Tin mới :

Latest Post

Hiển thị các bài đăng có nhãn Đồng Nai. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đồng Nai. Hiển thị tất cả bài đăng

Khách "mượn" trong đám cưới tại Vĩnh Cửu - Đồng Nai (Kỳ cuối)

Written By xuananh on 24/03/2012 | 13:57

“Sạc bia” và người nhà.
Trong đám cưới, có những nhóm khách không thể mời, lúc này, “mượn” là hình thức hợp thức hóa việc tham dự của họ trong một đám cưới. Theo Tí, nếu được “mời” suông tới một đám cưới mà “không đi thiệp” cũng không “mượn”  “sạc bia”  thì “Tí không bao giờ tới[1]. Theo anh, khách mời tham dự đám cưới một cách chính thức với thiệp mời và tiền mừng, khách “mượn” thì làm nhiệm vụ “sạc bia” còn cũng “mời” nhưng không bằng thiệp, giống “mượn” nhưng không phục vụ thức uống thì không có lý do gì để tham dự đám cưới như vậy dù đó có là đám cưới người quen. Như tôi đề cập ở phần trên, “mượn” khách không mang ý nghĩa kinh tế, cũng không phải hình thức đổi chác sòng phẳng công sức với ăn uống mà nó giúp hợp thức hóa một bộ phận khách không thể mời theo quy ước. Theo đó, “sạc bia” và người nhà là hai tư cách tồn tại ở khách “mượn”. Họ xác định mình là anh em bạn bè thậm chí là người nhà của gia chủ nên mới được “mượn” nhưng khi họ đảm nhận vai trò phục vụ nước tại đám cưới thì lại giống như một bồi bàn và khi tiệc tàn, cùng ngồi lại ăn uống với gia chủ thì lại như một gia đình. Nếu là một bồi bàn làm thuê được trả tiền công họ sẽ làm tốt phần phục vụ nước nhưng vì khách “mượn” được sự tin tưởng của gia chủ nên vừa chạy bàn, vừa cùng gia đình quản lý việc phục vụ cho đám cưới.

Khi tôi phỏng vấn ba thông tín viên Tí, Đẹt và anh Ba, họ đều đưa ra phép so sánh giữa việc tham dự đám cưới với tư cách khách mời và khách “mượn”. Đi đến một đám cưới, bước đầu tiên là phải ăn mặc lịch sự, đến và bỏ tiền mừng vào thùng trước cổng vào, đi thẳng đến bàn tiệc, chọn cho mình một chỗ ngồi, ăn uống (nhậu), cô dâu chú rể và ba mẹ họ đến “chào bàn”[2] và chụp ảnh từng bàn rồi khách về – đó là quy trình tham dự một đám cưới của khách mời ở Vĩnh Cửu - Đồng Nai. Cho nên chỉ trừ khi đi đám cưới cùng bạn bè hoặc hàng xóm nếu không bạn có thể ngồi ăn tiệc cùng bàn với những người khách xa lạ. Điều này được cho là không vui, không thoải mái và khách mời kỳ vọng vào điều khác trong các đám cưới. Kỳ vọng đó của họ có thể được đáp ứng nếu họ tham dự đám cưới với vai trò khách “mượn”. Nếu được “mượn”, trước hết họ có thể tham gia bữa cơm gia đình tối trước tiệc mặn bên nhà chú rể, họ đến sớm cùng phụ chuẩn bị với gia chủ, họ phục vụ nước với anh em bạn bè mình quen biết và quan trọng là khi đám cưới hoàn tất, họ cùng gia đình cô dâu chú rể dùng bữa. Thông tín viên của tôi đều cho rằng khi là khách “mượn” họ cảm thấy “tự nhiên hơn, vui hơn và thoải mái hơn”[3] thậm chí xem việc dự đám cưới dưới hình thức này giống như “đi chơi[4]. Sự tự nhiên, vui tươi và thoái mái đó xuất phát từ hai phía. Gia chủ chào đón họ với sự  thân thiện, niềm nở hơn cùng với quan niệm khách “mượn” có thể “ăn mặc bình thường như người nhà”[5] và khách “mượn” hài lòng về không khí ấm cúng cũng như vai trò của bản thân trong sự kiện hệ trọng của gia đình mình quen biết, thân thiết.
“Mượn” khách không mang ý nghĩa kinh tế, cũng không phải hình thức đổi chác sòng phẳng công sức với ăn uống mà nó giúp hợp thức hóa một bộ phận khách không thể mời theo quy ước.” (Hình minh họa – Internet)
Chính vì những trải nghiệm trên mà một khi được “mượn” theo quy ước, khách luôn cố gắng có mặt, nếu vì lý do bất khả kháng phải từ chối lời “mượn” họ thường tiếc nuối và buồn[6] vì không giúp được cho gia đình người quen. Trước, trong và sau đám cưới là cả một quá trình thú vị mà khách “mượn” có được. Đẹt còn vui vẻ chia sẻ rằng, sau những lần phụ đám cưới ở ngoài, đến khi phục vụ nước cho đám cưới của một người em họ hàng, chị đã “gắp đá, đãi nước chuyên nghiệp[7]. Những việc việc bình thường đến nỗi “giờ Mi hỏi mới suy nghĩ”[8] như phục vụ nước cho đám cưới thế này thực sự có ý nghĩa khi nó được cả gia chủ và khách “mượn” đầu tư làm thật tốt, trở thành kỷ niệm và thắt chặt mối quan hệ giữa họ.

