Tin mới :

Latest Post

Hiển thị các bài đăng có nhãn 1945-1954. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn 1945-1954. Hiển thị tất cả bài đăng

Bài diễn văn lừng lẫy của Phan Châu Trinh đọc tại Sài Gòn năm 1925 (4)

Written By kuxh on 05/04/2012 | 12:35


 SAO GỌI LÀ DÂN CHỦ?

Câu này ở Châu Âu thì không cần phải cắt nghĩa cho nhiều, nhưng mà ở trong xứ mình thì tôi cắt nghĩa mau mau để cho người ta hiểu cái đại lược. Lịch sử – bất cứ là dân nước nào số người học thức  cũng là phần ít cả, thường thường nhờ cái đảng thượng lưu, trung lưu dìu dắt nó đi ấy lẽ thường. 

Nhưng mà duy có dân châu Âu khác với dân ta có một việc; là từ khi bắt đầu mới khởi ra thì họ cũng sùng trọng quân chủ. Nhưng không biết thế nào hồi nước Hy Lạp họ lại có cái hộ gọi là Trưởng giả hội nghị, thì do ông vua nhóm họp lại những bậc quí tộc mà lập pháp luật ban cho dân. Lại có một cái hội tên là Quốc dân hội nghị, phàm những luật lệ mà ông vua cùng những người quí tộc đã đặt ra thì phải giao cho hội ấy xem có bằng lòng thì mới được làm. 

Sau đến nước La Mã thì có hội nghị "một trăm người" thì lấy trong quân lính mà sắp đặt ra hội ấy, phàm xứ ấy có việc gì lôi thôi thì hội ấy bàn. Còn sau đến hồi dòng vua La Mã đã mất, thì có một cái hội "La Mã nguyên lão viện", lại một hội "La Mã bình dân viện". Cho nên sau khi La Mã đổi làm đế quốc chuyên chế mà cái phép La Mã cũng phát đạt luôn luôn. Bây giờ các nước đâu đâu cũng bắt chước La Mã cả. Trong một lối từ khi mọi Nhật Nhĩ Man tràn xuống phá La Mã đế quốc, các nước châu Âu được độc lập hết cả, thì cái chính thể hội nghị ấy đã mất đi đến mấy trăm năm. Lạ lùng thay người nước anh còn giữ lại được gọi rằng "Nhân dân hội nghị", "Hiền giả hội nghị", hai hội ấy đều là vua nhóm những kẻ tài trí trong dân gian để giao cho cái quyền "lập pháp". Đến nay thành ra cái Hạ Nghị Viện của Anh bây giờ, mà đến thế kỷ 17-18 lại truyền bá ra cả lục địa châu Âu. Ấy là nói lược qua cả lịch sử dân quyền châu Âu. 

ĐÂY TÔI XIN NÓI QUA CHÍNH THỂ DÂN CHỦ LÀ THẾ NÀO? 

Bây giờ bên châu Âu trừ nước nào dân còn ngu dại, còn thì theo chính thể dân chủ. Đây tôi nói về cái chính thể bên Pháp - ở trong nước có một Hạ Nghị Viện quan hệ nhất. Số nghị viện thì trên dưới sáu trăm, dân đúng hai mươi mốt tuổi trở lên thì ra bầu cử. Dân hai mươi lăm tuổi trở lên thì được ra ứng cử. Được cử rồi thì gọi là Hạ Nghị Viện. 

Số phận của nước Pháp cầm ở trong tay cái hội ấy, hội ấy thì chủ quyền để lập pháp luật. Thứ nữa có một Nguyên Lão Nghị Viện. Cái viện ấy lại không phải dân cử. Các hội đồng ở các tỉnh các hội nào mà nhà nước đã nhận có cái nhân cách, và những người làm việc nhà nước thì lại ra ứng cử. Hội ấy thì để coi về việc tiền bạc. 

Khi nào bắt đầu đặt Tổng Thống, hay là thiếu mà đặt lại, thì hợp số người trong hai viện ấy lại làm bỏ thăm. Người ta ứng cử cũng là ở trong hai viện ấy. Ai được nhiều thăm thì làm Tổng thống. Khi Tổng thống đã được bầu cử rồi, thì phải thề trước mặt hai viện ấy rằng: "Cứ giữ theo hiến pháp dân chủ, không phản bạn, không theo đảng này chống đảng kia, cứ giữ công bình, nếu có làm bậy thì dân cứ trục xuất ngay". 

Trước thì có Mac Mahon, sau thì có Millerand bị cách chức, cũng vi phạm hiến pháp. Còn chính phủ thì cũng bởi trong hai viện ấy mà ra. Nhưng mà giao quyền cho đảng nào chiếm số nhiều ở trong hai viện ấy thì được tổ chức Quốc vụ viện (tức là chính phủ, tòa nội các). 

Theo Quốc vụ viện bây giờ chừng đâu cũng đến vài chục bộ, nhưng không phải ăn rồi ngồi không, vênh râu lên đó như mấy ông Thượng thư ta đâu. Ông nào cũng có trách nhiệm ông ấy cả. Nếu cái gì  mà làm không bằng lòng dân, thế nào cũng có người chỉ trích. Bởi vì ở trong hạ nghị viện thế nào cũng  có hai đảng, một đảng tả một đảng hữu; nếu cái đảng tả chiếm số nhiều mà cầm quyền trong nước thì đảng hữu xem xét chỉ trích; cho nên có muốn làm bậy cũng khó lắm. 

Trong nước đã hiến pháp, ai cũng phải tôn trọng hiến pháp. Cái quyền chính phủ cũng bởi hiến pháp qui định cho, lười biếng không được, mà dẫu muốn áp chế cũng không chỗ nào thò ra được. Vả lại khi có điều gì phạm đến pháp luật, thì người nào cũng như người nào, từ ông Tổng Thống cho đến một người nhà quê cũng đều chịu theo một pháp luật như nhau. 

Các quan chức về việc cai trị chỉ có quyền hành chính mà thôi, còn quyền xử đoán thì giao cho các quan án là những người đã học giỏi luật lệ, có bằng cấp. Các quan ấy thì chỉ coi về việc xử đoán, có độc quyền độc lập, cứ theo lương tâm công bình, chiếu theo pháp luật mà xử, xử chính phủ cũng như xử một người dân. Các quan án ở về một viện riêng gọi là Viện Tư Pháp. Quyền tư pháp cũng như quyền hành chính của chính phủ, và quyền lập pháp của nghị viện, đều đứng riêng ra không họp lại trong tay một người nào. Đây là nói sơ lược mà thôi, muốn hiểu kỹ cái chính thể dân trị thì phải chuyên môn mới được. Xem vậy thì biết dân trị tức là pháp trị (lấy phép mà trị người). 

Vì quyền lợi và bổn phận của mọi người trong nước đều có pháp luật chỉ định rõ ràng, không khác gì là đã có đường gạch sẵn, cứ trong đường ấy mà đi tự do. Muốn bước tới bao nhiêu cũng không ai ngăn trở, chỉ trừ khi nào xâm lấn đến quyền lợi của người khác thì không được. Vì đối với pháp luật thì mọi người đều bình đẳng không có ai là quan, ai là dân cả.

 * * * 

So sánh hai chính phủ quân trị và dân trị, ta thấy chủ nghĩa dân trị hay hơn chủ nghĩa quân trị nhiều lắm. Lấy theo ý riêng của một người hay là của một triều đình mà trị một nước, thì cái nước ấy không khác nào một đàn dê, được ấm no vui vẻ là phải đói rét khổ sở chỉ tùy theo lòng của người chăn. Còn như theo cái chủ nghĩa dân trị, thì tự quốc dân lập ra hiến pháp, luật lệ, đặt ra các cơ quan để lo việc chung cả nước, lòng quốc dân muốn thế nào thì làm thế ấy. 

Dù không có người giỏi làm cho hay lắm, cũng không đến nỗi phải đè đầu khốn nạn làm tôi mọi một người, một nhà, một họ nào. Xét lịch sử xưa, dân nào khôn ngoan biết lo tự cường tự lập, mua lấy sự ích lợi chung của mình thì càng ngày càng bước tới con đường vui vẻ. Còn dân nào ngu dại cứ ngồi yên mà nhờ trời mà mong đợi mà trông cậy ở vua, ở quan, giao phó tất cả những quyền lợi của mình vào trong tay một người, hay là một chính phủ muốn làm sao thì làm, mà mình không hành động, không bàn luận, không kiểm xét thì dân ấy phải khốn khổ mọi đường. Anh em chị em đồng bào ta đã hiểu thấu các lẽ, thì phải mau mau góp sức lo toan việc nước , mới mong có ngày cất đầu lên nổi!

