Tin mới :

Latest Post

Hiển thị các bài đăng có nhãn đám cưới. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn đám cưới. Hiển thị tất cả bài đăng

Khách "mượn" trong đám cưới tại Vĩnh Cửu - Đồng Nai (Kỳ cuối)

Written By xuananh on 24/03/2012 | 13:57

“Sạc bia” và người nhà.
Trong đám cưới, có những nhóm khách không thể mời, lúc này, “mượn” là hình thức hợp thức hóa việc tham dự của họ trong một đám cưới. Theo Tí, nếu được “mời” suông tới một đám cưới mà “không đi thiệp” cũng không “mượn”  “sạc bia”  thì “Tí không bao giờ tới[1]. Theo anh, khách mời tham dự đám cưới một cách chính thức với thiệp mời và tiền mừng, khách “mượn” thì làm nhiệm vụ “sạc bia” còn cũng “mời” nhưng không bằng thiệp, giống “mượn” nhưng không phục vụ thức uống thì không có lý do gì để tham dự đám cưới như vậy dù đó có là đám cưới người quen. Như tôi đề cập ở phần trên, “mượn” khách không mang ý nghĩa kinh tế, cũng không phải hình thức đổi chác sòng phẳng công sức với ăn uống mà nó giúp hợp thức hóa một bộ phận khách không thể mời theo quy ước. Theo đó, “sạc bia” và người nhà là hai tư cách tồn tại ở khách “mượn”. Họ xác định mình là anh em bạn bè thậm chí là người nhà của gia chủ nên mới được “mượn” nhưng khi họ đảm nhận vai trò phục vụ nước tại đám cưới thì lại giống như một bồi bàn và khi tiệc tàn, cùng ngồi lại ăn uống với gia chủ thì lại như một gia đình. Nếu là một bồi bàn làm thuê được trả tiền công họ sẽ làm tốt phần phục vụ nước nhưng vì khách “mượn” được sự tin tưởng của gia chủ nên vừa chạy bàn, vừa cùng gia đình quản lý việc phục vụ cho đám cưới.

Khi tôi phỏng vấn ba thông tín viên Tí, Đẹt và anh Ba, họ đều đưa ra phép so sánh giữa việc tham dự đám cưới với tư cách khách mời và khách “mượn”. Đi đến một đám cưới, bước đầu tiên là phải ăn mặc lịch sự, đến và bỏ tiền mừng vào thùng trước cổng vào, đi thẳng đến bàn tiệc, chọn cho mình một chỗ ngồi, ăn uống (nhậu), cô dâu chú rể và ba mẹ họ đến “chào bàn”[2] và chụp ảnh từng bàn rồi khách về – đó là quy trình tham dự một đám cưới của khách mời ở Vĩnh Cửu - Đồng Nai. Cho nên chỉ trừ khi đi đám cưới cùng bạn bè hoặc hàng xóm nếu không bạn có thể ngồi ăn tiệc cùng bàn với những người khách xa lạ. Điều này được cho là không vui, không thoải mái và khách mời kỳ vọng vào điều khác trong các đám cưới. Kỳ vọng đó của họ có thể được đáp ứng nếu họ tham dự đám cưới với vai trò khách “mượn”. Nếu được “mượn”, trước hết họ có thể tham gia bữa cơm gia đình tối trước tiệc mặn bên nhà chú rể, họ đến sớm cùng phụ chuẩn bị với gia chủ, họ phục vụ nước với anh em bạn bè mình quen biết và quan trọng là khi đám cưới hoàn tất, họ cùng gia đình cô dâu chú rể dùng bữa. Thông tín viên của tôi đều cho rằng khi là khách “mượn” họ cảm thấy “tự nhiên hơn, vui hơn và thoải mái hơn”[3] thậm chí xem việc dự đám cưới dưới hình thức này giống như “đi chơi[4]. Sự tự nhiên, vui tươi và thoái mái đó xuất phát từ hai phía. Gia chủ chào đón họ với sự  thân thiện, niềm nở hơn cùng với quan niệm khách “mượn” có thể “ăn mặc bình thường như người nhà”[5] và khách “mượn” hài lòng về không khí ấm cúng cũng như vai trò của bản thân trong sự kiện hệ trọng của gia đình mình quen biết, thân thiết.
“Mượn” khách không mang ý nghĩa kinh tế, cũng không phải hình thức đổi chác sòng phẳng công sức với ăn uống mà nó giúp hợp thức hóa một bộ phận khách không thể mời theo quy ước.” (Hình minh họa – Internet)
Chính vì những trải nghiệm trên mà một khi được “mượn” theo quy ước, khách luôn cố gắng có mặt, nếu vì lý do bất khả kháng phải từ chối lời “mượn” họ thường tiếc nuối và buồn[6] vì không giúp được cho gia đình người quen. Trước, trong và sau đám cưới là cả một quá trình thú vị mà khách “mượn” có được. Đẹt còn vui vẻ chia sẻ rằng, sau những lần phụ đám cưới ở ngoài, đến khi phục vụ nước cho đám cưới của một người em họ hàng, chị đã “gắp đá, đãi nước chuyên nghiệp[7]. Những việc việc bình thường đến nỗi “giờ Mi hỏi mới suy nghĩ”[8] như phục vụ nước cho đám cưới thế này thực sự có ý nghĩa khi nó được cả gia chủ và khách “mượn” đầu tư làm thật tốt, trở thành kỷ niệm và thắt chặt mối quan hệ giữa họ.

KẾT LUẬN
Đám cưới ở vùng quê Vĩnh Cửu, Đồng Nai – nơi mà người ta xem trọng tình làng nghĩa xóm, mối quan hệ anh em bạn bè, việc tồn tại khách “mượn” và vai trò của họ trong đám cưới mang những ý nghĩa đặc trưng. Trong đám cưới, mọi  người hình thành và tuân theo các quy ước liên quan đến mời cưới, vai trò ý nghĩa của các mối quan hệ với việc mời và “mượn” khách. Khách “mượn” vừa là giải pháp cho việc phục vụ thức uống tại đám cưới nhưng chính việc được “mượn” đãi nước cũng là cách hợp thức hóa nhóm khách không thể mời này. Với hai tư cách, vừa là người “sạc bia” vừa như người trong nhà hình thành nên trách nhiệm và những trải nghiệm của khách “mượn” khá đặc trưng và khác với những người khách mời. Kỳ vọng của khách tham dự đám cưới phần nào được thỏa mãn vì họ cảm thấy sự vui tươi, thân thiết trong tư cách khách “mượn”. Tất cả những điều này xác định, khẳng định và thắt chặt thêm mối quan hệ của khách “mượn” với gia chủ - đó là mối quan hệ qua lại thân tình. Tuy dừng lại ở đây nhưng bản thân thấy ngày càng thú vị khi tìm hiểu về đề tài này cũng như tìm ra những nét đặc trưng trong đời sống của quê mình. Tôi phần nào hiểu những điều - mà tôi vốn là một phần trong đó - rất thú vị. 

Mi Thiều

[1] Tí, 22 tuổi, công nhân.
[2] Đến cảm ơn và nâng ly cùng khách chúc mừng đám cưới.
[3] Đẹt, 21 tuổi, công nhân.
[4] Đẹt, 21 tuổi, công nhân.
[5] Anh Ba, 27 tuổi, viên chức Nhà nước.
[6] Đẹt, 21 tuổi, công nhân.
[7] Đẹt, 21 tuổi, công nhân.
[8] Đẹt, 21 tuổi, công nhân.

