi tiết rất đắt: vào mùa mưa, con ễnh ương đã trú ngụ trong chiếc nón sắt để gọi tên người đã khuất.
Zippo & sự vô tri
Nhiều, nhiều lắm những vật dụng trong thời chiến mà tới hôm nay vẫn còn xuất hiện, hay đồng hiện trong đời sống chúng ta, sau gần nửa thế kỷ hòa bình. Từ cái ca US, chiếc nón cối hay bình toong, thường được làm ra cho chiến trường, nên bản thân mỗi vật dụng đã sẵn tính đa năng. Và đương nhiên, tính đa năng đó có ích trong mọi hoàn cảnh.


Có những món đồ khác có thể kể ra đây: như chiếc mâm nhôm, nhẫn mỹ US. Army, mùng mền dù, thẻ bài hay một vật dụng quá phổ biến như quẹt Zippo, xin phép không được nhắc đến trong bài viết này. Nhiều người mê tiếng cò đánh “tíc” của chiếc quẹt Zippo mà không cho phép ai được luận về nó ở góc độ hiện tượng luận. Có người đã công khai nâng chiếc bật lửa này lên hàng siêu hình học về cuộc chiến. Và xét về tính khoa học, đã có hàng chục công trình trong ngoài nước nói về nó, đó là chưa kể hết những diễn đàn trao đổi nảy lửa về cái vật dụng gần như biểu trưng văn hóa một từ một cuộc chiến khiến người viết hậu sinh như tôi khôn hồn thì phải tính đường chuồn sớm.

Điều đáng nói là, trong lịch sử chiến tranh Việt Nam hàng ngàn năm nay, mỗi khi kết thúc một triều đại, một chế độ chính trị, thường xảy ra không ít cảnh tàn sát nợ máu, quật mồ cuốc mã, san lấp lăng tẩm chùa chiền để xóa đi những di chỉ của hào quang quyền lực đối kháng.
Nhưng, chẳng ai bận tâm đi dập tắt thứ ký ức của cộng đồng dưới dạng thức phân mảnh được ghi lại qua những đồ vật vô tri. Chúng trôi nổi trong dân gian và kể với ngày sau từng câu chuyện khốc liệt về cuộc chiến, về một lai lịch, tiểu sử nào đó trong quá vãng, kể cả những điều không còn ai muốn nhớ.
Làm những vật dụng vô tri đầy thương tích mà trôi dạt xuyên thời, đôi khi còn lưu giữ, lay động ký ức cộng đồng chân thực hơn nghìn trùng trang sử dối.
Nguyễn Vĩnh Nguyên/ motthegioi.vn

Việt Nam năm 1989 qua ống kính nhiếp ảnh gia Mỹ

Written By kuxh on 28/07/2013 | 21:32

David Alan Harvey - người Mỹ, thành viên của tổ chức nhiếp ảnh quốc tế nổi tiếng Magnum - chụp những bức ảnh màu này trong một lần đến thăm Việt Nam.
viet-nam-1989-1372062986_500x0.jpg
Hà Nội chụp từ trên cao với hồ Hoàn Kiếm nằm ở phía trên, bên phải.
viet-nam-1989-2-1372062987_500x0.jpg
Sau một ngày làm việc, những người lao động trở về trên cầu Long Biên.
viet-nam-1989-6-1372062987_500x0.jpg
Bò chạy rông phía trước khu tập thể Giảng Võ.
viet-nam-1989-7-1372062987_500x0.jpg
Trang phục mùa đông của em bé Hà Nội.
viet-nam-1989-4-1372062987_500x0.jpg
Hội rước pháo ở Đồng Kỵ, Từ Sơn, Bắc Ninh. 
viet-nam-1989-9-1372063028_500x0.jpg
Cô dâu về nhà chồng.
viet-nam-1989-1-1372063027_500x0.jpg
Trên một cánh đồng ở Hà  Nội.
viet-nam-1989-3-1372063029_500x0.jpg
Những con thuyền tồi tàn của nhiều cư dân xóm vạn đò, Huế.
Redsvn-David-Alan-Harvey-14-1372066014_5
Những người nghiện ma túy tại một trung tâm điều trị ở TP HCM.
viet-nam-1989-2-1372066014_500x0.jpg
Người nông dân tại trại nuôi vịt.
cho-gom-tren-mot-con-kenh-1372066014_500
Thuyền chở gốm trên một con kênh.
viet-nam-1989-8-1372066014_500x0.jpg
Cựu phi công chiến đấu thời chiến và con trai mình.
Vũ Khanh

Hà Nội xưa qua ống kính John Ramsden


web06.jpg
518491b4c3a4a-medium.jpg
518491b884221-medium.jpg
518491bd83a26-medium.jpg
518491be8130a-medium.jpg
1366774017-nv.jpg
film46-35-ed-print-small.jpg
film49-27-ed-print-small.jpg
film67-18ed-print-small.jpg
film68-20a-ed-edited-1-print-small.jpg
filma-11a-ed-print-small.jpg
spiritofplace-new.jpg
 
Support : Creating Website | Johny Template | Mas Template
Copyright © 2011. Bảo tàng Ký ức Xã hội - All Rights Reserved
Template Created by Nhật Nguyên Published by Nhật Nguyên
Proudly powered by Nguyễn Đức Lộc