KẾT LUẬN
Đám cưới ở vùng quê Vĩnh Cửu, Đồng Nai – nơi mà người ta xem trọng tình làng nghĩa xóm, mối quan hệ anh em bạn bè, việc tồn tại khách “mượn” và vai trò của họ trong đám cưới mang những ý nghĩa đặc trưng. Trong đám cưới, mọi  người hình thành và tuân theo các quy ước liên quan đến mời cưới, vai trò ý nghĩa của các mối quan hệ với việc mời và “mượn” khách. Khách “mượn” vừa là giải pháp cho việc phục vụ thức uống tại đám cưới nhưng chính việc được “mượn” đãi nước cũng là cách hợp thức hóa nhóm khách không thể mời này. Với hai tư cách, vừa là người “sạc bia” vừa như người trong nhà hình thành nên trách nhiệm và những trải nghiệm của khách “mượn” khá đặc trưng và khác với những người khách mời. Kỳ vọng của khách tham dự đám cưới phần nào được thỏa mãn vì họ cảm thấy sự vui tươi, thân thiết trong tư cách khách “mượn”. Tất cả những điều này xác định, khẳng định và thắt chặt thêm mối quan hệ của khách “mượn” với gia chủ - đó là mối quan hệ qua lại thân tình. Tuy dừng lại ở đây nhưng bản thân thấy ngày càng thú vị khi tìm hiểu về đề tài này cũng như tìm ra những nét đặc trưng trong đời sống của quê mình. Tôi phần nào hiểu những điều - mà tôi vốn là một phần trong đó - rất thú vị. 

Mi Thiều

[1] Tí, 22 tuổi, công nhân.
[2] Đến cảm ơn và nâng ly cùng khách chúc mừng đám cưới.
[3] Đẹt, 21 tuổi, công nhân.
[4] Đẹt, 21 tuổi, công nhân.
[5] Anh Ba, 27 tuổi, viên chức Nhà nước.
[6] Đẹt, 21 tuổi, công nhân.
[7] Đẹt, 21 tuổi, công nhân.
[8] Đẹt, 21 tuổi, công nhân.

Khách "mượn" trong đám cưới tại Vĩnh Cửu - Đồng Nai (Kỳ 2)