Khách "mượn" trong đám cưới tại Vĩnh Cửu - Đồng Nai (Kỳ 2)

Written By xuananh on 23/03/2012 | 13:34

Khách “mượn” và những quy ước trong việc “mượn” khách.
Đám cưới tại xã Bình Lợi cũng như trong huyện Vĩnh Cửu – Đồng Nai có hai hình thức: đãi tiệc tại nhà hàng và đặt tiệc đãi tại nhà[1]. Hình thức đặt tiệc đãi tại nhà bao gồm hai loại. Thứ nhất, gia chủ thỏa thuận với bên nhận nấu tiệc để người bên họ phục vụ thức ăn và thức uống cho khách mời trong đám cưới. Lúc này gia chủ sẽ phụ thêm cho họ một khoản chi phí (tùy thích) để bồi dưỡng người đãi nước[2]. Loại thứ hai là nơi nhận nấu tiệc chỉ cung cấp người phục vụ thức ăn, không có người phục vụ nước uống. Trường hợp này, gia chủ phải tự tìm người phục vụ thức uống. Bên cạnh sự hỗ trợ từ họ hàng trong gia đình[3], nếu thiếu người hoặc gia chủ sợ ít người, phục vụ thiếu sót thì họ lựa chọn giải pháp là “mượn” bạn bè, xóm giềng. Khách “mượn”[4] là những người không được mời đám cưới bằng thiệp và đương nhiên họ không mừng cưới bằng tiền[5]. Họ được gia đình gia chủ “mượn” đến phụ đãi nước[6]. Về hình thức, họ đều là khách của đám cưới tuy nhiên, khách mời sẽ đi tiền còn khách “mượn” sẽ hỗ trợ gia chủ bằng công sức phục vụ.
Căn cứ vào nhu cầu cần hỗ trợ của đám cưới mà người chủ trì đám cưới – cha mẹ cô dâu hoặc chú rể sẽ yêu cầu con cháu trong nhà “mượn” bạn bè đến phụ sau khi đã trừ ra số người trong họ hàng có thể phụ đãi nước. Khách “mượn” được liên hệ trực tiếp qua điện thoại.  “Mượn” qua điện thoại là liên hệ chủ yếu đối với dạng khách này. Bên cạnh đó, tối trước hôm đãi tiệc mặn tại nhà chú rể, gia chủ  cũng có làm một bữa cơm gia đình và khách “mượn” cũng được gọi tới dự. Bữa ăn này (thông thường là nhậu) mang ý nghĩa chúc mừng chú rể ngày mai chính thức lập gia đình nhưng cũng mang tính ví von “chia tay thời độc thân”. Thành phần tham gia chủ yếu là bà con họ hàng. Họ ăn uống, nhậu và nói chuyện tới khuya rồi có thể ngủ lại tại nhà gia chủ. Bởi khách “mượn” là người thân quen với một vài thành viên hoặc cả gia đình gia chủ nên thường được mời tham dự buổi tiệc này. Nếu khách “mượn” còn là hàng xóm thì càng không thể thiếu.
“Khách “mượn” là người thân quen với một vài thành viên hoặc cả gia đình gia chủ nên thường được mời tham dự buổi tiệc này.” (Hình minh họa – Internet)
Nhìn bên ngoài khách “mượn” giống như bồi bàn vì việc của những người này là cầm xô đựng nước đá, đồ khui bia đến từng bàn phục vụ thức uống khi khách đến. Những công việc này được gọi là “sạc bia”. Nhưng bên trong, một khi gia chủ chọn “mượn” họ tức là hai bên ngầm hiểu về những công việc cũng như trách nhiệm của nhau. Gia chủ tin tưởng xem họ như người trong gia đình và mong đợi họ không chỉ hỗ trợ việc phục vụ mà còn giúp gia chủ quản lý, tránh hao phí về số lượng thức uống. Bên cạch đó, khách “mượn” cũng mặc định cho mình “nghe mượn là biết việc mình phải làm”[7], phải nhiệt tình và có trách nhiệm. Trong đám cưới năm 2008 mà Đẹt được “mượn”, gia chủ đãi tiệc ở hai nhà khách đặt hai bên lề đường. Mặc dù trời mưa nhưng nhóm khách “mượn”, trong đó có Đẹt vẫn phải chạy qua lại hai bên để phục vụ nước cho khách[8]. Cũng nói thêm, đám cưới ở đây, nếu khách được mời bận việc hoặc xét thấy gia chủ không đủ thân để họ trực tiếp đi thì sẽ nhờ con cháu hoặc người khác đi dự dùm. Trong trường hợp trời mưa cũng vậy, khách mời có thể không trực tiếp tới dự đám cưới nhưng khách “mượn” thì vẫn tiếp tục công việc đãi nước của họ. Không hề có sự ràng buộc về thuê mướn và họ ở lại, làm tròn nhiệm vụ chỉ vì mối quan hệ, tình nghĩa với gia chủ. Điều này không có nghĩa là mối quan hệ chỉ đáp ứng nhu cầu một chiều. “Chuyện mình tới phụ lúc nào cũng dậy (vậy) hết, người ta dìa (về) hết còn anh em trong gia đình ngồi lại với nhau[9] để ăn uống, nhậu và trò chuyện sau đám cưới. Đây có thể gọi là đền đáp lại sự hỗ trợ của khách “mượn’ nhưng cũng mang ý nghĩa một bữa ăn gia đình, khẳng định vị trí của khách “mượn’ đối với gia chủ cũng như thắt chặt tình nghĩa giữa hai bên. Về phía gia chủ, sau khi ước lượng số khách mời họ sẽ đặt số lượng bàn tiệc tương ứng, trong đó, đặt dư ra vài bàn (một đến ba bàn) để cho họ hàng và khách “mượn” ăn uống sau đám cưới. Gia chủ xem đó là việc quan trọng và phải làm thật chu đáo vì khách “mượn” phụ “đãi xong cũng phải cho người ta ăn một bữa cho đàng hoàng[10].
Cả gia chủ và khách “mượn” đều biết rằng, nếu “mượn” người phụ thì gia chủ không phải chi thêm một khoản tiền cho việc thuê người phục vụ. Thế nhưng, ý nghĩa không nằm ở lợi nhuận kinh tế. Ở đây, khách “mượn” đến phụ không công nhưng thay vào đó họ được đãi ăn uống. Tính trong thời điểm hiện tại, một người phục vụ được trả công 80000 đồng/đám cưới so với một bàn tiệc có giá 1.000.000 – 1.100.000 đồng/10 người ăn thì gia chủ sẽ “lỗ”. Cho nên thỏa thuận này mang tính gởi gấm trách nhiệm, sự tin tưởng để khách “mượn” phụ gia đình quán xuyến việc phục vụ trong đám cưới hơn là ý nghĩa kinh tế mà ta dễ ngộ nhận.
Bên cạnh đó, khi tìm hiểu về khách “mượn”, tôi rút ra được những quy ước mà cả gia chủ lẫn khách đều phải tuân theo. Nó giống như một khung mẫu để gia chủ biết khách nào phải mời, khách nào nên “mượn” và khi nào nên vừa mời vừa “mượn” một ai đó. Nó cũng quy định, ai sẽ mời khách mời và ai nhờ khách “mượn”. Đó là cả một sự đúc kết được mọi người trong nghiên cứu của tôi tuân theo, nếu người nào cư xử “lệch” khung này sẽ “rất kỳ”[11], bị “trách mốc”[12] và hậu quả xấu nhất là tổn hại đến quan hệ hai bên. Việc mời và “mượn” theo thông lệ sẽ dễ dàng cho việc “trả”[13] sau này, không mắc nợ. Theo đó, “đám cưới của ai người đó mời[14]. Khách dự đám cưới ai thì người đó phải “trả” lại khi được mời (bất kể là bạn cả anh em khác trong gia đình)[15]. Tức là đối với bạn bè đồng trang lứa của mình, cô dâu, chú rể phải trực tiếp mời, nếu có “mượn” thì cũng chỉ nhờ bưng quả cưới. Cô dâu, chú rể chỉ có thể “mượn” những người quen biết nhỏ tuổi hơn đến phụ đãi nước. Đối với những người quen lớn tuổi hơn thì cô dâu/chú rể sẽ không mời và càng không thể “mượn” người “vai anh mình sạc bia”[16]. Trong trường hợp khách “mượn” là bạn của anh hoặc em của cô dâu, chú rể thì người có quan hệ trực tiếp với khách “mượn” sẽ liên hệ nhờ họ phụ. Còn khách mời thì dù có quen với anh em trong nhà thì cô dâu, chú rể cũng phải là người trực tiếp mời.[17]

                                                                                                                                             Mi Thiều

[1] Ngoài ra một số gia đình cũng mượn sân bãi ở Ủy ban, Nhà văn hóa,.. nếu nhà không có chỗ đãi và không có điều kiện đãi ở nhà hàng. Dạng này cũng được xếp vào hình thức thứ hai.
[2] Có một số nơi nhận nấu đám cưới “chuộng” khách hàng có thể không tính thêm phí phục vụ này để được gia chủ giới thiệu nấu cho những đám tiệc khác.
[3] Chủ yếu là con cháu, anh chị em họ hàng.
[4] Ở đây, riêng từ “mượn” có thể hiểu theo nghĩa nhờ vả.
[5] Tiền mừng cưới luôn được để trong thiệp mời đám cưới, không thiệp đồng nghĩa với việc không cần đi tiền. Vùng này rất hiếm đi đám cưới bằng quà tặng.
[6] Có trường hợp, nam được “mượn” đến để giữ xe cho khách mời.
[7] Tí, 22 tuổi, công nhân.
[8] Đẹt, 21 tuổi, công nhân.
[9] Tí, 22 tuổi, công nhân.
[10] Năm, 51 tuổi, nội trợ.
[11] Đẹt, 21 tuổi, công nhân.
[12] Tí, 22 tuổi, công nhân.
[13] Anh Ba, 27 tuổi, viên chức Nhà nước giải thích chỗ này: mỗi người chỉ cưới một lần, nếu anh A mời bạn của mình là B đến dự đám cưới của anh trai mình là C (có thể), đám cưới của A lại mời B nữa, trong trường hợp anh trai C lại không chơi với B thì sẽ mắc nợ vì có thể người C không được B mời lại trong đám cưới của B. Có vẻ sòng phẳng thế nhưng ý nghĩa được nhấn mạnh ở đây là nếu “lệch” khỏi cái khung thông thường thì người trong cuộc sẽ rơi vào rắc rối.
[14] Anh Ba, 27 tuổi, viên chức Nhà nước.
[15] Đám cưới thì ai nhận tiền mừng người đó trả. Còn đám tang, bạn của ai cúng người đó trả thay vì người gia chủ có người mất.
[16] Tí, 22 tuổi, công nhân.
[17] Ngoài ra cũng có trường hợp ngoại lệ, khi mối quan hệ thân thiết, nhập nhằng hơn, cũng có thể mời hoặc “mượn” khách trên đây đề cập. Những trường hợp đó gia chủ phải khéo léo song song với việc khách mời/ “mượn” cũng phải hiểu ý.