Từ Hà Nội đến Sài Gòn 1954 - 1975

Written By kuxh on 11/02/2012 | 09:12

Đường phố Hà Nội, hình chụp vào tháng 7 năm 1954.
(HÌNH ẢNH: VNCTLS sưu tầm)

Hình chụp vào tháng 9 năm 1954 với một số người Bắc di cư trên tàu USS Bayfield khi tàu vừa cặp bến Saigon. Sau Hiệp Định Geneve, tàu USS Bayfield là một trong những vận-chuyển hạm của Hải Quân Hoa Kỳ được giao phó nhiệm vụ chở người tị nạn từ Bắc vào Nam. (HÌNH ẢNH: Trung Tâm Quân Sử Hải Quân Hoa Kỳ).
Hình chụp tại Saigon vào tháng 10 năm 1954 trong một trại định cư với hàng trăm căn lều. Lúc đó, một trong những trại định cư lớn nhất ở Saigon là trại Phú Thọ Lều được thiết lập tại Quận 10 sát bên trường đưa Phú Thọ. Trại này có lúc đã chứa đến 10,000 người di cư. (HÌNH ẢNH: VNCTLS sưu tầm).


Sài Gòn năm 1975

Người đàn bà tặng hơn 5.000 lượng vàng cho cách mạng

Written By kuxh on 07/09/2010 | 17:12

Hơn 90% số tiền buôn vải được vợ chồng bà Hồ dùng để ủng hộ cách mạng. Có khi trong nhà không sẵn tiền mà đúng lúc cách mạng cần, bà sẵn sàng bán phá giá vải để gom đủ tiền đưa cho cán bộ.


Ở tuổi 97, bà Hoàng Thị Minh Hồ vẫn giữ nét đẹp của người phụ nữ Hà Nội gốc: Gương mặt phúc hậu, nước da trắng, giọng nói ấm áp và thái độ điềm đạm. Trong ngôi nhà số 34 Hoàng Diệu (Hà Nội), nơi bà sống cùng hai con trai, hai chiếc huân chương độc lập hạng nhất được đặt nơi trang trọng nhất. Bà cho hay, đó là phần thưởng cao quý mà nhà nước dành tặng người chồng quá cố Trịnh Văn Bô và bà vì những đóng góp to lớn cho cách mạng.


Giữ giọng chậm rãi, bà Hồ kể, ngôi nhà số 48 Hàng Ngang của bà trước kia là tiệm vải Phúc Lợi, thuộc loại lớn nhất Hà Nội thời bấy giờ. Có điều kiện dư dả, hai ông bà thường xuyên làm từ thiện, giúp đỡ người nghèo. Thấy vậy, cán bộ Việt Minh đã đến nhà vận động ông bà đi theo cách mạng. Việt Minh khó khăn, không có tiền ra báo, bà đã ủng hộ 8 vạn rưỡi tiền Đông Dương. Ngôi nhà số 48 Hàng Ngang cũng được chọn làm trụ sở hoạt động của cách mạng.


Bà Hồ cho biết, thân sinh ra bà là cụ Hoàng Đạo Phương và Nguyễn Thị Lợi cũng như thân sinh của chồng bà, cụ Trịnh Phúc Lợi, đều là những nhà Nho yêu nước, từng tham gia Đông Kinh Nghĩa Thục. Tất cả đều đỗ đạt mà không ai làm quan. Cụ Phương khi gần 80 tuổi đã gọi các con lại nói rằng: "Ta đã già mà chưa làm trọn việc nước, sau này con nào có điều kiện giúp nước thì hãy làm thay ta".


"Lời căn dặn của cha tôi luôn khắc ghi trong lòng. Và khi có điều kiện là tôi giúp nước ngay mà không hề suy nghĩ", bà Hồ tâm sự.
Có lẽ suốt đời làm việc thiện nên ông trời phù hộ, 97 tuổi rồi bà Hồ vẫn còn minh mẫn lắm.




[caption id="" align="aligncenter" width="480" caption="97 tuổi , bà Hồ vẫn còn minh mẫn. Ảnh: Hoàng Thùy."][/caption]

Ngôi nhà số 48 Hàng Ngang được xây theo kiểu nhà ống cổ, gồm 4 tầng. Tầng một là cửa hàng vải Phúc Lợi nổi tiếng khắp vùng. Khách đến mua đông đúc, xung quanh lại tấp nập người qua lại nên được chọn làm nơi ở cho Bác Hồ cùng những nhà lãnh đạo cách mạng từ chiến khu trở về.


Bà Hồ nhớ, vào một buổi tối cuối tháng 8 năm 1945, ông Nguyễn Lương Bằng đến nhà bảo vợ chồng bà thu xếp một phòng đón cán bộ cách mạng đến ở. Ông bà dọn một phòng tầng 3 tươm tất để đón khách. Tuy nhiên, người khách mới đến lại dọn xuống tầng 2 để ở cùng mọi người cho tiện.


"Ấn tượng đầu tiên của tôi về người khách mới là sự giản dị. Ông cụ hơi gầy, vầng trán cao, râu dài, tóc bạc. Cụ mặc áo nâu, quần soóc nâu, đội mũ dạ, đi dép cao su hiệu con hổ trắng, tay cầm can. Để đảm bảo bí mật, chúng tôi nói với gia nhân rằng họ là người nhà ở dưới quê lên chơi và tất cả đều không được lên tầng 2 làm phiền", bà Hồ nhớ lại.


33 ngày Bác ở nhà bà (từ 24/8 đến 27/9), bà đều trực tiếp chỉ đạo nhà bếp nấu ăn phục vụ Người. Sau đó, hai vợ chồng bà thay nhau bê lên. Vào 9h hằng ngày, bà thường bê cháo và hoa quả lên cho Bác. Một hôm bà đang định quay gót thì Bác hỏi "Cô tên gì?". Sau khi bà trả lời, Bác lại nói "Cô còn trẻ mà đã có cơ đồ sự nghiệp, có chồng con, tiền bạc. Cô chẳng có gì khổ cả".


Nghe vậy bà Hồ khẳng khái nói: "Cháu vẫn có một điều khổ, đó là nỗi nhục mất nước". Bác cười: "Vậy thì kiên trì và nhẫn nại nhé!".

[caption id="" align="aligncenter" width="350" caption="Ngôi nhà số 48 Hàng Ngang, nơi Bác Hồ viết bản tuyên ngôn độc lập, nay đã trở thành một di tích lịch sử, là điểm đến của nhiều khách tham quan. Ảnh: Hoàng Thùy."][/caption]

"Ông cụ chăm chỉ lắm. Ngày nào cũng làm việc tới đêm khuya và thức dậy rất sớm để tập thể dục. Cụ cứ ngồi bên bàn làm việc, gõ lách cách. Có khi lại họp bàn với các đồng chí ở bên phòng lớn suốt đêm", bà Hồ kể.


Thấy sự kính cẩn mà cán bộ dành cho "ông cụ", bà thắc mắc với ông Lê Đức Thọ, Trần Đăng Ninh nhưng họ chỉ cười không nói gì. Một lần ông bà đón hai vị khách nước ngoài đến thăm "ông cụ". Rồi cụ đưa cho hai vị khách xem một bản thảo, một trong hai người nói rằng đoạn đầu quen quen. Cụ cười nói: "Đó là câu từ ở trong bản tuyên ngôn độc lập của nước bạn".


"Mãi sau này tôi mới biết bản thảo đấy chính là bản tuyên ngôn độc lập mà Người viết hàng đêm bên chiếc máy chữ", bà Hồ cho hay.


Bà Hồ bảo giờ phút mà bà không bao giờ quên được là buổi sáng 2/9/1945 tại quảng trường Ba Đình. Sáng hôm ấy, bà chuẩn bị tươm tất đến dự mít tinh, ông Bô đi cùng với Ủy ban hành chính Nhà nước. Khi đang xếp hàng ở Phan Đình Phùng, sau lời giới thiệu cụ Hồ Chí Minh lên đọc Tuyên ngôn độc lập, nghe giọng nói quen thuộc của "ông cụ", bà khóc òa sung sướng. Người khách bấy lâu ở trong nhà bà, được bà tận tâm chăm sóc chính là Bác Hồ kính yêu, là cụ Nguyễn Ái Quốc mà bà được đọc trên báo.


Sau ngày Quốc khánh, ban ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc ở phủ, tối vẫn về nhà bà Hồ để ở. Bác vẫn gần gũi, chân thành như "ông cụ ở quê lên chơi" ngày nào. Thời gian này, Bác nhờ ông bà Bô chuẩn bị một bữa tiệc chiêu đãi tướng quân Tưởng. Đồng thời, để cho chúng rút 20 vạn quân khỏi nước ta, Bác đã nhờ ông bà chuẩn bị tiền lót tay.