Written By xuananh on 23/03/2012 | 13:34

Khách “mượn” và những quy ước trong việc “mượn” khách.
Đám cưới tại xã Bình Lợi cũng như trong huyện Vĩnh Cửu – Đồng Nai có hai hình thức: đãi tiệc tại nhà hàng và đặt tiệc đãi tại nhà[1]. Hình thức đặt tiệc đãi tại nhà bao gồm hai loại. Thứ nhất, gia chủ thỏa thuận với bên nhận nấu tiệc để người bên họ phục vụ thức ăn và thức uống cho khách mời trong đám cưới. Lúc này gia chủ sẽ phụ thêm cho họ một khoản chi phí (tùy thích) để bồi dưỡng người đãi nước[2]. Loại thứ hai là nơi nhận nấu tiệc chỉ cung cấp người phục vụ thức ăn, không có người phục vụ nước uống. Trường hợp này, gia chủ phải tự tìm người phục vụ thức uống. Bên cạnh sự hỗ trợ từ họ hàng trong gia đình[3], nếu thiếu người hoặc gia chủ sợ ít người, phục vụ thiếu sót thì họ lựa chọn giải pháp là “mượn” bạn bè, xóm giềng. Khách “mượn”[4] là những người không được mời đám cưới bằng thiệp và đương nhiên họ không mừng cưới bằng tiền[5]. Họ được gia đình gia chủ “mượn” đến phụ đãi nước[6]. Về hình thức, họ đều là khách của đám cưới tuy nhiên, khách mời sẽ đi tiền còn khách “mượn” sẽ hỗ trợ gia chủ bằng công sức phục vụ.
Căn cứ vào nhu cầu cần hỗ trợ của đám cưới mà người chủ trì đám cưới – cha mẹ cô dâu hoặc chú rể sẽ yêu cầu con cháu trong nhà “mượn” bạn bè đến phụ sau khi đã trừ ra số người trong họ hàng có thể phụ đãi nước. Khách “mượn” được liên hệ trực tiếp qua điện thoại.  “Mượn” qua điện thoại là liên hệ chủ yếu đối với dạng khách này. Bên cạnh đó, tối trước hôm đãi tiệc mặn tại nhà chú rể, gia chủ  cũng có làm một bữa cơm gia đình và khách “mượn” cũng được gọi tới dự. Bữa ăn này (thông thường là nhậu) mang ý nghĩa chúc mừng chú rể ngày mai chính thức lập gia đình nhưng cũng mang tính ví von “chia tay thời độc thân”. Thành phần tham gia chủ yếu là bà con họ hàng. Họ ăn uống, nhậu và nói chuyện tới khuya rồi có thể ngủ lại tại nhà gia chủ. Bởi khách “mượn” là người thân quen với một vài thành viên hoặc cả gia đình gia chủ nên thường được mời tham dự buổi tiệc này. Nếu khách “mượn” còn là hàng xóm thì càng không thể thiếu.
“Khách “mượn” là người thân quen với một vài thành viên hoặc cả gia đình gia chủ nên thường được mời tham dự buổi tiệc này.” (Hình minh họa – Internet)
Nhìn bên ngoài khách “mượn” giống như bồi bàn vì việc của những người này là cầm xô đựng nước đá, đồ khui bia đến từng bàn phục vụ thức uống khi khách đến. Những công việc này được gọi là “sạc bia”. Nhưng bên trong, một khi gia chủ chọn “mượn” họ tức là hai bên ngầm hiểu về những công việc cũng như trách nhiệm của nhau. Gia chủ tin tưởng xem họ như người trong gia đình và mong đợi họ không chỉ hỗ trợ việc phục vụ mà còn giúp gia chủ quản lý, tránh hao phí về số lượng thức uống. Bên cạch đó, khách “mượn” cũng mặc định cho mình “nghe mượn là biết việc mình phải làm”[7], phải nhiệt tình và có trách nhiệm. Trong đám cưới năm 2008 mà Đẹt được “mượn”, gia chủ đãi tiệc ở hai nhà khách đặt hai bên lề đường. Mặc dù trời mưa nhưng nhóm khách “mượn”, trong đó có Đẹt vẫn phải chạy qua lại hai bên để phục vụ nước cho khách[8]. Cũng nói thêm, đám cưới ở đây, nếu khách được mời