Khách "mượn" trong đám cưới tại Vĩnh Cửu - Đồng Nai (Kỳ 1)

Written By xuananh on 22/03/2012 | 13:34

Sao hai đứa bây chưa về, lát nữa đãi rồi đó… Giờ đang ở nhà gái, làm lễ sắp xong rồi. Xin về đi. Hôm qua tao nói rồi mà. Về nha mày”[1]
Từ năm 2008 đến nay, tôi đã tham dự hai đám cưới của hai anh con cô ruột và là khách mời của bốn đám cưới khác nhưng đến khi đọc và tìm hiểu bài viết “Mời cưới ở Hà Nội và việc quản lý các quan hệ” của Alexander Soucy tôi mới nhận ra, đám cưới ở quê mình có những nét đặc trưng riêng. Nơi tôi ở được xếp vào vùng sâu vùng xa – xã Bình Lợi, huyện Vĩnh Cửu – Đồng Nai. Ở đây hàng xóm cũng thường là bà con họ hàng. Mỗi khi nhà có việc hệ trọng như đám tang, đám cưới thì mọi người tương trợ nhau. Tìm hiểu về đám cưới ở đây, tôi thấy yếu tố hỗ trợ thể hiện qua một dạng khách “mượn” đặc trưng. Chính vì hiện tượng này trong thực tế cùng với nội dung bài viết của Soucy tôi quyết định tìm hiểu và trình bày về khách “mượn” trong đám cưới ở Vĩnh Cửu, Đồng Nai.
Sơ đồ cùng quan hệ ở Hà Nội của Yan (19960 được Soucy (2010) vận dụng cho ta thấy ‘cấu trúc’ của các mối quan hệ và chức năng của chúng khi được xác lập và tái xác lập qua việc mời cưới. Tôi vận dụng ý nghĩa này vào bài viết về đám cưới ở Vĩnh Cửu – Đồng Nai. Nhưng ở đây, trong điều kiện có thể, tôi chỉ làm rõ ý nghĩa này thông qua khách “mượn” và việc “mượn” khách. “Giống mà không giống” là điều thú vị khi khách “mượn” trong bài viết của tôi, xét về ‘nội hàm’ thì thuộc Vùng có ảnh hưởng nhưng về cách thức tham dự và vai trò trong đám cưới thì mang đặc trưng khác biệt. Chính vì thế mà trọng tâm bài viết này của tôi là mô tả về khách “mượn” và những trải nghiệm về vị trí, vai trò của họ trong đám cưới chứ không bao quát việc mời cưới và ý nghĩa của nó như Soucy. Và kết quả đề tài này tôi xem như một ghi chép về hiện tượng xã hội mang tính đặc thù về không gian và thời gian. Thời điểm hiện tại ở Vĩnh Cửu – Đồng Nai, nó là tư liệu về mối quan hệ xã hội và những quy ước về khách “mượn” trong đám cưới. Để thu thập thông tin cho đề tài này tôi sử dụng phương pháp quan sát tham dự và phỏng vấn sâu. Bên cạnh đó tôi cũng đọc tài liệu để có thể so sánh, làm nổi bật nét đặc thù của đối tượng nghiên cứu.
“Mỗi khi nhà có việc hệ trọng như đám tang, đám cưới thì mọi người tương trợ nhau.” (Hình minh họa – Internet)
Khách “mượn” là khái niệm mà tôi sử dụng xuyên suốt bài viết này và trình bày điểm đặc trưng của nó. Việc “mượn” khách cũng thể hiện quan điểm của cả gia chủ và khách được “mượn” trong bối cảnh cụ thể. Trong bài viết, tôi sử dụng thuyết cấu trúc để phân tách khách trong đám cưới thành hai loại: khách mời và khách “mượn”, để làm rõ đặc điểm khách “mượn” trong mối tương quan so sánh với khách mời. Hai tư cách: người “sạc bia” và người nhà cùng tồn tại ở khách “mượn” tôi cũng dùng thuyết cấu trúc làm rõ. Bên cạnh đó, tương ứng với hai loại khách, hai tư cách sẽ có những vai trò, chức năng khác nhau, ở điểm này tôi vận dụng thuyết chức năng.  Từ đó, tôi đi đến kết luận, trong một đám cưới tồn tại những quy ước bất thành văn, nếu cư xử “lệch” khung mẫu đó bạn có thể gặp rắc rối. Khách “mượn” với vai trò “sạc bia” là giải pháp tối ưu cho những đám cưới không thuê người phục vụ thức uống đồng thời cũng được xem như người nhà của gia chủ. “Mượn” là hình thức hợp thức hóa việc tham dự đám cưới của một bộ phận khách, để từ đó khách “mượn” hình thành những trách nhiệm và trải nghiệm thú vị trong đám cưới khác với khách mời. Thông qua những điều này, ta thấy quan điểm và những mong muốn của người dân đối với đám cưới.
Để làm sáng tỏ những điều trên, tôi chọn phỏng vấn bốn thông tin viên để thu thập thông tin. Hai thông tín viên, một người nam, 22 tuổi và một người nữ 21 tuổi đều làm công nhân, cung cấp thông tin với tư cách là khách “mượn”. Người nữ đã được mượn  đến phụ trong ba đám cưới năm 2006 và 2008, đều là đám cưới anh trai của bạn cô này. Người nam được mượn phụ một đám cưới vừa là anh trai của bạn vừa là hàng xóm, vào tháng 4/2011. Bên cạnh đó, tôi cũng phỏng vấn một người với tư cách là mượn khách đến phụ cho đám cưới của gia đình. Anh này 27 tuổi, viên chức Nhà nước. Ở Vĩnh Cửu, Đồng Nai, cha mẹ là người chủ trì lo liệu đám cưới cho con vì vậy để có thêm thông tin tôi cũng phỏng vấn một cô 51 tuổi, là nội trợ đã từng tổ chức đám cưới cho con năm 2008.
Từ những hiểu biết của bản thân về chủ đề này, tiếp đến là đọc và tìm nét mới của đề tài thông qua kết quả nghiên cứu của Soucy, đặt giả thuyết, lập đề cương và tiến hành phỏng vấn là trình tự tôi đã làm để thu thập và xử lý thông tin. Ba trong số bốn thông tín viên của nghiên cứu này đều là người thân trong gia đình của tôi, còn một người là bạn cùng xóm. Họ người thân quen cho nên tôi tiếp xúc không khó khăn cho lắm và chủ động được thời gian phỏng vấn. Bên cạnh đó, tôi cũng là người trong cuộc, có hiểu biết nhất định về đề tài này nên tôi không mất thời gian cho việc tạo mối quan hệ với thông tín viên mà có thể trò chuyện thẳng vào vấn đề với họ.
Thuận lợi là vậy nhưng trong quá trình phỏng vấn tôi cũng gặp không ít khó khăn. Trước khi tiến hành cuộc phỏng vấn đầu tiên với thông tín viên nam 22 tuổi và thông tín viên nữ 21 tuổi tôi đã thăm dò ý kiến và hẹn giờ cụ thể nhưng người nam có việc bận đột xuất nên trò chuyện với tôi chưa đầy mười phút, người nữ thì thường xuyên “không biết nữa” khi tôi đặt câu hỏi “tại sao?”. Một đặc điểm chung của hai thông tín viên này đó là họ chưa bao giờ phải nói chuyện với ai đó dưới hình thức phỏng vấn thế này. Tuy hỏi những chuyện thường ngày như tán gẫu nhưng một khi liên quan đến học tập, đối diện với cuốn sổ trên tay và chiếc điện thoại tôi đang ghi âm thì họ ngại và nói chuyện đúng chất “phỏng vấn”. Hôm sau, khi trò chuyện lần hai với thông tín viên nữ, tôi không ghi âm nhưng chị này có vẻ ngại hơn vì cho rằng không còn gì để nói. Sáng hôm đó, tôi cũng tranh thủ hỏi thông tín viên nữ 51 tuổi, khá thuận lợi vì cô này cung cấp thông tin trọng tâm cho bài viết của tôi. Đến ngày thứ ba, tôi quyết định phỏng vấn thông tín viên nam 27 tuổi trước vì may mắn hôm nay anh này có ở nhà. Lần này tôi không ghi chép bằng sổ và ghi âm, cố gắng nhớ thông tin và gần như là trò chuyện với cả nhà anh này. Cuộc nói chuyện cho tôi thông tin nhiều chiều vì không chỉ thông tín viên 27 tuổi trả lời mà còn có sự bổ sung cả các thành viên khác trong gia đình. May mắn là sau khi trò chuyện xong với anh này thì thông tín viên nam 22 tuổi cũng liên hệ với tôi để được phỏng vấn. Tôi hoàn thành xong biên bản phỏng vấn với bốn thông tín viên trong ba ngày. Theo tôi, khoảng thời gian này ngắn để khắc phục hạn chế của phỏng vấn viên cũng như khai thác sâu thông tin từ thông tín viên. Tuy thông tin phỏng vấn đáp ứng được cho bài viết thế nhưng việc chọn lọc, liên kết và rút ra kết luận từ những thông tin đó tôi làm còn chậm và chưa khéo léo. Đó là hạn chế lớn và luôn được tôi dần khắc phục qua các bài viết như thế này.