"Để có 200 vạn cho Tiêu Vân, 300 vạn cho Lư Hán và 500 vạn cho Ứng Khâm, tôi đã phải bán phá giá những xấp vải có trong nhà, vì dân kinh doanh đâu để nhiều tiền trong nhà", bà Hồ cười nói.




[caption id="" align="aligncenter" width="480" caption="Từ trái sang gồm nhà tư sản Hoà Tường, ông Trịnh Văn Bô, bà Hoàng Thị Minh Hồ, mẹ ông Trịnh Văn Bô, Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, nhà điền chủ Nguyễn Hữu Tiệp trước thềm Nhà hát Lớn tại Tuần lễ vàng 1945. (Ảnh tư liệu). "][/caption]


Gần như toàn bộ số tiền mà ông bà thu được từ việc kinh doanh vải đều dùng cho hoạt động cách mạng. Từ tháng 3/1945 đến hết tháng 5/1946, mọi chi tiêu, ăn mặc, tiếp khách của nhà nước đều do bà Hồ đài thọ. Những cán bộ ở tỉnh về không có quần áo tốt mặc, bà đã không ngần ngại lấy vải trong nhà, bảo thợ của gia đình may tặng. Chính vì những đóng góp ấy, sau này người Pháp đã ví bà là Bộ trưởng Tài chính của Việt Minh.


Nạn đói năm 1945, người tha hương khắp nơi đổ về Hà Nội. Ông bà Hồ đã xuất kho cứu đói khắp nơi. Khi Bác Hồ phát động “Tuần lễ vàng”, gia đình bà ủng hộ 117 lạng. Tổng cộng từ khi được giác ngộ, gia đình ông bà đã ủng hộ cách mạng 5.147 lạng vàng. Ngoài ra, bà thường xuyên đến các bạn hàng vận động ủng hộ tiền, vàng giúp đất nước.


Trong đêm kết thúc “Tuần lễ vàng”, bà Hồ không chút băn khoăn bỏ tiền mua đấu giá bức ảnh Bác Hồ với giá 10 vạn đồng. Sau này bà đã tặng lại UBND thành phố Hà Nội. Tổng số tiền trong đêm đấu giá là 1,58 triệu đồng Đông Dương. Đây là số tiền rất lớn trong điều kiện ngân khố nước ta chỉ 1,2 triệu tiền Đông Dương (toàn giấy 1 đồng, 5 hào, 2 hào, 1 hào), nhưng số thì rách, số thì cũ nát không tiêu được. Ngân khố quốc gia gần như trống rỗng.


Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, hai ông bà đã bỏ nhà lên chiến khu, từ bỏ cuộc sống sang giàu, ăn no mặc đẹp. Bà cho rằng, chỉ có nước nhà độc lập thì mình mới hết nhục. Vì thế những ngày ở rừng rú, ăn cơm vắt với măng rừng, bà vẫn cảm thấy hạnh phúc.


Con cái bà sau này không ai nối nghiệp làm kinh doanh, nhưng ai cũng trưởng thành, là những viên chức nhà nước. Nghĩ đến những năm tháng hoạt động cách mạng, bà cười hiền hậu và nói: "Nếu được lựa chọn lại, tôi vẫn dốc toàn bộ tiền bạc cho cách mạng. Tôi không hối hận vì những việc mình làm vì đó là trách nhiệm của một người dân trong thời kỳ đất nước khó khăn".


Hoàng Thùy
Nguồn: Vnexpress.net

Luật sư Phan Anh: Ký ức tháng Tám năm 1945

Written By kuxh on 06/09/2010 | 05:42


Sau cuộc đảo chính của quân đội Nhật Bản đêm mồng 9/3/1945, chủ quyền của Pháp ở Việt Nam không còn nữa. Và vua Bảo Đại đã cho mời một số nhân sĩ vào Huế để thăm dò ý kiến về thời cuộc. Luật sư Phan Anh và hai người nữa trong nhóm Thanh Nghị là Hoàng Xuân Hãn và Vũ Văn Hiền đã nhận được lời mời. Bà quả phụ của luật sư Phan Anh, Đỗ Thị Hồng Chỉnh, đã ghi lại lời kể của chồng mình về những ngày tháng đó.




[caption id="attachment_1771" align="alignright" width="166" caption="Luật sư Phan Anh. Ảnh: A.V."][/caption]

"Anh Phan (tức luật sư Phan Anh - người biên tập) kể rằng:

- Thời gian vào triều kiến Bảo Đại còn khoảng một tháng, nên anh tranh thủ nắm thêm tình hình, trước hết là lực lượng tiến bộ, những phần tử yêu nước, mà không tin vào Nhật, như bác sĩ Trần Văn Lai, Trần Hữu Chương, Trần Duy Hưng,... Tuy vậy, còn một tồn tại mà anh chưa cảm nhận đúng, đó là lực lượng to lớn của nhân dân đương tiến lên dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh, của Bác Hồ.

Bác sĩ Trần Duy Hưng đã đồng tình cùng đi vào Huế với anh, hai người đã hẹn hò nhau: 5 giờ sáng ngày hôm sau, bác sĩ Trần Duy Hưng đến 74 phố Hàng Bạc để cùng lên đường. Nhưng, buổi chiều trước ngày lên đường, anh Dương Đức Hiền (lúc ấy cũng đã rút vào bí mật) gửi đến anh một lá thư với lời khuyên: "Anh không nên vào Huế". Sáng hôm sau, anh Trần Duy Hưng cũng không đến. Nhưng, anh vẫn quyết định "cứ đi".

Vào đến Huế, anh Phạm Khắc Hoè - Đổng lý Văn phòng của Bảo Đại ra đón và đưa cả ba người vào nghỉ ở khách sạn Morin. Những người mà vua Bảo Đại muốn tiếp kiến lúc đó, có cả những người có tuổi như Trần Văn Thông (Tổng đốc Nam Định), Bảo Đại tiếp kiến từng người một. Và, anh là người vào cuối cùng… Câu chuyện tiếp kiến này, xoay xung quanh vấn đề nhận định tình hình. Bảo Đại hỏi anh về thanh niên Việt Nam. Anh cho Bảo Đại biết rằng: Phong trào sinh viên là sôi nổi, đó là hoạt động của những thành phần yêu nước.

Đi vào phân tích tình hình xã hội nước ta, anh đã lưu ý Bảo Đại tới bọn thân Nhật, làm cho Bảo Đại thấy cần phải chú ý chặn tay bọn này. Vì, trong nước chúng có thể gieo nhiều tai họa cho đồng bào, gây nên cảnh "nồi da nấu thịt". Và, trên trường quốc tế, chúng có thể câu kết với Nhật, đưa nước nhà đi đến chỗ phiêu lưu, chống lại Đồng Minh…

Anh cũng lưu ý Bảo Đại tới những người có quan điểm như nhóm Thanh Nghị, họ đi theo đường lối chống Pháp, giữ thái độ trung lập với Nhật (nghĩa là không ngoặc sâu với Nhật) để giữ thế giao hảo với Đồng Minh. Đề cập đến vấn đề chính phủ, Bảo Đại hỏi: "Nên như thế nào?". Anh trả lời: "Vấn đề chủ yếu là giữ được thế trung lập, đặc biệt là không chống những người thuộc lực lượng "cánh tả" như Việt Minh".

Đi sâu vào vấn đề này, Bảo Đại lại hỏi về vai trò của sinh viên. Anh nói: Nguyện vọng của sinh viên và thanh niên nói chung là chống sự quay trở lại của thực dân Pháp. Và, việc thành lập chính phủ cũng nhằm mục đích đó… Chính phủ chủ yếu là phải nhằm chính sách chống lại bọn cơ hội thân Nhật, chống cảnh nội chiến, và đặc biệt tránh mưu đồ của Nhật dùng thanh niên ta chống quân Đồng Minh”…

Nhân đây, tôi cũng muốn nói một chút về những người cộng sự mà gần gũi với anh là anh Hoàng Xuân Hãn,... (Tuy nhiên, cũng xin có một lưu ý, đó là chưa hỏi được hết về những người bạn của anh mà tôi muốn hỏi, thì anh đã đột ngột ra đi, nay đành phải bằng lòng với những cái gì mình đã có. Ví dụ như tôi đã hỏi được về anh Hoàng Xuân Hãn, anh Tạ Quang Bửu,...).