bận việc hoặc xét thấy gia chủ không đủ thân để họ trực tiếp đi thì sẽ nhờ con cháu hoặc người khác đi dự dùm. Trong trường hợp trời mưa cũng vậy, khách mời có thể không trực tiếp tới dự đám cưới nhưng khách “mượn” thì vẫn tiếp tục công việc đãi nước của họ. Không hề có sự ràng buộc về thuê mướn và họ ở lại, làm tròn nhiệm vụ chỉ vì mối quan hệ, tình nghĩa với gia chủ. Điều này không có nghĩa là mối quan hệ chỉ đáp ứng nhu cầu một chiều. “Chuyện mình tới phụ lúc nào cũng dậy (vậy) hết, người ta dìa (về) hết còn anh em trong gia đình ngồi lại với nhau[9] để ăn uống, nhậu và trò chuyện sau đám cưới. Đây có thể gọi là đền đáp lại sự hỗ trợ của khách “mượn’ nhưng cũng mang ý nghĩa một bữa ăn gia đình, khẳng định vị trí của khách “mượn’ đối với gia chủ cũng như thắt chặt tình nghĩa giữa hai bên. Về phía gia chủ, sau khi ước lượng số khách mời họ sẽ đặt số lượng bàn tiệc tương ứng, trong đó, đặt dư ra vài bàn (một đến ba bàn) để cho họ hàng và khách “mượn” ăn uống sau đám cưới. Gia chủ xem đó là việc quan trọng và phải làm thật chu đáo vì khách “mượn” phụ “đãi xong cũng phải cho người ta ăn một bữa cho đàng hoàng[10].
Cả gia chủ và khách “mượn” đều biết rằng, nếu “mượn” người phụ thì gia chủ không phải chi thêm một khoản tiền cho việc thuê người phục vụ. Thế nhưng, ý nghĩa không nằm ở lợi nhuận kinh tế. Ở đây, khách “mượn” đến phụ không công nhưng thay vào đó họ được đãi ăn uống. Tính trong thời điểm hiện tại, một người phục vụ được trả công 80000 đồng/đám cưới so với một bàn tiệc có giá 1.000.000 – 1.100.000 đồng/10 người ăn thì gia chủ sẽ “lỗ”. Cho nên thỏa thuận này mang tính gởi gấm trách nhiệm, sự tin tưởng để khách “mượn” phụ gia đình quán xuyến việc phục vụ trong đám cưới hơn là ý nghĩa kinh tế mà ta dễ ngộ nhận.
Bên cạnh đó, khi tìm hiểu về khách “mượn”, tôi rút ra được những quy ước mà cả gia chủ lẫn khách đều phải tuân theo. Nó giống như một khung mẫu để gia chủ biết khách nào phải mời, khách nào nên “mượn” và khi nào nên vừa mời vừa “mượn” một ai đó. Nó cũng quy định, ai sẽ mời khách mời và ai nhờ khách “mượn”. Đó là cả một sự đúc kết được mọi người trong nghiên cứu của tôi tuân theo, nếu người nào cư xử “lệch” khung này sẽ “rất kỳ”[11], bị “trách mốc”[12] và hậu quả xấu nhất là tổn hại đến quan hệ hai bên. Việc mời và “mượn” theo thông lệ sẽ dễ dàng cho việc “trả”[13] sau này, không mắc nợ. Theo đó, “đám cưới của ai người đó mời[14]. Khách dự đám cưới ai thì người đó phải “trả” lại khi được mời (bất kể là bạn cả anh em khác trong gia đình)[15]. Tức là đối với bạn bè đồng trang lứa của mình, cô dâu, chú rể phải trực tiếp mời, nếu có “mượn” thì cũng chỉ nhờ bưng quả cưới. Cô dâu, chú rể chỉ có thể “mượn” những người quen biết nhỏ tuổi hơn đến phụ đãi nước. Đối với những người quen lớn tuổi hơn thì cô dâu/chú rể sẽ không mời và càng không thể “mượn” người “vai anh mình sạc bia”[16]. Trong trường hợp khách “mượn” là bạn của anh hoặc em của cô dâu, chú rể thì người có quan hệ trực tiếp với khách “mượn” sẽ liên hệ nhờ họ phụ. Còn khách mời thì dù có quen với anh em trong nhà thì cô dâu, chú rể cũng phải là người trực tiếp mời.[17]