[1] Anh thứ tư, con cô của tôi gọi điện thoại nhắc nhở khách “mượn”, yêu cầu anh này xin nghỉ làm ở công ty để về dự đám cưới anh thứ hai.

Mi Thiều

Mời cưới và các mối quan hệ (kỳ 3)

Written By kuxh on 06/11/2011 | 05:00

Các câu hỏi liên quan đến danh sách khách mời được cả cô Mùi, chú Phương và bạn Trường trả lời khá nhất quán, đặc biệt trong vấn đề soạn và chốt danh sách. Cô Mùi nói: Trước khoảng 3 tháng, cô lên danh sách tất cả khách mời , cô tham khảo với bên nội, bên ngoại góp ý. Nói chung là cô gạn lọc từng thành phần khách mời , duyệt đi duyệt lại kỹ càng sau đó cô mới chính thức viết thiệp. Bạn Trường cũng cho biết nên hỏi ý kiến bố mẹ trước khi quyết định mời ai, cô Mùi cũng cho rằng : Khi con cô hỏi về vấn đề này, cô cũng góp ý để con cô mời đúng đối tượng, hợp tình hợp lí hơn. Còn chú Phương thì nói : Phải hỏi ý kiến để khâu tổ chức được chặt chẽ và hoàn hảo.

Đám cưới không chỉ dừng lại ở đây như một nghi thức bắt buộc mà đó còn là cách thế để nối kết một thành viên mới vào gia đình. (Ảnh: minh họa - Nguồn: Internet)
Thông qua danh sách khách mời ta dễ dàng nhận thấy những thành phần được xem là đối tượng ưu tiên của người mời cưới. Thường thì đó là những người thân thuộc, trong dòng họ. Cô Mùi xếp thứ tự ưu tiên trong danh sách khách mời như sau: Khi mời cô sẽ mời ông bà, cha mẹ, các bác, cô dì, bên nội bên ngoại đầu tiên. Sau đó đến cháu bên nội,, ngoại của cô, bà con lối xóm, các vị khách quý có quan hệ với gia đình và cới bản thân cô như các cha, các dì trong nhà dòng. Rồi đến bạn đồng nghiệp, đại diện các nhóm sinh hoạt tôn giáo, xui gia của cha mẹ cô, xui gia của cô. Chú Phương thì cho biết: Trong danh sách mời chủ yếu là dòng họ, láng giềng. Người trong quan hệ công việc, bạn bè. Vì đối tượng trong danh sách đã được suy nghĩ và cân nhắc kĩ nên thông thường ai đã có tên trong danh sách sẽ được gia đình mời hết. Trong đám cưới của cô chú, danh sách mời đã chuẩn bị trước nên mới hết  (Chú Phương ). Ngoài ra, người mời cưới còn có thể mời thêm những người ngoài danh sách nếu họ muốn, hoặc có gì thay đổi nhưng thường thì đây không phải là đối tượng quan trọng bằng những người có mặt chính thức trong danh sách: Trước đám cưới thì gia đình có liệt kê danh sách khách cần mời. Và mời hết những người có trong danh sách và cả những người không có trong danh sách do phát sinh thêm (bạn Trường). Tuy nhiên, có thể thấy ở đây vấn đề không phải do gia đình không muốn mời mà còn cò yếu tố kinh tế chi phối đến việc tổ chức quy mô đám cưới và số lượng khách mời. Nhà mình lúc đầu tính là đãi 15 bàn vì tính đãi cũng vừa thôi, kinh tế bây giờ đang khó khăn lắm, nhưng khi lên danh sách rồi phát sinh thêm 15 bàn nữa, ngay cả bàn dự trù cũng không đủ. Tổng cộng cũng phải 30 hay 31 bàn. (Bạn Trường)
Người tổ chức đám cưới trong vai trò là bố mẹ.
Đám cưới của cô gần 50 năm rồi, thời đó cô không nghĩ gì cả. Đó là câu trả lời của cô Mùi khi cô được hỏi, trước kia trong đám cưới của cô, cô quan tâm như thế nào đến các mối quan hệ cô sẽ có trong đám cưới? Tuy nhiên trải qua rất nhiều kinh nghiệm sống, bây giờ nhận định của cô về các mối quan hệ đã rất khác. Cô nói: bằng nhiều cách mình phải tạo cho mình nhiều mối quan hệ nhưng cô chỉ quan hệ với những người tốt và biết thông cảm mà thôi. Đồng thời cô cũng nói rõ mục đích của cô về việc cô mời những khách nào: Những người cô mời là những người mà cô muốn qua đám cưới, con cô biết sâu hơn để giao tiếp khi cần. Tuy nhiên, việc giao tiếp mà cô đề cập đến không bao hàm ở nó tất cả các ý nghĩa về các mối quan hệ làm ăn kinh tế mà nó nhấn mạnh hơn ở khía cạnh tình cảm: để hy vọng là những người đó có thể chia sẻ với mình khi vui cũng như lúc buồn và cô đã trả lời câu hỏi: cô nghĩ như thế nào về việc mời khách sẽ giúp tạo cho con cô những mối quan hệ tốt đẹp sau này ? Một cách thẳng thắn : Khi mời khách đến dự tiệc cưới của con cô, không bao giờ cô nghĩ như vậy, vì chỉ do tình cảm quý mến nhau mà mới chứ không nghĩ đến lợi nhuận nào khác. Ngoài ra cô cũng nói: Cô mời khách để chia sẻ niềm vui với gia đình cô.
Đối với những người trong họ hàng, cô Mùi dành cho họ một tình cảm đặc biệt hơn. Cô nói: Các vị khách mà cô cho là quan trọng và cô phải quan tâm, tiếp đãi chu đáo hơn là các bậc trên đáng kính như ông bà cha mẹ, các vị khách ở xa mà lâu ngày mình không gặp, xui gia của cô, họ hàng nội ngoại ở xa về dự. Đồng thời cô kể chi tiết phần nghi lễ và cho biết cô có nhiệm vụ cần phải giới thiệu con dâu hoặc con rể cho họ hàng cùng biết. Cô nói: Đối với con gái cô, cô giới thiệu nó trong nghi thức vu quy khi người ta đến xin dâu. Đúng giờ ấn định, họ nhà trai đem sính lễ đến nhà gái, bên họ nhà gái đã chuẩn bị sẵn để đón nhà trai. Sau nghi thức tạ ơn Chúa là nghi thức kính nhớ tổ tiên. Sau cùng là cô giới thiệu họ hàng nội ngoại, bắt đầu từ các bậc ông bà, cha mẹ, cô chú bác dì anh chị để cho con rể và bên xui gia biết, sau đó tặng kỉ vật và cha mẹ có đôi lời nhắn nhủ con trước  khi lên xe hoa về nhà chồng. Đối với con trai cưới vợ khi đón dâu về nhà cô rồi thì tất cả hai họ và bà con cũng tham gia nghi thức như gả con gái vậy. Để con dâu mình biết quan hệ họ hàng, cô cũng giới thiệu trên là ông bà nội ngoại, các cô, chú, bác cậu , mợ dì…anh chị , anh chị họ ruột thôi. Khi cô giới thiệu ai thì người đó tặng quà và vài lời khuyên. Khi được hỏi cô nghĩ như thế nào về nghi thừc này, cô Mùi đả khẳng định:
Việc giới thiệu con dâu, con rễ cũng như hai họ biết họ hàng là điều tối quan trọng, để con mình biết rõ mối quan hệ mà xử thế, đối xử cho phải phép, biết chào hỏi, quan tâm đến nhu cầu, nhất là ông bà cha mẹ mình khi khoẻ hay lúc đau yếu. Biết họ hàng đề có tình thân thiện hơn vì lấy vợ hay lấy chồng không phải chỉ biết vợ chồng hay cha mẹ mà còn phải biết đến cả dòng họ.
Như vậy, lễ nghi phép tắc trong gia đình là một thái độ rất quan trọng luôn được bậc làm cha làm mẹ quan tâm hàng đầu. Đám cưới không chỉ dừng lại ở đây như một nghi thức bắt buộc mà đó còn là cách thế để nối kết một thành viên mới vào gia đình mà. Thông qua đó, xui gia giữa hai dòng họ cũng được tham dự vào các mối quan hệ của nhau .
(Còn tiếp)
Ngọc Lưu