“Anh Phan kể:

- Anh biết anh Hoàng Xuân Hãn vào khoảng 1934 - 1935 là một trí thức có tiếng trong giới du học sinh ở Pháp về. Nhưng, chỉ biết thế thôi, không có quan hệ gì đặc biệt, vì mỗi người ở mỗi hoàn cảnh, mỗi người làm một nghề. Anh Hoàng Xuân Hãn là Giáo sư về toán học, còn Anh là sinh viên luật học và đi dạy văn học ở trường tư.

Anh Hoàng Xuân Hãn là công chức cao cấp, còn anh là sinh viên nghèo. Nhưng, có lẽ cái giống nhau lúc đó là ở chỗ: tinh thần yêu nước. Cái tinh thần đó, trước đã có ở các anh. Nghĩa là, anh Hoàng Xuân Hãn cũng như anh đã được hun đúc tinh thần yêu nước chống ngoại xâm trong các gia đình nhà Nho vùng Nghệ Tĩnh, nay càng rõ hơn và phát triển thêm để cùng nhau tìm cách làm một việc gì đó ngoài việc thực thi kế sinh nhai.

Khi anh làm luật sư, một nghề tự do và đã có kinh nghiệm hoạt động trong giới sinh viên và thanh niên, thì anh đã cùng một nhóm bạn lập ra Tạp chí Thanh Nghị, và anh Hoàng Xuân Hãn đã tham gia viết bài cho tạp chí đó. Từ cái quen thuộc bạn bè thường, tình bạn của hai bên đã hướng vào mục tiêu cụ thể hơn, đó là dùng ngòi bút để hoạt động chính trị...

Chính trong thời gian 1940-1944, thế giới đi vào chiến tranh và Việt Nam bị Nhật chiếm đóng. Cái ác cảm đối với "bọn quân phiệt Nhật", cái nghi ngờ đối với "bọn cánh tả Pháp" là chỗ giống nhau giữa những người trí thức yêu nước, muốn nhân tình hình mới này, mà tìm cách thoát khỏi vòng nô lệ. Cái mẫu số chung đó của giới trí thức Hà Nội lại càng làm cho tình bạn giữa anh và anh Hoàng Xuân Hãn gắn bó hơn, thắm thiết hơn.

Và, cùng vì cái đồng thanh, đồng khí đó đã đưa anh Hoàng Xuân Hãn, anh và anh Vũ Văn Hiền trong nhóm Thanh Nghị tham gia Chính phủ Trần Trọng Kim. Ba người cùng nhau đi một đoàn xe bí mật vào Huế để gặp nhà vua. Và, khi trao đổi ý kiến về việc chọn người cầm đầu Chính phủ là ông Trần Trọng Kim (lúc đó chưa có mặt ở Huế) thì ba anh em trong nhóm Thanh Nghị lại trở ra Hà Nội để theo dõi tình hình biến chuyển.

Gần một tháng ở Hà Nội, tình hình Nhật càng bị sa lầy và phải dựa vào bọn công chức Pháp để lấp chỗ trống. Nhóm Thanh Nghị, đứng trước nguy cơ Nhật giữ công chức Pháp ở lại các công sở để có con bài khi Nhật cần mặc cả, đã xác định đường lối phải gấp rút lập Chính phủ đòi đuổi Pháp ra khỏi các công sở, thay bằng người Việt Nam. Và, giữ thái độ trung lập giữa Nhật và Đồng Minh để đón thời cơ khi Đồng Minh thắng trận. Chủ trương đó đã được nhà vua tán thành.

Và, sau một tháng cuộc đảo chính Nhật thì Chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập với thành phần là trí thức yêu nước từ Bắc đến Nam. Anh Hoàng Xuân Hãn giữ Bộ Giáo dục, anh Vũ Văn Hiền giữ Bộ Tài chính, anh giữ Bộ Thanh niên là một Bộ rất mới, mà nhiệm vụ chủ yếu là huy động thanh niên đấu tranh cho Độc lập. Anh Hoàng Xuân Hãn rất tâm đắc với anh về chủ trương này”.

Viết đến đây, tôi bỗng nhớ tới chiếc phong bì mà Bộ Giáo dục (Chính phủ Trần Trọng Kim) gửi đến Bộ trưởng Bộ Giáo dục là anh Hoàng Xuân Hãn (nhưng chưa được đóng dấu của Bưu điện). Tôi nghĩ, Chính phủ Trần Trọng Kim chỉ tồn tại có 4 tháng trong năm 1945 thôi, mà đã có nhiều cố gắng để khẳng định vai trò của mình trước Quốc tế (một Quốc tế có ý thức về pháp lý). Mục đích của Chính phủ Trần Trọng Kim là cái gì, thì chỉ qua chiếc phong bì này, cũng nói lên được một số điều đáng nói.

Một là, phần ghi nơi gửi đi, thì nghiêm túc là: Chính phủ Trung ương Lâm thời Việt Nam. Nói một cách khác: Chính phủ Trần Trọng Kim là Chính phủ lâm thời, nghĩa là Chính phủ ấy đã tự coi như một mắt xích tạm thời trong quá trình hành pháp phục vụ sự nghiệp giành độc lập. Bức thư từ Bộ Giáo dục gửi đi, mà lúc đó Bộ Giáo dục còn là Bộ Giáo dục và Lễ nghi.

Hai là, tem thư mang chân dung Bảo Đại (Bảo Đại không mặc Hoàng bào mà mặc Âu phục). Phía trên ảnh, trên hình một dải băng nơ, ghi dòng chữ: "Hoàng đế Bảo Đại". Phía dưới ảnh Bảo Đại, trên tem thư là tiêu đề: "Việt Nam - Độc lập - Thống nhất".

Như vậy, bước đi này của các anh không chỉ muốn tranh thủ Hoà bình về cho đất nước, với một nước cờ có giới hạn chính trị (so với chủ trương của Đảng ta - tiếp liền sau đó-). Nghĩ như vậy, tôi không có ý muốn nhắc nhở tới cuộc chiến tranh ba mươi năm mà nhân dân ta đã tiến hành. Vì, Đảng đã phán đoán chính xác, và cũng như anh Phan đã thấy: Đã là thực dân, thì không dễ gì thực dân trút bỏ cái mối lợi có thể tranh thủ được.

Ba là, phần ghi tên người nhận - "Ông Hoàng Xuân Hãn, Giáo sư Thạc sĩ - Hiệu bào chế Borgnis Desbonée - Hà Nội". Như vậy, ai là người khẩn trương cho ra con tem này? Phải chăng đó cũng chính là anh Hoàng Xuân Hãn, đã chỉ đạo việc cho ra con tem mới và cũng chỉ kịp lưu giữ làm kỷ niệm.

Hỏi về người bạn cùng hội đồng thuyền anh Tạ Quang Bửu.

Anh Phan đáp:

- Nhận lãnh đạo Bộ Thanh niên, anh phải tìm người cộng sự. Hồi đó, anh ít quen biết giới trí thức ở kinh đô, chỉ có anh Lê Huy Vân là bạn học cũ ở Trường Bưởi làm công chức ở Huế và hai anh Tôn Quang Phiệt, Đào Duy Anh là người cùng anh thành lập Hội Tân Việt Nam để ủng hộ phong trào Độc lập. Trong giới lão thành, anh có đến thăm cụ Huỳnh Thúc Kháng và được gặp anh Tạ Quang Bửu ở đó.

Qua những cuộc tiếp xúc đó, anh đã nhận thấy anh Tạ Quang Bửu là một người trẻ, có thể cộng sự với mình và đã mời anh Tạ Quang Bửu làm cố vấn cho mình trong Bộ Thanh niên. Tuy mới biết nhau, nhưng anh và anh Tạ Quang Bửu đã hợp ý tâm đầu trên đường lối chống Pháp trở lại và trung lập giữa Nhật và Đồng Minh. Trường Thanh niên Tiền tuyến chọn anh Phan Tử Lăng làm Hiệu trưởng là do sáng kiến của anh Tạ Quang Bửu. Trường Thanh niên Tiền tuyến, trong quá trình hoạt động có quan hệ với Thanh niên Việt Minh, điều đó anh cũng biết. Thanh niên Tiền tuyến đã đóng góp một vai trò rất tích cực trong Cách mạng Tháng 8 ở Huế, sau khi Chính phủ Trần Trọng Kim từ chức.

Còn tổ chức thanh niên ở các thành thị và nông thôn trong toàn quốc gọi là Thanh niên Xã hội, làm công tác xã hội, chủ yếu là làm công tác vận động thanh niên theo con đường yêu nước, theo đường lối độc lập với Nhật, là sáng kiến của anh. Sáng kiến này được anh Bửu tích cực ủng hộ, qua việc tổ chức một hội nghị ở Huế có đại diện các tỉnh, mỗi tỉnh có một đại diện lấy tên là Thủ lĩnh Thanh niên, mà một phần lớn thanh niên là của tổ chức Hướng đạo sinh.