                                                                                                                                             Mi Thiều

[1] Ngoài ra một số gia đình cũng mượn sân bãi ở Ủy ban, Nhà văn hóa,.. nếu nhà không có chỗ đãi và không có điều kiện đãi ở nhà hàng. Dạng này cũng được xếp vào hình thức thứ hai.
[2] Có một số nơi nhận nấu đám cưới “chuộng” khách hàng có thể không tính thêm phí phục vụ này để được gia chủ giới thiệu nấu cho những đám tiệc khác.
[3] Chủ yếu là con cháu, anh chị em họ hàng.
[4] Ở đây, riêng từ “mượn” có thể hiểu theo nghĩa nhờ vả.
[5] Tiền mừng cưới luôn được để trong thiệp mời đám cưới, không thiệp đồng nghĩa với việc không cần đi tiền. Vùng này rất hiếm đi đám cưới bằng quà tặng.
[6] Có trường hợp, nam được “mượn” đến để giữ xe cho khách mời.
[7] Tí, 22 tuổi, công nhân.
[8] Đẹt, 21 tuổi, công nhân.
[9] Tí, 22 tuổi, công nhân.
[10] Năm, 51 tuổi, nội trợ.
[11] Đẹt, 21 tuổi, công nhân.
[12] Tí, 22 tuổi, công nhân.
[13] Anh Ba, 27 tuổi, viên chức Nhà nước giải thích chỗ này: mỗi người chỉ cưới một lần, nếu anh A mời bạn của mình là B đến dự đám cưới của anh trai mình là C (có thể), đám cưới của A lại mời B nữa, trong trường hợp anh trai C lại không chơi với B thì sẽ mắc nợ vì có thể người C không được B mời lại trong đám cưới của B. Có vẻ sòng phẳng thế nhưng ý nghĩa được nhấn mạnh ở đây là nếu “lệch” khỏi cái khung thông thường thì người trong cuộc sẽ rơi vào rắc rối.
[14] Anh Ba, 27 tuổi, viên chức Nhà nước.
[15] Đám cưới thì ai nhận tiền mừng người đó trả. Còn đám tang, bạn của ai cúng người đó trả thay vì người gia chủ có người mất.
[16] Tí, 22 tuổi, công nhân.
[17] Ngoài ra cũng có trường hợp ngoại lệ, khi mối quan hệ thân thiết, nhập nhằng hơn, cũng có thể mời hoặc “mượn” khách trên đây đề cập. Những trường hợp đó gia chủ phải khéo léo song song với việc khách mời/ “mượn” cũng phải hiểu ý.


Mộ hợp chất Cầu Xéo (Long Thành – Đồng Nai)

Written By kuxh on 14/11/2011 | 16:46

“Đây là một quần thể kiến trúc mộ hợp chất còn giữ được gần như nguyên vẹn hình hài nguyên thủy và thuộc loại hiếm có trong loại hình di tích kiểu này từng được chúng tôi nghiên cứu ngay trên đất Biên Hòa – Gia Định và ở cả Nam Bộ xưa. Di tích này chứa đựng các di tồn mang dấu ấn chung của dạng mộ hợp chất quý tộc Việt thời Trung và Cận Đại – những đặc trưng chung từng được giới Khảo cổ học phát hiện khi khai quật các ngôi mộ hoàng tộc thời Lê – Nguyễn ở miền Bắc Việt Nam”, PGS.TS Phạm Đức Mạnh – Trưởng đoàn khai quật, chia sẻ.
* Ông có thể cho biết những chi tiết cụ thể nào chứng minh di tích mộ Cầu Xéo là dạng mộ hợp chất quý tộc Nam Bộ?
- PGS.TS Phạm Đức Mạnh: Di tích Cầu Xéo có nhiều chi tiết trang trí, phối trí và kiến trúc mang đặc trưng của kiến trúc mộ quý tộc Nam Bộ; với các trụ cổng hình búp sen (hay “đuốc thiêng”), các chân bàn thờ bia – thờ thổ địa – bình phong kiểu “chân quỳ”, các tượng tròn linh thú chầu bên bàn thờ Thổ Thần, các bức thạch họa trên bình phong tiền – hậu rất sinh động, với hình chim thú và hoa lá đa dạng (long, lân, quy, phụng, nai, cây đa – cây si, vân mây cách điệu…), có cả  di tồn Hán Nôm quý hiếm trên bia, cặp câu đối và thơ phú, với các motype trang trí kiến trúc mộ phần chỉ thấy ở nơi yên nghỉ của các mộ ông, các vị tiền hiền dòng dõi “danh gia” quyền quý của xứ Nam Bộ xưa. Ngoài các biểu tượng “Rồng – thái dương & Phụng – Thái âm” trong “Tứ linh” tượng trưng cho thiên hạ thống nhất thái bình thịnh trị, vạn sự như ý, quang minh và quyền uy, cao quý và cát tường, kỳ thú lân – nghê trong tượng trưng cho Thiếu âm là vật báo hiệu điềm lành hỉ sự, may mắn, trường tồn trong tín ngưỡng dân gian Phương Đông, phổ cập vào thời Nguyễn trên các ấn bạc và ngà, trong kiến trúc trang trí từ cung đình ở bình phong (cung Trường Sanh, lăng Cơ Thánh), lăng Tự Đức, giá treo chuông khánh, bệ đạp chân ngai vua, trên bờ mái, nóc cung điện Thái Hòa, sân chầu Thế Miếu; đến dân gian: tam quan chùa, trụ biểu đình làng, bình phong đình, miếu phủ đệ... Lân – nghê ứng với qui (Thiếu dương) tượng trưng vũ trụ với mái cong vòm trời, bụng phẳng mặt đất biểu hiện trường tồn, thanh cao, thoát tục, cũng có hình tượng trên ấn “Quốc Mẫu chi bảo”, trên Chương Đỉnh thời Minh Mạng, “trên đền đội bia, xuống chùa cõng hạc” chuyển tải các thông điệp văn hóa tri thức và văn hóa tâm linh.
Ngôi mộ cổ bắt đầu được khai quật (Hình chụp lại từ tư liệu của PGS.TS. Phạm Đức Mạnh) - Nguồn: Internet