Mời cưới và các mối quan hệ (kỳ 2)

Written By kuxh on 05/11/2011 | 05:00

Những người tham gia vào việc mời cưới khi được hỏi về việc họ quan tâm về điều gì nhất trong đám cưới. Câu trả lời chủ yếu xoay quanh việc đón tiếp khách. Cô Mùi nói: Trong ngày tổ chức đám cưới , cô quan tâm đến việc đón tiếp quý khách, hai họ, xui gia, nhờ các cháu mỗi người một việc chu đáo, nhắc nhở nhà hàng phục vụ tận tình, cô dẫn con đi từng bàn để cám ơn và chào hỏi cá bậc trên cũng như quý khách.
Thái độ tôn trọng và quan tâm tới khách như một cách thức thể hiện mối quan hệ tốt đẹp giữa người mời và người được mời. (Ảnh: minh họa - Nguồn: Internet)
Bạn Trường cho biết: Trong đám cưới, mình và vợ thường thăm hỏi và chúc sức khoẻ. Hai bên xui gia thường đi chung với nhau và tiếp khách của nhau, đi giáp vòng hết các bàn cùng cô dâu và chú rể rồi mới tiếp khách riêng.  Và không quên khẳng định: việc đi từng bàn tiếp khách là việc đương nhiên phải làm vì đó là luật lệ mà. Việc đó rất quan trọng không thể thiếu được.
Vấn đề tiếp khách ở đây là một vấn đề được hầu hết mọi người trong tư cách là người mời cưới xem trọng, nó biểu thị sự tôn trọng và quý mến khách của chủ nhà. Cô Mùi nói: cô phải tiếp đón một cách chân tình với mọi thành phần khách mời vì người ta quý mến và trân trọng mình thì mới đến dự. Và cô cho biết mình phải thể hiện ra bên ngoài để người ta biết tấm lòng của mình như: nói chuyện, bắt tay hay cử chỉ nào đó tỏ ra thân thiện, nét mặt tươi cười hỏi thăm sứa khoẻ và cám ơn sự hiện diện của họ.
Ngoài ra, tìm hiểu việc tiếp đãi khách còn nói cho biết đối tượng được mời có mối liên hệ như thế nào với người mời cưới. Bạn Trường xác định chỗ ngồi của khách phản ánh tầm quan trọng của một vị khách nào đó đối với gia đình của mình : Một vị khách quan trọng là người được lo chu đáo nhất như được ngồi gần sân khấu như ông bà nội ngoại, những người lớn tuổi, bà con thân thích… Đây là chỗ dành riêng có ý nghĩa rất quan trọng. Cô Mùi còn cho biết trong hoàn cảnh rất bận rộn của đám cưới, không thể tiếp tất cả các khách một cách chu đáo như nhau. Tuy nhiên, cô luôn quan tâm hơn đối với một số khách mà cô cho là đặc biệt: Khi tiếp khách, cô quan tâm đặc biệt đến các vị vai vế lớn tuổi, họ hàng ruột thịt, rồi đến tất cả quý khách.
Trong nhận thức của người mời cưới, việc tổ chức lễ cưới một cách chu đáo hay không còn là điểm để người ngoài nhìn vào đó để đánh giá gia đình của người mời cưới. Bạn Trường nói: Trong gia đình phải chuẩn bị rất chu đáo cho tiệc cưới. Một mặt là để thông báo cho dòng họ bạn bè thân hữu biết, mặt khác để nở mặt, nở mày. Đám cưới càng lớn càng, càng đẹp và công phu thì sẽ nở mặt nở mày hơn chứ.
Riêng đối với bản thân cá nhân, mỗi đối tượng có một cách chuẩn bị và thể hiện sự quan tâm đến các vấn đề cũng không giống nhau. Khi được hỏi: Trong quá trình chuẩn bị và thực hiện lễ cưới, bạn quan tâm đến điều gì nhất? Bạn Trường đã trả lời: Mình thấy hồi hộp vì khi mình đừng trên sân khấu thì có rất nhiều người nhìn thẳng vào mắt mình vì vậy mình phải chú ý tới hành động, cử chỉ, lời nói của mình khi mình nói ra. Theo mình biết thì ở nước ngoài có một chứng bệnh mà người ta gọi là sợ đám cưới, có nghĩa là đứng trước đám đông,  sợ mình là nhân vật chính mọi người phải chú ý. Bởi vậy khi nghĩ đến đám cưới là mình rất hồi hộp, nhiều khi muốn bỏ trốn đi vậy đó. Cảm giác đó giống như thời cấp một hay cấp hai khi mình chuẩn bị trả bài cho thầy cô giáo mà không thuộc bài vậy đó.
Trong khi cùng câu hỏi đó chú Phương cho biết : Hồi trước chú làm đám cưới, chú chuẩn bị có nghề nghiệp ổn định, đảm bảo cho tương lai , hợp pháp, các thủ tục  tôn giáo cũng như xã hội. Trong đám cưới chú cũng quan tâm đến việc mời những người quen biết,, bạn bè, đồng hương.
Bố mẹ đứng ra tổ chức đám cuới cho con cái thường là những người có rất nhiều kinh nghiệm. Không những họ có kinh nghiệm từ đám cưới của chính bản thân mà còn có kinh nghiệm từ các đám cưới từ việc họ đã tổ chức cho những đứa con trước (trường hợp của cô Mùi- cô đã tổ chức đám cưới cho 4 người con truớc đây). Vì vậy thay vì cảm thấy rất hồi hộp như bạn Trường thì cô Mùi ở trong một tâm thế rất chủ động : Vì đám cưới rất bận rộn, nên để chu đáo trong việc tiếp khách dự tiệc, cô thường nhờ các anh chị, các cháu mỗi người phụ trách một việc như ai đón khách thì mời vô bàn, ai tiếp các vị cao niên, ai tiếp các vị khách ở xa ở gần, kể cả xui gia cô đều nhờ tiếp cho đám cưới thêm vui hơn.
Như vậy, có thể vấn đề quan tâm của mỗi cá nhân với tâm thế là nhân vật chính trong đám cuới của mình có thể là khác nhau nhưng với tư cách là người mời cưới, đại diện cho cả gia đình và dòng họ, họ được hướng dẫn hoặc chủ động tỏ thái độ tôn trọng và quan tâm tới khách như một cách thức thể hiện mối quan hệ tốt đẹp giữa người mời và người được mời.

Chú Phương đặc biệt quan tâm đến khâu tiếp đón khách và tiếp đãi khách, chú quan sát và cho biết : Khi đi đám cưới, tới nhà riêng hoặc nhà hàng. Khi vào cổng chào, ở đó có cô dâu , chú rể, cha mẹ hai bên đúng đón khách bằng cử chỉ bắt tay thay lời chào xã giao và mời vào bàn, trong quan hệ giao tiếp. Trong đám cuới, đối tượng nói chuyện là cha mẹ, cô dâu, chú rễ là bà con hoặc bạn bè, hoặc cô dâu, chú rễ là người trong quan hệ quen biết. Thường thì nói những câu chúc mừng để đối tượng còn đi nhiều bàn khác. Và để biểu lộ thái độ vinh dự khi được mời tham dự một tiệc cưới, chú còn cho biết mình cũng phải đáp lại bằng một thái độ tôn trọng nào đó : Khi được mời đám cưới, nói chung mình phải thể hiện sự quan tâm, trân trọng.