Tất nhiên, có nhiều lực lượng thanh niên khác cũng tham gia ủng hộ, trong đó có thể có những lực lượng có cảm tình với Việt Minh. Một ví dụ là tỉnh Hà Tĩnh thì thủ lĩnh thanh niên là một người Việt Minh và đã cùng Việt Minh cướp chính quyền, đó là anh Phan Đăng Tài. Hoặc như, Chánh văn phòng Bộ Thanh niên lúc đó là anh Lê Duy Thước, người vừa là Hướng đạo sinh, vừa là Việt Minh (sau này anh Lê Duy Thước là Hiệu trưởng Trường Đại học Nông nghiệp).

Một đặc điểm của phong trào Thanh niên Xã hội là không có tổ chức.

Nghĩa là, nó chưa có điều lệ mà chỉ có một mục tiêu là vận động cho Độc lập đất nước. Chính vì vậy mà nó bao gồm mọi tầng lớp, nhưng chủ yếu là thanh niên học sinh, thanh niên yêu nước. Nó cũng chưa có một cái tên. Về sau, có người gọi là Thanh niên Phan Anh, vì Phan Anh là người thủ xướng ra nó

Đỗ Thị Hồng Chỉnh
Nguồn: CAND

Những bức ảnh lịch sử về Sài Gòn

Written By kuxh on 01/09/2010 | 06:39

BTXUXH - Nếu có thời gian bạn hãy dành một buổi đến với cuộc triển lãm "Việt Nam - 65 năm độc lập, tự chủ, phát triển" đang diễn ra tại công trường Lam Sơn, (quận 1, TP HCM) với 105 ảnh màu đen trắng để lưu lại trong ký ức mình những hình ảnh đáng nhớ của Sài Gòn năm trong không khinhững tháng ngày sổi nổi của cuộc cách mạng tháng 8-1945. Còn nếu không có thời gian, bạn có thể dành ít phút nơi đây để hình dung quang cảnh một thời kỳ lịch sử  của người dân Sài Gòn những năm đầu cách mạng tháng Tám.





[caption id="" align="aligncenter" width="480" caption="Nhân dân Sài Gòn nổi dậy giành chính quyền ngày 25 tháng 8 năm 1945."][/caption]

[caption id="" align="aligncenter" width="480" caption="Dân quân cứu quốc Nam Bộ trong những ngày đầu Nam Bộ kháng chiến, tháng 9 năm 1945."][/caption]

[caption id="" align="aligncenter" width="480" caption="Công nhân, phụ nữ, trẻ em Sài Gòn tham gia mittinh, biểu tình chống Mỹ trong ngày 1 tháng 5 năm 1966."]Công nhân, phụ nữ, trẻ em Sài Gòn tham gia mittinh, biểu tình chống Mỹ trong ngày 1 tháng 5 năm 1966.[/caption]

[caption id="" align="aligncenter" width="480" caption="Sinh viên, học sinh Sài Gòn biểu tình chống Mỹ - ngụy."][/caption]

[caption id="" align="aligncenter" width="335" caption="Quân giải phóng chiếm lĩnh các cơ quan đầu não của địch tại Quận 5, trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968."][/caption]

[caption id="" align="aligncenter" width="480" caption="Quân giải phóng đánh chiếm cầu 38 giải phóng từ Vĩnh Thiện đến Đồng Xoài (Phước Long), tháng 12 năm 1974..."][/caption]

[caption id="" align="aligncenter" width="480" caption="... rồi đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất ngày 30 tháng 4 năm 1975."][/caption]

[caption id="" align="aligncenter" width="480" caption="Đông đảo nhân dân Sài Gòn chào đón quân giải phóng trong ngày vui chiến thắng ngày 30 tháng 4 năm 1975."][/caption]

[caption id="" align="aligncenter" width="373" caption="Anh Lê Văn Thức bị địch đày ra Côn Đảo xúc động gặp lại người Mẹ thân yêu trong ngày vui chiến thắng."][/caption]

[caption id="" align="aligncenter" width="480" caption="Đường xe lửa nối liền thủ đô Hà Nội với TP HCM được khôi phục và thông xe vào ngày Quốc khánh 2/9/1976."][/caption]

Ảnh tư liệu

Những bức ảnh lịch sử về Sài Gòn

BTXUXH - Nếu có thời gian bạn hãy dành một buổi đến với cuộc triển lãm "Việt Nam - 65 năm độc lập, tự chủ, phát triển" đang diễn ra tại công trường Lam Sơn, (quận 1, TP HCM) với 105 ảnh màu đen trắng để lưu lại trong ký ức mình những hình ảnh đáng nhớ của Sài Gòn năm trong không khinhững tháng ngày sổi nổi của cuộc cách mạng tháng 8-1945. Còn nếu không có thời gian, bạn có thể dành ít phút nơi đây để hình dung quang cảnh một thời kỳ lịch sử  của người dân Sài Gòn những năm đầu cách mạng tháng Tám.





[caption id="" align="aligncenter" width="480" caption="Nhân dân Sài Gòn nổi dậy giành chính quyền ngày 25 tháng 8 năm 1945."][/caption]

[caption id="" align="aligncenter" width="480" caption="Dân quân cứu quốc Nam Bộ trong những ngày đầu Nam Bộ kháng chiến, tháng 9 năm 1945."][/caption]

[caption id="" align="aligncenter" width="480" caption="Công nhân, phụ nữ, trẻ em Sài Gòn tham gia mittinh, biểu tình chống Mỹ trong ngày 1 tháng 5 năm 1966."]Công nhân, phụ nữ, trẻ em Sài Gòn tham gia mittinh, biểu tình chống Mỹ trong ngày 1 tháng 5 năm 1966.[/caption]

[caption id="" align="aligncenter" width="480" caption="Sinh viên, học sinh Sài Gòn biểu tình chống Mỹ - ngụy."][/caption]

[caption id="" align="aligncenter" width="335" caption="Quân giải phóng chiếm lĩnh các cơ quan đầu não của địch tại Quận 5, trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968."][/caption]

[caption id="" align="aligncenter" width="480" caption="Quân giải phóng đánh chiếm cầu 38 giải phóng từ Vĩnh Thiện đến Đồng Xoài (Phước Long), tháng 12 năm 1974..."][/caption]

[caption id="" align="aligncenter" width="480" caption="... rồi đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất ngày 30 tháng 4 năm 1975."][/caption]

[caption id="" align="aligncenter" width="480" caption="Đông đảo nhân dân Sài Gòn chào đón quân giải phóng trong ngày vui chiến thắng ngày 30 tháng 4 năm 1975."][/caption]

[caption id="" align="aligncenter" width="373" caption="Anh Lê Văn Thức bị địch đày ra Côn Đảo xúc động gặp lại người Mẹ thân yêu trong ngày vui chiến thắng."][/caption]

[caption id="" align="aligncenter" width="480" caption="Đường xe lửa nối liền thủ đô Hà Nội với TP HCM được khôi phục và thông xe vào ngày Quốc khánh 2/9/1976."][/caption]

Ảnh tư liệu

Bản hiến pháp năm 1946: Bài 3

Written By kuxh on 20/08/2010 | 11:31

Giá trị lớn nhất của bản hiến pháp này được giới học giả khẳng định là đã khẳng định nguyên lý mọi quyền bính thuộc về dân và tổ chức quyền lực nhà nước theo lý thuyết tam quyền rạch ròi, kiểm soát lẫn nhau. Giá trị ấy có thể giúp soi rọi gì cho đợt nghiên cứu, sửa đổi Hiến pháp 1992 hiện nay?

Điều đầu tiên trong Chương I của Hiến pháp 1946 nêu rõ: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”.

Nhân dân phải là chủ thể của quyền lực nhà nước

Trong những quyền bính ấy, Điều 21 cụ thể hóa một quyền quan trọng: “Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia”. GS-TS Trần Ngọc Đường phân tích: Ở Hiến pháp 1946, nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước. Nhân dân chỉ giao cho Quốc hội, Chính phủ và tư pháp những quyền hạn, trách nhiệm trong hiến pháp và thực hiện việc giao quyền đó thông qua việc phúc quyết về hiến pháp.

Các bản hiến pháp sau này vẫn đề rằng quyền lực thuộc về nhân dân nhưng lại quy định nhân dân chỉ có thể sử dụng quyền lực ấy thông qua Quốc hội và hội đồng nhân dân.