* So với các lần khai quật mộ hợp chất cổ ở Nam bộ trước đây, di tích mộ hợp chất cổ Cầu Xéo có gì độc đáo, thưa ông?
- Di tích mộ hợp chất cổ Cầu Xéo còn có nhiều điểm rất độc đáo lần đầu tiên được biết đến ở Nam Bộ và ở cả Việt Nam. Ví như, chữ “Hoàng” ở chân bia đá cát ghi dấu phần đầu mộ; áo quan có cặp khoen sắt tròn dùng xỏ dây khi hạ huyệt, minh tinh phủ tấm thiên thêu nhiều hoa cúc, lớp phủ áo quan dầy lá sen, lớp thủy ngân mỏng rắc phần đầu và lớp hạt lạ rắc cuối, chân gác trên gối da đen và bàn chân còn mang hài gấm thêu kim tuyến chỉ vàng… Lớp thủy ngân rắc đầu thi hài mộ Cầu Xéo là độc tố acid tính mạnh và có khả năng được người xưa dùng để diệt khuẩn giống như phát hiện của Hữu Đức ở mộ hợp chất Tân Đồ (Tứ Xuyên) thời Minh còn xác ướp liệm trong 50 áo quần và chèn gối đệm, trong thực quản, mật và bao tử người chết còn chứa tới 390gr thủy ngân. Ngoài ra, còn có không ít điểm lạ khác ở mộ nữ quý tộc Nam Bộ lần đầu tôi được thấy; ví như nấm mồ mộ nữ không bé nhỏ như các mui luyện “mu rùa” (hay “nửa trứng úp”) thường thấy ở Cù Lao Phố (Đồng Nai) hay ở Quận 2, Tp. HCM mà lại bề thế đồ sộ như hình “voi phục” của các ngôi mộ quý ông Nam Bộ từng khảo cứu ở Cù Lao Phố, Cái Bè (Tiền Giang) và trong khuôn viên Đại học Y – Dược Tp.HCM. Cặp tượng phù điêu gắn bên hông bình phong hậu mang motype trang trí không phải hình phượng (như mộ bà Võ Thục Nhân đường Pasteur, Quận 3) mà lại là hình rồng – theo các motype quen thuộc “lưỡng long triều Dương”, “lưỡng long triều Nhật”, “lưỡng long chầu Phúc” của nghệ thuật trang trí cung đình lăng tẩm Nguyễn, còn thấy ở nhiều quần thể mộ táng ở Cù Lao Phố… Cặp tượng linh thú (nghê hay kỳ lân cái) chầu ban thờ Thổ Địa Cầu Xéo phối trí trên bờ bao hướng vào ban thờ bia mộ, chứ không phải các tượng nghê, kỳ lân thường thấy trên bờ bao, bình phong, trụ chữ kim, hay chầu cửa mộ dưới đất ở Cù Lao Phố; mộ Tiền quân thống chế Nguyễn Văn Tồn (Vĩnh Long) hoặc mộ Công hầu Võ Di Nguy (Quận Phú Nhuận, Tp.HCM).
* “Lớp phủ áo quan dầy lá sen có tác dụng giữ xác lâu phân hủy hơn”, ông nghĩ sao về quan điểm này? 