Sự quan tâm đó được thể hiện một phần nào trong cách thức để ý đến tiền mừng cưới. Tiền mừng cưới ở đây được các đối tượng nhìn nhận không phải như một cái gì buộc phải có qua có lại mà nó bao hàm trong đó sự quan sát khéo léo để có thể cộng vào và chia bớt gánh nặng cho gia đình tổ chức đám cưới. Chú Phương nói : đi đám cưới mình phải bỏ phong bì 200,000 ngàn… Mục đích mừng tiền có hai lý do::Theo chú nghĩ khi tổ chức đám cưới họ phải đặt cổ phần ăn tùy theo thị trường hiện nay 1 phần ăn uống khoảng 100,000 ngàn. Còn 100,000 thì mừng cô dâu, chú rễ, nhưng hầu như người ta dùng tiền này để trang trải cho đám cưới.
Cô Mùi thì nói: Khi cô dự một đám cưới thì cô nghĩ không phải là mình trả nợ sòng phẳng mà là vì tình cảm quý mến mà mình hiện diện, nhưng cô luôn mừng sao để họ có niềm vui và chia sẻ gánh nặng với họ. Cô xem tiệc cưới của họ tổ chức tại địa điểm nào, nếu nhà hàng lớn thì họ tốn nhiều tiền nên cô mừng nhiều hơn, hay đi dự tiệc của thân trong dòng họ thì cô cũng mừng nhiều, còn các trường hợp khác thì cô đi bình thường theo thực tế. Theo cô nếu đi nhà hàng thì 500000/ người. Còn đãi thường thì 200000/ người.
Cũng tương tự như vậy, bạn Trường còn nhấn mạnh hơn đến những ưu tiên cho những người thuộc gia đình dòng họ mình: Khi đi dự đám cưới thì tiền mừng cưới rất quan trọng. Theo mình khoảng 100-200 nghìn là đủ. Đó là bạn bè bình thường. Còn nếu là thân thích hay anh em, bà con thì có thể là 500 nghìn đến 1 triệu hoặc cho vàng. Tiền mừng cưới người trong nhà phải nhiều hơn vì là con cháu anh em trong nhà mà. Tuy nhiên bạn cũng nghĩ: có những người làm ăn cũng đi tiền nhiều hơn vì họ muốn bỏ con tép bắt con tôm đó mà.
Như vậy, giữ gìn và củng cố mối quan hệ không phải chỉ là vấn đề được người mời cưới quan tâm mà nó còn được người với tư cách là khách cộng tác vào, cùng hun đắp để mối quan hệ ngày càng tốt đẹp. Như chính cô Mùi đã nói : Đối với cô, mình sống không phải là một hòn đảo, nên bằng nhiều cách mình phải tạo cho mình nhiều mối quan hệ để hy vọng là những người đó có thể chia sẻ với mình khi vui cũng như lúc buồn.
Ngoài ra, với những người chưa có kinh nghiệm như bạn Trường thì đi tham dự đám cưới và quan sát cách tổ chức đám cưới của người khác cũng là một cơ hội để bạn rút kinh nghiệm cho chính đám cưới của mình sẽ được tổ chức sau này: Khi tham dự tiệc cưới người khác mình quan sát nhiều cách phục vụ nhà hàng, món ăn, sân khấu, nội thất trang trí. Mình muốn làm theo cách tổ chức mà mình cho là hay ở đám cưới mà mình tham dự.
(Còn tiếp)
Ngọc Lưu

Mời cưới và các mối quan hệ (kỳ 1)