GS-TS Trần Ngọc Đường nhận xét: “Quốc hội có toàn quyền làm và sửa đổi hiến pháp. Thậm chí theo Hiến pháp 1980, Quốc hội còn được tự định cho mình những nhiệm vụ, quyền hạn khác khi xét thấy cần thiết - tức là Quốc hội có toàn quyền. Quan niệm như thế nghĩa là nhân dân trao hết quyền lực của mình cho Quốc hội thông qua việc bầu cử. Bầu xong là dân hết quyền”. Do vậy, theo ông, nghiên cứu sửa đổi Hiến pháp tới đây cần tập trung khẳng định rõ hơn tinh thần của Hiến pháp 1946: Quyền lực nhà nước thống nhất ở nơi dân, thuộc về nhân dân. Trong đó, dĩ nhiên có quyền phúc quyết hiến pháp.

[caption id="" align="aligncenter" width="360" caption="Nhân dân phải được quyền phúc quyết hiến pháp. Trong ảnh: Người dân Tp.HCM đi bầu đại biểu Quốc hội khóa XII năm 2007. Ảnh: HTD"][/caption]

Nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An gần đây cũng góp ý rằng lần sửa hiến pháp sắp tới không nên quy định Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến nữa. Điều này là để nhân dân thực hiện quyền lực của mình, thực hiện việc phân công trách nhiệm cho lập pháp, hành pháp, tư pháp thông qua phúc quyết hiến pháp.

Có một thực tế là trong lịch sử hiến pháp Việt Nam, chưa hiến pháp nào được đưa ra phúc quyết. Bản hiến pháp quy định “nhân dân có quyền phúc quyết” thì do hoàn cảnh chiến tranh (năm 1946) đã không được ban hành, do đó không có giá trị ràng buộc về pháp lý.

Chưa kiểm soát hiệu quả quyền lực

Hiến pháp 1946 cũng thể hiện rõ việc tổ chức nhà nước theo nguyên tắc tam quyền kiểm soát lẫn nhau với những quy định hết sức tiến bộ. Chẳng hạn, Nghị viện nhân dân có quyền “đặt ra các pháp luật, biểu quyết ngân sách, chuẩn y các hiệp ước mà Chính phủ ký với nước ngoài” (Điều 23, Chương III, Nghị viện nhân dân); Chính phủ “thi hành các đạo luật và quyết nghị của Nghị viện”, “đề nghị những dự án luật ra trước Nghị viện” (Điều 52, Chương IV, Chính phủ); “trong khi xét xử, các viên thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp” (Điều 69, Chương VI, Cơ quan tư pháp).

Với tư tưởng ba nhánh quyền lực kiểm soát lẫn nhau của bản hiến pháp này, hoàn toàn không có chuyện cơ quan hành chính được tự ý ban hành văn bản dưới luật.

Về điểm này, TS Phạm Duy Nghĩa, ĐH Quốc gia Hà Nội, từng phát biểu trên báo Tuổi Trẻ: “Hiến pháp nói nôm na là một bản hợp đồng mà người dân cử đại diện của mình soạn ra để “thuê” nhà nước quản lý xã hội. Vì vậy tối kỵ việc các cơ quan hành chính tự ý ban hành các văn bản dưới luật để hạn chế quyền hạn của dân trong khi hiến pháp và pháp luật không cấm. Mặt khác, phải xem nhà nước cũng là một chủ thể chịu sự chi phối của pháp luật”.

Do vậy, việc nghiên cứu, sửa đổi Hiến pháp 1992, theo nhiều chuyên gia, cũng cần đặt lại nguyên tắc rạch ròi giữa ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. “Chủ trương của Đảng là phân công một cách rành mạch, rõ ràng các nhánh quyền lực nhà nước nhưng thực tế chưa thành công, chưa kiểm soát hiệu quả quyền lực nhà nước, chưa đề cao được trách nhiệm của từng cơ quan nhà nước” - ông Trần Ngọc Đường nói.

Việc sửa đổi hiến pháp sắp tới đây cụ thể như thế nào sẽ tùy thuộc vào quan điểm chính trị của các nhà lãnh đạo. Ý kiến cá nhân ông Trần Ngọc Đường cho rằng: “Với tư tưởng xây dựng nhà nước pháp quyền do dân, vì dân; mọi quyền bính thuộc về dân, quyền lực nhà nước thống nhất nơi dân, phân công rạch ròi lập pháp, hành pháp, tư pháp… thì trước sau việc đưa phúc quyết vào hiến pháp và xây dựng luật trưng cầu dân ý sẽ thành hiện thực. Đấy là quy luật phát triển mà lịch sử nhân loại đã chứng minh”.
Sửa hiến pháp mới làm được luật trưng cầu dân ý

Luật trưng cầu dân ý chưa trình được Quốc hội có nhiều lý do. Thứ nhất, giới nghiên cứu thấy cần có luật để cụ thể hóa những quyền dân chủ trực tiếp của dân, để người dân thực hiện quyền lực nhà nước của mình một cách trực tiếp nhưng nếu quy định không phù hợp thì việc thực hiện sẽ mang tính hình thức. Trong điều kiện hôm nay, vấn đề gì đưa ra trưng cầu dân ý còn có ý kiến rất khác nhau. Nhà chính trị phải cân nhắc lựa chọn cho phù hợp.

Thứ hai, luật trưng cầu dân ý có ban hành chưa chắc đã đồng bộ với hiến pháp. Hiến pháp hiện hành không quy định phúc quyết hiến pháp thì làm sao đưa được vấn đề quan trọng này vào luật. Do vậy phải sửa hiến pháp để mở đường cho việc phúc quyết hiến pháp được thể hiện trong luật trưng cầu dân ý.

GS-TS TRẦN NGỌC ĐƯỜNG


Năm vấn đề khi sửa Hiến pháp 1992

Đầu tiên, phải làm rõ xem Hiến pháp 1992 đã thể hiện quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng nhà nước kiểu mới chưa. Đó phải là nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân; quyền lực nhà nước thống nhất và có sự phân công rạch ròi hành pháp, lập pháp, tư pháp, cũng như có sự kiểm soát chặt chẽ.

Thứ hai, mối quan hệ giữa chính trị và kinh tế trong điều kiện mở cửa hội nhập đã thực sự phù hợp chưa, sắp tới phải thể hiện trong hiến pháp thế nào.

Thứ ba, xem xét sự kế thừa, phát triển của bốn bản hiến pháp trước đây, trong đó lưu ý Hiến pháp năm 1946.

Thứ tư, xem xét tính thống nhất và vai trò chỉ đạo hệ thống pháp luật của hiến pháp. Nguyên tắc của nhà nước pháp quyền là tính tối thượng của hiến pháp. Vậy thì phải đánh giá xem có những văn bản nào vi hiến, có nên lập tòa án bảo hiến không.

Thứ năm, nghiên cứu về hình thức thể hiện bản hiến pháp.

Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp ĐINH XUÂN THẢO phát biểu trên VNN tháng 8-2010



Nghĩa Nhân - Thu Nguyệt
Nguồn:  Pháp luật TP.HCM

Ban hiến pháp năm 1946: Bài 2

Written By kuxh on 19/08/2010 | 09:32

Nhiều nhà nghiên cứu, xây dựng pháp luật cho rằng: Các Hiến pháp sửa đổi, bổ sung sau này đã có sự thay đổi rất lớn khi quyền lập hiến từ dân được chuyển sang Quốc hội.

>> Bài 1: Bản hiến pháp “vang vọng tiếng dân”

Đó là “sự xa rời rất lớn, rất cơ bản về người chủ đích thực của đất nước”.

Lời nói đầu của Hiến pháp 1946 ghi rõ: “Được quốc dân trao cho trách nhiệm thảo bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Quốc hội nhận thấy rằng…”.

Quốc hội tự giao quyền lập hiến cho mình?

Như vậy, chủ thể của quyền lập hiến (làm hiến pháp) là quốc dân. Quốc hội được quốc dân bầu ra để ban hành Hiến pháp 1946 là Quốc hội lập hiến, không phải là Quốc hội lập pháp. Còn “Nghị viện nhân dân” ở chương III là Quốc hội lập pháp, “đặt ra pháp luật”; chứ Hiến pháp không quy định Nghị viện nhân dân có quyền lập hiến.

Hiến pháp 1946 không cho phép cơ quan nào của chính quyền đơn phương sửa đổi Hiến pháp. Điều 70 của Hiến pháp 1946 quy định: “Sửa đổi Hiến pháp phải “do hai phần ba tổng số nghị viên yêu cầu”, “Nghị viện bầu ra một Ban dự thảo những điều thay đổi” và đặc biệt, “những điều đã được thay đổi khi đã được Nghị viện ưng chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết”.