- Việc phủ dầy lá sen trên thi hài người quá cố ở Cầu Xéo là điều chưa từng thấy trong các mộ hợp chất đã khai quật ở Nam Bộ và Việt Nam đã gợi lên nhiều câu hỏi thảo luận của những người mục kích. Có người nghĩ rằng việc đắp lá sen nhằm góp phần “giữ xác” lâu phân hủy như gợi ý của GS.TS Đỗ Tất Lợi, bác sĩ Quan Thế Dân và các nhà dược liệu học khác về tác dụng của lá sen (hà diệp) dùng trong y học cổ truyền Việt Nam từ lâu đời. Có người giải thích theo ý nghĩa tâm linh liên quan đến tín ngưỡng coi là sen có tác dụng “an thần” vỗ về giấc ngũ nghìn thu của người quá cố. Ngoài tác dụng khoa học khả dĩ ấy, chúng tôi liên tưởng đến “liên hoa” trong tám biểu trưng giáo Phật (cùng với xa luân, liên, loa, thiên cái, bảo cái, bảo bình, song ngư) và “bát bửu” có thể hàm chứa ý nghĩa giúp người quá cố hướng đến cõi Tịnh Độ với hạnh phúc an vui vĩnh hằng, chứ không bị cái chết ngắt đoạn như đời “bể khổ” này. Mối liên tưởng về niềm tin siêu hình xa vời cũng còn là giả thiết đẹp về những gì người đang tại thế ước mơ cho người “thác về” vĩnh hằng an nghỉ ?...
* Đoàn khai quật đã xác định được khung tuổi chung của di tích mộ hợp chất cổ Cầu Xéo chưa, thưa ông?
- Mộ hợp chất Cầu Xéo mang nhiều nét đặc trưng của chính loại hình mộ kiểu này ở Nam Bộ (Việt Nam) với đa phần di sản dàn trải trong khung tuổi của hai thế kỷ 18-19. Mẫu quách gỗ sao mộ Cầu Xéo phân tích Carbone 14 tại Trung tâm Hạt nhân Tp. HCM cho kết quả niên đại: 270 ± 40 BP (năm 1680) và khung tuổi chung của di tích này có thể tin cậy vào cuối thế kỷ 17 – đầu thế kỷ 18. Đây cũng là niên đại C14 xưa nhất trong các di tích mộ hợp chất hiện biết ở Nam Bộ, xưa hơn các mộ quý tộc từng khai quật ở Tp.HCM hàng thế kỷ (cụ bà Trần Thị Hiệu ở Xóm Cải, mộ cụ bà đường Nguyễn Tri Phương, Chánh thất Tham tri Bộ Hộ Võ Thục Nhân đường Pasteur, mộ Huỳnh Công Lý ở Vườn Chuối…).
* Xin cám ơn và chúc ông dồi dào sức khỏe.
(1)  Đoàn công tác gồm: PGS.TS Phạm Đức Mạnh (Trường ĐHKHXH&NV-ĐHQG-HCM, Trưởng đoàn), ThS Nguyễn Hồng Ân (Sở VH, TT & DL Đồng Nai) cùng các ông bà: Phan Thị Thịnh, Nguyễn Đăng Thắng, Nguyễn Trí Nghị (Trung tâm Bảo tồn Di tích & Danh thắng tỉnh Đồng Nai), Quách Thị Ngọc Hương (Phòng Văn hóa & Thông tin huyện Long Thành), Đỗ Đình Truật, Nguyễn Chiến Thắng (Tp. HCM).
Đ.L thực hiện
 
Support : Creating Website | Johny Template | Mas Template
Copyright © 2011. Bảo tàng Ký ức Xã hội - All Rights Reserved
Template Created by Nhật Nguyên Published by Nhật Nguyên
Proudly powered by Nguyễn Đức Lộc