Written By kuxh on 04/11/2011 | 08:00

Tôi  viết bài này dựa trên việc phân tích đề tài nghiên cứu “ Mời cưới ở Hà Nội và quản lí các mối quan hệ” của giáo sư Alexander Soucy ở saint Mary’s University, Halifax, Canada. Qua việc phân tích đề tài này, tôi nhận thấy được tầm quan trọng của việc quản lí các mối quan hệ thông qua việc mời cưới. Không gian đô thị được mở ra với những quá trình phức tạp hơn là chỉ dừng lại ở việc củng cố các mối quan hệ cũ và thiết lập các mối quan hệ mới. Hiểu được mục đích của các mối quan hệ trong tiến trình đám cười sẽ giúp ta giải thích được vì sao có sự chuyển dịch ranh giới giữa các cơ cấu được thực hiện thông qua những quà tặng và việc mời cưới.
Không gian đô thị được mở ra với những quá trình phức tạp hơn là chỉ dừng lại ở việc củng cố các mối quan hệ cũ và thiết lập các mối quan hệ mới. (Ảnh: minh họa - Nguồn: Internet)
Bài viết “Mời cưới ở Hà Nội và quản lí và các mối quan hệ đã gợi ra rất nhiều ý tưởng cho các nghiên cứu tiếp theo dựa trên nền tảng này như tìm hiểu mối quan hệ giữa nàng dâu mẹ chồng, tình trạng tách ra ở riêng của các cặp vợ chồng trẻ, hay so sánh các nghi lễ trong đám cưới ở miền Bắc với miền Trung và miền Nam…. Về phần tôi, dựa trên những kết luận thu nhận được từ bài viết của tác giả, tôi muốn mở thêm các đối tượng chủ thể trong quá trình quản lí quan hệ để tìm hiểu sự thay đổi trong mục đích thiết lập quan hệ của các đối tượng. Qua việc đưa thêm yếu tố thời gian và trải nghiệm cá nhân vào các đối tượng chủ thể, tôi muốn xác nhận xem liệu có còn sự khác nhau nào nữa không. Theo tôi, yếu tố trải nghiệm có một tác động rất mạnh mẽ trong quá trình quản lí các mối quan hệ và tôi muốn kiểm định điều đó qua các đối tượng phỏng vấn có chọn lựa của mình.
Tóm tắt bài viết chọn lựa - “ Mời cưới ở Hà Nội và quản lí các mối quan hệ” của Alexander Soucy ở saint Mary’s University, Halifax, Canada.
Đầu bài viết, tác giả đi tìm hiểu lại các nghiên cứu về đám cưới Việt Nam trước đây. Đối với những bài viết của các tác giả Việt Nam, tác giả nhận thấy các tác phẩm này chủ yếu viết về nghi thức cưới hỏi nói chung, chủ yếu nói về tập quán của ngưới Việt Nam. Tuy nhiên tác giả thấy những tác phẩm này chủ yếu dừng lại ở mô tả mà chưa khai thác được tầm quan trọng của các buổi lễ trong việc hình thành các mối quan hệ tình cảm và ơn nghĩa. Đối với các nghiên cứu của các học giả phương Tây, tác giả thấy mối quan tâm chủ yếu của họ tập trung vào những nổ lực của chính phủ trong việc cải cách thủ tục cưới hỏi trong giai đoạn tập thể hoá và những thay đổi đã diễn ra từ khi đổi mới. Kết quả của những nghiên cứu này tường thuật những vấn đề nổi cộm và phô trương địa vị xã hội phổ biến từ đầu thập niên XX. Tác giả đã kiểm chứng điều này và thấy nó phản ánh hoàn toàn đúng với những gì tác giả nhìn thấy ở Hà Nội. Cũng thông qua các đề tài nghiên cứu này, tác giả cũng thấy được một vài nhận định quan trọng  như: củng cố, mở rộng mạng lưới xã hội thông qua thiết lập tình cảm và xác lập địa vị xã hội thông qua việc phô trương sự giàu có là hai khía cạnh có liên quan đến nhau. Đây cũng là lí do chủ yếu cho việc mở rộng quy mô của đám cuới. Việc giao và nhận quà là một phần trong hệ thống có đi có lại của làng xã mà thông qua đó người ta tái khẳng định và tái thiết lập các mối quan hệ xã hội.
Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu tác giả nhận thấy việc mời cưới là một quá trình phức tạp hơn là chỉ củng cố lại những mối quan hệ cũ và thiết lập các quan hệ mới. Vì thế mục đích của tác giả là đi chứng minh sự kiện cưới hỏi không phải là cơ hội để cụ thể hoá các quan hệ trước hay tạo ra mạng lưới quan hệ mà còn là cơ hội để điều chỉnh mạng lưới này. Thông qua đó loại bỏ các quan hệ không gần gũi về mặt tình cảm cũng như không thực dụng và củng cố lại những quan hệ tình cảm, có lợi trên thực tế. Theo tác giả, ở môi trường thành thị, cộng đồng được hình thành rất rõ ràng dựa trên mối quan hệ qua lại và tình cảm. Mối quan hệ này không chỉ đơn giản liên quan đến duy trì và xây dựng cộng đồng mà còn xác định lại ranh giới của cộng đồng.
Để chứng minh mục đích này, tác giả đã tiến hành làm những việc mà theo tôi là rất cần thiết và logic. Trong bài viết của mình, tác giả đề cập đến việc ông đúc kết những kết luận của mình dựa trên những hiểu biết mà ông đã có trước kia về đám cưới Việt Nam từ tháng 1/ 1987 đến năm 1998, 2000-2001, 2004- 2005, tham dự vào vào khoảng sáu đám cưới với các mức độ liên quan đến nhau. Ông còn tham gia với tư cách đại diện phía gia đình cô dâu, ở đám cưới này, ông không chỉ tham dự mà còn tham gia vào chuẩn bị cưới và mời cưới. Đặc biệt hơn nữa, ông đã lấy những kinh nghiệm và hiểu biết của chính bản thân ông khi cưới một phụ nữ Hà Nội năm 1997 để soi sáng hơn cho vấn đề mà ông đang lập luận. Như vậy, tác giả rất có kinh nghiệm về việc nhìn nhận các vấn đề của đám cưới ở Việt Nam. Mặc dầu ông là một tác giả người nước ngoài nhưng việc ông tham dự rất sâu vào các đám cưới Việt đã làm cho tôi có cảm giác tin tưởng trong cách ông lập luận, đặc biệt là trong khía cạnh văn hoá.
Ngoài ra, tác giả còn tìm hiểu lại những nghiên cứu về đám cưới ở Việt Nam của các tác giả Việt Nam và nước ngoài. Theo tôi nghĩ, tác giả đã tìm hiểu một cách tổng quan tình hình và nội dung về các bài nghiên cứu của các học giả Việt nam và nước ngoài. Tuy nhiên, theo ông nhận xét, các tác phẩm này chủ yếu nằm ở bề mặt hình thức (đặc biệt là của các tác giả Việt Nam). Có thể mục đích mà ông quan tâm về đám cưới ở Việt Nam chưa được ai đề cập và vẫn còn là một mảnh đất màu mỡ để ông khai thác
Bên cạnh đó, tác giả quan tâm tìm hiểu mối liên hệ giữa ba khái niệm : mối quan hệ, tình cảm và ơn. Ba khái niệm trên được ông triển khai xoay quanh hai ý kiến được đưa ra :
+ Ý kiến một: mời cưới là để xây dựng, duy trì, hay tăng cường các mối quan hệ xã hội, ý kiến này nhấn mạnh nhiều đến yếu tố kinh tế.
+ Ý kiến hai : mời cưới đề cao tầm quan trọng của tình cảm, nó không đơn thuần là một công cụ để vay vốn mà là một khía cạnh có giá trị của mối quan hệ.
Dựa vào các ý kiến đó, đưa vào nghiên cứu trường hợp tại Việt Nam, tác giả đã thiết lập một lập luân chặt chẽ giữa mối quan hệ, tình cảm và ơn. Đó là quá trình đi sâu vào phân tích các khái niệm. Các nghiên cứu ở Trung Quốc chú trọng vào việc trao đổi quà tặng để chỉ ra rằng không có sự phân tách rõ ràng giữa trao đổi quà tặng và trao đồi hàng hoá do đó rất khó phân biệt giữa khía cạnh kinh tế, chính trị và khía cạnh tình cảm. Về mặt này, tác giả đã đưa ra kết luận của Kipnis xem đó như một nhận định xác đáng về mối quan hệ giữa quanxis và ganging, đại ý là : tặng quà tạo nên quan hệ, bằng hình thức tặng quà, dân làng đã quản lý các mối quan hệ, trao đổi vật chất trực tiếp sinh ra tình cảm và quan hệ. Khi tặng quà, mối liên quan giữa cảm giác và mối quan hệ đóng vai trò như sự liên kết giữa quá khứ, hiện tại và tương lai. Cảm giác xuất hiện lúc hiện tại gợi ra những hồi ức quá khứ. Sự mang ơn về vật chất trong quá khứ sẽ dẫn đến việc trao đổi trong tương lai.
Ở Việt nam, qua trình tương tự cũng xảy ra như vậy. Tình cảm là mặt đáng quý của mối quan hệ và xây dựng tình cảm là trọng tâm dẫn đến mục đích của việc tiến hành hôn lễ. Cùng lúc đó, khái niệm của người Việt về “ơn” về căn bản cũng quan trọng. Làm ơn, cảm ơn, biết ơn được hiểu rành mạch và sâu sắc. Khái niệm về ơn hiểu theo nghĩa rộng là cách giải thích mà tác giả cho là tốt nhất khi ông nhận định: “ở khía cạch kinh tế, không thể phủ nhận được ở Việt Nam có lẽ còn vượt quá những gì mà chúng ta chứng kiến ở Trung Quốc. Thông qua ý thức mang ơn lúc nào cùng thường trực trong đầu mà mối quan hệ được duy trì. Do đó, “ơn” không phải là món nợ vật chất mà là món nợ tinh thần. Ở Việt Nam, “ơn” đóng vai trò như là phương tiện để trao đổi như tiền tệ và làm ơn cho người khác không khác mấy sở hữu vốn xã hội trong tay nếu không muốn nhấn mạnh hơn khía cạch thực dụng của chữ “ơn” mà tác giả đã từng trải nghiệm. Tuy nhiên, trong các mối quan hệ, tình cảm cũng có ảnh hưởng đến khía cạnh thực dụng của cái gọi là có đi có lại. Trong đa số các trường hợp, cần có sự cân bằng giữa ơn và tình cảm. Mức cân bằng này được hiểu tốt nhất với sự tham khảo cơ cấu của mối quan hệ trong guanxi mà Yan trình bày bao gồm phần trung tâm và phần ngoại vi với các vùng như: trung tâm cá nhân (các thành viên trong gia đình và những người có quan hệ họ hàng), vùng có thể tin cậy được (bạn bè tốt), vùng có ảnh hưởng (bao gồm rộng hơn từ quan hệ họ hàng, đồng nghiệp, bạn bè, và những người cùng làng). Bên ngoài vùng trung tâm là vùng ngoại vi bao gồm cộng đồng làng xã và những người sống bên ngoài làng. Cơ cấu này rất hữu ích cho việc hiểu biết mức độ về mối liên hệ giữa các quan hệ. Khi tác giả phân tách nhóm trung tâm và nhóm ngoại vi, ông chú ý đến quan hệ thực dụng và quan hệ diễn cảm. Sự khác biệt giữa hai chức năng này được phân biệt bởi tính chất của quà tặng. Trong chức năng biểu cảm, mối quan hệ quyết định món quà được tặng, còn đối với quan hệ thực dụng, bản thân quà tặng sẽ xác định mối quan hệ. Nói một cách khác, trao đổi trong quan hệ thực dụng là vị lợi. Dựa trên việc phân tích cơ cấu mà ông tham khảo của Yan, tác giả tìm hiểu mức độ thân thiết về mặt quan hệ giữa khách và người mời cưới thông qua việc khách được mời than dự như thế nào, cách thức mời khách, sự phân chia lễ ăn hỏi.
Sự tham gia về các giai đoạn:                                                                                                    
- Vùng trung tâm: tham dự toàn bộ quá trình.
- Vùng có thể tin cậy được: tham dự lễ ăn hỏi và một số ăn ngọt, tất cả ăn mặn, đa số đưa đón dâu.
- Vùng có ảnh hưởng: một số ăn ngọt, một số ăn mặn.
- Vùng ngoại vi: ăn mặn, một số ăn ngọt nếu không thể đến dự tiệc cưới.
 Cách thức mời khách
- Vùng trung tâm: đích thân mời kèm với lễ
- Vùng có thể tin cậy được: đích thân mời, đôi khi kèm lễ
- Vùng có ảnh hưởng: đích thân mời nếu thân thiết hơn, nhưng có thể chỉ qua điện thoại nếu không thân thiết
- Vùng ngoại vi thực dụng: đích thân mời
Như vậy, tác giả lấy mức độ thân mật của các mối quan hệ để đi đến đánh giá các lựa chọn mà người mời nghĩ là cần loại bỏ hay giữ lại từ đó đẩy đến vấn đề mà ông muốn chứng minh : quan hệ không thể cố định mà được điều chỉnh không ngừng. Chính vì thế có một số quan hệ được dịch chuyển gần hơn trong khi một số quan hệ khác lại dịch chuyển xa hơn khỏi trung tâm
Theo tôi khả năng dẫn dắt vấn đề của tác giả rất nhất quán mạch lạc. Ông biết cách khai thác nguồn tư liệu sẵn có từ các nghiên cứu của người khác và lấy nghiên cứu thực địa để kiểm nghiệm điều đã được xác nhận. Đồng thời ông khéo léo dùng phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp để dẫn dắt vấn đề theo một hệ thống làm cho người đọc không có cảm giác bài viết rới rác giữa lí thuyết có được, kết quả mô tả và phân tích vấn đề. Phân tích việc mô tả tiến trình mô tả lại đám cưới và những phân tích liên hệ sau đó để đánh giá  sự thân thiết của các mối quan là một ví dụ thể hiện cách làm việc rất khéo léo và có ẩn ý của ông.
Mặc dù tôi là người Việt nam, cho đến nay, tôi vẫn chưa thật sự hiểu lắm về đám cưới của người Việt từ cách tổ chức cho đến các bước nghi lễ. Tôi nhận thấy đó là một điểm yếu rất lớn khi tôi không thể ghi nhận những thông tin qua quan sát tham dự. Tôi lựa chọn đề tài này dựa trên những gì tôi thu nhận được từ bài viết của tác giả. Vì vậy chắc chắn có sự khác biệt trong sự nhận thức về khái niệm “quản lí các mối quan hệ” giữa tôi và tác giả.
Mục đích mà tôi hướng đến là qua việc phân tích sự lựa chọn các đối tượng mời cưới, thái độ trong việc thiết đãi khách, quan hệ sau khi quen biết … của các thông tín viên theo đối tượng tôi đã phân chia, tôi muốn xem xét tương quan giữa người mời cưới và người được mời trong mục đích duy trì và thiết lập các mối quan hệ thay đổi như thế nào qua thời gian và trải nghiệm của cá nhân.
(Còn tiếp)
Ngọc Lưu