Nhưng các Hiến pháp sửa đổi sau này lại quy định Quốc hội có quyền lập hiến.

Cụ thể, Điều 43, 44 và 50 của Hiến pháp 1959 ghi: “Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”, là cơ quan duy nhất “có quyền lập pháp”, có quyền “làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp”.

Điều 6 của Hiến pháp 1980 quy định: “Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và HĐND là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân”.

Điều 82 của Hiến pháp 1980 và Điều 83 của Hiến pháp 1992 quy định: “Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp”...

[caption id="attachment_1427" align="aligncenter" width="300" caption="Nhân dân Hà Nội bỏ phiếu bầu Quốc hội khóa I ngày 6-1-1946. Ảnh: Tư liệu"][/caption]

Nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An cho rằng đã có sự thay đổi rất lớn khi quyền lập hiến từ dân được chuyển sang Quốc hội. Chỉ có dân mới có quyền đó, song lại chưa hề có văn bản nào chuyển quyền lập hiến của dân sang Quốc hội cả, mà chính Quốc hội tự quyết định giao quyền lập hiến cho mình. Trong một bài trả lời phỏng vấn báo VietNamNet, ông nói đó là “sự xa rời rất lớn, rất cơ bản về người chủ đích thực của đất nước”, “đã chuyển từ dân chủ thành Quốc hội chủ. Quốc hội vừa lập hiến vừa lập pháp; người ta gọi như thế là vừa đá bóng vừa thổi còi”.

Cơ chế kiểm tra, giám sát lẫn nhau

Tại Hiến pháp 1946, quyền năng giữa các cơ quan nhà nước được phân chia khá rõ và nhiều cơ chế kiểm tra và giám sát lẫn nhau đã được thiết kế. Ví dụ: “Quyền kiểm soát và phê bình Chính phủ” của Ban thường vụ Nghị viện; quyền của “nghị viên không bị truy tố vì lời nói hay biểu quyết trong Nghị viện”; Chủ tịch nước - là nguyên thủ quốc gia, đứng đầu cơ quan hành pháp có thể từ chối công bố các đạo luật do Quốc hội ban hành và yêu cầu Quốc hội thảo luận lại…

Theo Điều 49 Hiến pháp 1946, Chủ tịch nước có quyền thay mặt cho nước về đối nội, đối ngoại, giữ quyền tổng chỉ huy quân đội toàn quốc, ký sắc lệnh bổ nhiệm Thủ tướng, là chủ tịch Hội đồng Chính phủ, ký hiệp ước với các nước... Điều 50 của Hiến pháp 1946 cũng ghi: “Chủ tịch nước không phải chịu một trách nhiệm nào, trừ khi phạm tội phản quốc”…

Tuy nhiên, các Hiến pháp sửa đổi sau này đều giảm nhẹ vai trò của Chủ tịch nước, không đề rõ thực chất quyền của một nguyên thủ quốc gia. Chủ tịch nước thay mặt cho nhà nước về đối nội và đối ngoại nhưng thực tế Tổng Bí thư mới là người thống lĩnh lực lượng vũ trang, Thủ tướng Chính phủ thường được coi là người đứng đầu cơ quan hành pháp. Còn cơ quan tư pháp, trong thực tiễn thì nó yếu thế hơn các cơ quan lập pháp và hành pháp và bị chi phối trong xét xử.

Cần có cơ chế bảo hiến

Ông Nguyễn Cảnh Bình, soạn giả cuốn Hiến pháp Mỹ ra đời như thế nào?, nhận định: “Hiến pháp của nước Mỹ là bản hiến pháp lâu đời nhất và nổi tiếng nhất với trên 200 năm lịch sử, trong khi các bản hiến pháp hiện nay của Pháp, Đức, Nhật, Nga đều mới mẻ và có thời gian tồn tại chưa lâu. Tôi cho rằng tính ổn định cao của Hiến pháp Mỹ có nguyên nhân cơ bản là nước Mỹ bảo vệ hiến pháp rất chặt. Theo tôi, cả quá trình biên soạn lẫn quá trình áp dụng và bảo vệ hiến pháp trong thực tiễn đều giữ vai trò vô cùng quan trọng”.

Đối với Việt Nam, TS Nguyễn Đình Lộc, nguyên Bộ trưởng Tư pháp, nguyên Trưởng tiểu ban biên tập Hiến pháp 1992, nguyên thành viên của Ban Thư ký soạn thảo Hiến pháp 1980, trong một lần trả lời báo Sài Gòn Tiếp Thị năm 2007 đã nhận xét chúng ta “không có truyền thống hiến pháp và có thể đó là lý do khiến cho hiến pháp của ta rất hay thay đổi theo hoàn cảnh lịch sử”. PGS-TS Nguyễn Đăng Dung, ĐH Quốc gia Hà Nội, cũng thẳng thắn nhận định rằng: “Những Hiến pháp sau này - 1959, 1980, 1992 có chăng chỉ là sự sửa đổi cho phù hợp với sự phát triển của thời hiện đại theo nhận định của Đảng, của giai cấp cầm quyền”.

Do chưa có cơ chế bảo hiến, Hiến pháp của Việt Nam thường bị thay đổi theo hoàn cảnh lịch sử và cũng dễ bị vi phạm. Chẳng hạn, nhìn lại Luật Cải cách ruộng đất (thông qua ngày 4-12-1953) có thể thấy nó trái với Điều 12 của Hiến pháp 1946 về đảm bảo quyền tư hữu tài sản, nói cách khác là nó “vi hiến”. Hoặc năm 1989, thực hiện Đổi mới, chúng ta mở cửa cho tư bản nước ngoài đầu tư trong khi Hiến pháp 1980 quy định: “Nhà nước độc quyền về ngoại thương”. Mở cửa cho đầu tư nước ngoài là một chính sách đúng nhưng nếu muốn hợp hiến thì đúng ra là phải sửa Hiến pháp trước.

Nhiều chuyên gia đã lên tiếng đề nghị có cơ chế bảo hiến, thành lập một cơ quan độc lập, một tòa án đưa ra những phán quyết khi Hiến pháp bị vi phạm.
Nhiều cái đã có từ Hiến pháp 1946

Những bản Hiến pháp sau này có sự ảnh hưởng rất lớn của lý thuyết XHCN, chúng ta gọi thời kỳ đó là thời kỳ tập trung, bao cấp, kế hoạch hóa, tất cả đều đưa về nhà nước. Cái quan trọng nhất là chúng ta không thừa nhận sở hữu tư nhân (cho đến Hiến pháp 1992). Tất cả những điều đó tạo nên sự trì trệ, làm hạn chế sự phát triển của đất nước.

Đành rằng bản Hiến pháp 1959 có những tác dụng nhất định trong việc tập trung mọi nguồn lực cho cuộc chiến để giành độc lập. Nhưng sau khi giải phóng xong thì nó không tạo đà cho sự phát triển, dẫn đến cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội của thập niên 80 thế kỷ trước. Nếu so sánh với bản Hiến pháp 1992 thừa nhận sở hữu tư nhân, thừa nhận nền kinh tế thị trường… thì thực ra những cái đó đã có từ Hiến pháp 1946.

PGS-TS NGUYỄN ĐĂNG DUNG, ĐH Quốc gia Hà Nội



Văn Tiến (Pháp luật TP.HCM)

Bản hiến pháp năm 1946: Bài 1

Written By kuxh on 18/08/2010 | 09:56

Trong nhiều thành tựu mà nhà nước cách mạng non trẻ đạt được sau khi giành chính quyền 1945 có một “tài sản” đặc biệt: Bản hiến pháp đầu tiên của một nhà nước độc lập được soạn thảo bởi những người mang tư tưởng tự do, bình đẳng, dân chủ, đồng thời là những người đầu tiên điều hành nhà nước. Đến nay, sau hơn nửa thế kỷ, nhiều tư tưởng mang tầm thời đại của Hiến pháp 1946 vẫn được nghiên cứu, soi rọi. Không có tham vọng đánh giá toàn bộ văn bản này, loạt bài của Pháp Luật TP.HCM hy vọng như những lát cắt để người đọc hiểu thêm tầm vóc tư tưởng của những con người áo vải đã dám “tuyên bố với thế giới” về quyền bình đẳng của mình.

Nói về Hiến pháp 1946, rất nhiều người cho rằng đó là hiến pháp nhân bản nhất, dân chủ nhất và đoàn kết dân tộc nhất. Không chỉ thế, bản hiến pháp đầu tiên của Việt Nam còn được hình thành, soạn thảo và thông qua trong một hoàn cảnh lịch sử đầy cam go, gian khổ nhưng vẫn đảm bảo tinh thần “dân là gốc”, dân là tất cả.