Ảnh cưới Hà Nội xưa

Written By kuxh on 19/08/2010 | 05:18

Tôi lấy vợ năm 1975, lễ cưới được tổ chức tại Hội trường Báo Ảnh Việt Nam - 79 Lý Thường Kiệt vào một ngày bình thường, trong giờ hành chính, như yêu cầu của đồng chí Phó TBT Báo Ảnh Nguyễn Thanh Địch “để anh em dự cho tiện lợi, đỡ mất công mất việc”.

Vài ngày trước lễ thành hôn, bác Địch căn dặn: “Hà Nội đang có phong trào nếp sống mới, đừng thuê ôtô cho phức tạp. Cậu học ở Liên Xô nên càng phải gương mẫu. À, nhớ cắt tóc đi nhé! Tóc hơi dài đấy”. Hồi đó, ai có điều kiện thì thuê ôtô chở khách, vài ba chục chỗ. Hiếm xe lắm, có chiếc vừa đi chở khách từ các tỉnh về đã lao vào phục vụ đám cưới, xe chưa kịp dọn dẹp, rửa cho sạch sẽ.

Nghe lời dặn của thủ trưởng, tôi vội đi cắt tóc sao cho càng cao càng tốt, đi liên hệ vài chiếc xe xích lô để đón dâu (từ chùa Tô Hoàng - Bạch Mai sang Lê Đại Hành cách nhau chừng 1km). Ba xe xích lô này còn có nhiệm vụ khác là chở bánh kẹo, phích nước sôi và ấm chén từ nhà tôi lên cơ quan ở phố Lý Thường Kiệt để ra mắt họ hàng và toàn cơ quan.

Thời đó, cán bộ, công nhân viên, nhà báo khi lấy vợ lấy chồng đều trông nhờ vào cơ quan bởi chỉ ở đó mới có chỗ ngồi cho vài chục người, chứ đâu có nhà hàng, khách sạn như bây giờ. Mọi thủ tục cưới thật đơn giản, không có ăn mặn, rót rượu, cắt bánh, chiếu phim như bây giờ.

Là cơ quan nhiếp ảnh nên Báo Ảnh quy định, ai lấy vợ lấy chồng thì cơ quan làm quà cho 1 bộ ảnh trọn vẹn gồm: 1 cuộn phim ORWO đen trắng và phóng đủ 36 kiểu.

Tôi ở Nga về phép cũng được hưởng tiêu chuẩn này. Công đoàn cử hẳn một phóng viên giỏi là anh Trọng Thanh chụp cho tôi. Anh Thanh vừa nhận 1 cuộn ORWO đen trắng mới thì bác Minh Đường (PV lão làng, bố của nhà báo Minh Quốc - Báo Ảnh Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh) yêu cầu: “Để tao chụp cho Vũ Huyến vì chính tao dẫn nó đi chụp khi nó mới vào nghề. Bây giờ nó lấy vợ. Việc đó phải để cho tao”.

Bác Minh Đường có chiếc máy của CHDC Đức Pratica mới lĩnh nên khai trương luôn trong đám cưới Vũ Huyến. Ngày cưới, khoảng 3h chiều, trên tầng 2 Báo Ảnh Việt Nam vào lúc trời nắng chang chang, bác Minh Đường cẩn thận lắp thêm đèn chụp cỡ lớn, lại tiện trong máy có cuộn phim 27 DIN. Thế là cuối cùng phim bị quá sáng, 1 cuộn chỉ được hơn 10 kiểu.

Thời bao cấp, do phải chống trả cuộc chiến tranh bằng không quân của đế quốc xâm lược, lo cho chiến trường miền Nam, sinh hoạt vật chất và điều kiện làm việc của các nhiếp ảnh Việt Nam ở miền Bắc rất thiếu thốn. Tuy vậy họ vẫn được Nhà nước ưu tiên, phóng viên nhiếp ảnh, quay phim được mua tiêu chuẩn gạo hàng tháng tương đương như tiêu chuẩn của bộ đội lái máy bay và lính xe tăng, mỗi tháng được gần 20kg gạo. Các thiết bị nhiếp ảnh chỉ được nhập qua 2 nguồn sản xuất là Liên Xô và CHDC Đức. Máy ảnh Nga dễ chụp, có độ bền nhưng chất lượng ống kính có hạn, máy ảnh Đức thì hay hỏng vặt và ống kính hay bị mốc, các loại ống kính phụ thường dùng là telé 135mm và góc rộng 28 hoặc 35mm...

Đi chụp cưới ai có télé 135mm là đủ rồi. Còn phim chụp do Liên Xô (các loại CBEMA hay ILFO) hoặc ORWO ZODIN của Đức, ai từ nước ngoài về thì dùng phim INFOC hay Kodak.

Người Hà Nội và các thành phố ở miền Bắc những năm 60 thường chơi ảnh cưới cỡ 6x9cm, từ những năm 70 là cỡ ảnh 9x12, thường chỉ 1 cuộn là đủ rồi, trong đó 5 kiểu ăn hỏi, 5 kiểu đón dâu, 10 kiểu tại hội trường, non nửa cuộn còn lại dành riêng cho cô dâu chú rể tại phòng riêng chụp sau khi từ lễ cưới trở về. Bố cục và nội dung ảnh của mọi đám cưới thường như nhau: Tại nhà gái là ảnh chụp mẹ và con gái trước lúc về nhà chồng, anh chị em nhà gái, cô dâu và bố mẹ, nhà trai đến dự, trao hoa, chú rể chụp chung với gia đình nhà mình, với tập thể bạn bè, cô bác thật thân.

Hồi đó, chưa lấy nhau, chưa đón dâu là chưa chụp ảnh cùng nhau. Tới những năm 80, vào đầu thời kỳ đổi mới, phim màu làm ảnh mới được sử dụng trong đám cưới. Ở Hà Nội mỗi đám 1 cuộn đen trắng và 10 hoặc 15 kiểu ảnh màu. Ở nông thôn hay miền núi, phải nhà có máu mặt mới chụp ảnh màu. Năm 1989, ở Hà Nội có vài tiệm làm ảnh Minilap, trong đó có 1 tiệm của Báo Ảnh Việt Nam lấy tên Photocen do anh Lê Phúc làm Giám đốc. Vài năm sau, ăn nên làm ra, Báo Ảnh mở Photocen 2 tại phố Ngô Thì Nhậm, giao cho tôi phụ trách. Tôi nhớ cái Tết đầu của Photocen 2 có tới hơn 1.000 tấm ảnh màu, trong đó có vài trăm chiếc là ảnh chụp lễ cưới.

Bây giờ Hà Nội , thành phố Hồ Chí Minh và cả nước có bao nhiêu tiệm làm ảnh bằng máy KTS, cả nước có bao nhiêu máy ảnh số? Hẳn không ai đếm được và đám cưới ở Việt Nam, đặc biệt ở thành phố Hồ Chí Minh, chi bao nhiêu tiền cho việc chụp ảnh, làm phim? Hẳn không ai đoán được! Nhưng nhắc lại việc chụp ảnh cưới, chỉ qua vài chục năm đủ thấy xã hội Việt Nam, nghề ảnh cưới ở Việt Nam đã phát triển như thế nào?

Nguồn: An ninh thủ đô

 
Support : Creating Website | Johny Template | Mas Template
Copyright © 2011. Bảo tàng Ký ức Xã hội - All Rights Reserved
Template Created by Nhật Nguyên Published by Nhật Nguyên
Proudly powered by Nguyễn Đức Lộc