Dấu ấn Hồ Chí Minh

Theo PGS.NGND Lê Mậu Hãn, “nói tới Hiến pháp 1946 là phải nói tới Hồ Chí Minh và cuộc Tổng tuyển cử 1946”. Bản hiến pháp đầu tiên của Việt Nam ra đời năm 1946 nhưng tư tưởng của Hồ Chí Minh về một nhà nước dân chủ cộng hòa, một chính quyền của toàn dân thì đã hình thành từ rất lâu trước đó. Ngay từ năm 1919, khi gửi “Bản yêu sách của nhân dân An Nam” đến Hội nghị Versailles, Người đã thể hiện tư tưởng lập hiến của mình. Trong tám điều yêu sách, điều thứ bảy yêu cầu phải có hiến pháp cho nhân dân Việt Nam: “Bảy xin hiến pháp ban hành/ Trăm điều phải có thần linh pháp quyền” (Việt Nam yêu cầu ca - diễn ca của bản yêu sách do Hồ Chí Minh soạn để tuyên truyền).

Ngày 3-9-1945, chỉ một ngày sau lễ tuyên bố độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói tới việc “phải có một hiến pháp dân chủ” và đề nghị Chính phủ “tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu” để bầu ra Quốc dân đại hội xây dựng hiến pháp.

[caption id="attachment_1407" align="aligncenter" width="353" caption="Các ứng cử viên đại biểu Quốc hội khóa I trong lễ ra mắt cử tri tại Việt Nam học xá (nay là trường Đại học Bách khoa Hà Nội). (Ảnh tư liệu trong sách ảnh 60 năm chính phủ Việt Nam của Nhà xuất bản Thông Tấn)"][/caption]

Ngày 8-9-1945, Chính phủ ra Sắc lệnh 14-SL nêu rõ: “… nhân dân Việt Nam do Quốc dân đại hội thay mặt là quyền lực tối cao để ấn định cho nước Việt Nam một hiến pháp dân chủ cộng hòa”. Sắc lệnh cũng tuyên bố tiến hành Tổng tuyển cử.

Cuộc Tổng tuyển cử lịch sử

Và cuộc Tổng tuyển cử lịch sử (ngày 6-1-1946) - nơi ngọn nguồn phản ánh tinh thần Hiến pháp 1946 - đã diễn ra trong tình hình chính trị - kinh tế - xã hội cực kỳ khó khăn, trong hoàn cảnh thù trong, giặc ngoài. Đó thực chất là một cuộc đấu tranh hết sức quyết liệt để bảo vệ quyền làm chủ của người dân, quyền tự quyết của dân tộc. Về đối nội, các tài liệu về lịch sử Quốc hội ghi lại: Các báo phản động như Việt Nam, Thiết Thực, Đồng Tâm… (của hai đảng Việt Quốc, Việt Cách) nói xấu Việt Minh quyết liệt, kêu gọi tẩy chay Tổng tuyển cử vì cho là trình độ dân trí của nước ta còn thấp, quần chúng không đủ năng lực thực hiện quyền công dân, cần tập trung chống Pháp chứ không nên mất thì giờ vào bầu cử v.v…

Đáp lại, báo Cứu Quốc của Mặt trận Việt Minh số ra ngày 24-11-1945 khẳng định: “Chỉ Tổng tuyển cử mới để cho dân chúng có dịp nói hết những ý muốn của họ (…). Sau hết, cũng chỉ có Tổng tuyển cử mới có thể cấp cho nước Việt Nam một hiến pháp mới ấn định rõ ràng quyền lợi của quốc dân…”.

Về đối ngoại, ở miền Bắc, Tàu Tưởng và tay sai ra sức gây rối, phá hoại Tổng tuyển cử (cướp hòm phiếu, hành hung tự vệ tại Hải Phòng). Ở Nam Bộ, thực dân Pháp khủng bố ác liệt, ném bom nhiều nơi. Hàng chục người đã chết và bị thương nhưng người dân vẫn đi bỏ phiếu lưu động, đổ xương máu thực hiện quyền tự do dân chủ. 89% cử tri trên cả nước đã đi bầu, có nhiều nơi tới 95%.

Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam ra đời như thế.

[caption id="attachment_1406" align="aligncenter" width="351" caption="Các đại biểu Quốc hội khóa I (từ trái sang phải) Nguyễn Văn Tố, Bùi Bằng Đoàn, Tôn Đức Thắng."][/caption]

Chính Quốc hội này, vào sáng 2-3-1946, đã họp kỳ họp đầu tiên với thời gian ngắn kỷ lục: 4 tiếng đồng hồ, trong hoàn cảnh nền độc lập nước nhà bị thực dân Pháp lăm le xâm phạm. Tại đây, Quốc hội bầu ban dự thảo hiến pháp gồm 11 người: Trần Duy Hưng, Tôn Quang Phiệt, Đỗ Đức Dục, Cù Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Huỳnh Bá Nhung, Trần Tấn Thọ, Nguyễn Cao Hách, Đào Hữu Dương, Phạm Gia Đỗ, Nguyễn Thị Thục Viên. Tất cả đều là những nhà trí thức, đại diện cho các đảng phái khác nhau (như Phạm Gia Đỗ là thành viên Việt Nam Quốc dân Đảng, tức Việt Quốc).

Quyết liệt và dân chủ

Theo PGS-NGND Lê Mậu Hãn, những người soạn thảo Hiến pháp 1946 đều là trí thức xuất thân từ hệ thống đào tạo của Pháp, hấp thu tư tưởng phương Tây nên có thể nói bản hiến pháp có tinh thần dân chủ, pháp quyền rõ nét.

Ban dự thảo hiến pháp đã soạn bản hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam cũng trong một thời gian rất ngắn, chỉ có vài tháng và bắt đầu công bố trước Quốc hội từ ngày 2-11-1946. Đỗ Đức Dục là người thuyết trình. Đại diện của các đảng trong Quốc hội cho ý kiến đánh giá và phản biện: Hồ Đức Thành - đại diện Việt Nam Cách mạng đồng minh hội tức Việt Cách, Hoàng Văn Đức - đại diện nhóm dân chủ, Lê Thị Xuyến - đại diện nhóm xã hội, Nguyễn Đình Thi - đại diện Việt Minh, Trần Trung Dung - đại diện Việt Quốc, Trần Huy Liệu - đại diện nhóm mácxít.

Theo các tài liệu về lịch sử Quốc hội Việt Nam khóa I, quá trình tranh luận, tranh cãi để thông qua Hiến pháp 1946 diễn ra quyết liệt và dân chủ. PGS-NGND Lê Mậu Hãn cho biết bàn thảo căng thẳng nhất là ở việc quyết “một viện hay hai viện”. Chẳng hạn, Trần Trung Dung không đồng ý với chế độ một viện, sợ chế độ này không thích hợp với Việt Nam nơi dân chúng chưa được huấn luyện nhiều về chính trị. Phạm Gia Đỗ cũng phản đối chế độ một viện vì coi đó là “độc tài của đa số”. Tuy nhiên, phần đông đại biểu lại tán thành một viện. Đào Trọng Kim nói rằng một viện là phù hợp, “chế độ tập quyền và phân công rất thích hợp để có thể ứng phó mau lẹ với thời cuộc”…
Do chiến tranh nên chưa thi hành Hiến pháp 1946

Do hoàn cảnh chiến tranh đang lan rộng nên Quốc hội khóa I kỳ họp thứ nhất, mặc dù thông qua hiến pháp (ngày 9-11-1946), đã quyết định không đưa hiến pháp ra trưng cầu dân ý, đồng thời biểu quyết chưa ban hành, thi hành hiến pháp ngay. Việc bầu Nghị viện nhân dân (Điều 24 quy định nghị viện do công dân Việt Nam bầu ra, ba năm một lần) cũng không thể tổ chức được.

Sau nhiều buổi thảo luận và tranh luận từng điều cụ thể, tới ngày 9-11-1946, Quốc hội đã biểu quyết thông qua bản hiến pháp đầu tiên với 240/242 phiếu thuận. Hai phiếu không tán thành là của Nguyễn Sơn Hà và Phạm Gia Đỗ. Đại biểu Nguyễn Sơn Hà bỏ phiếu chống vì hiến pháp không có điều nói về tự do kinh doanh. Còn đại biểu Phạm Gia Đỗ bảo lưu việc phản đối chế độ một viện.

Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu: “Hơn 10 ngày nay, các đại biểu đã khó nhọc làm việc. Quốc hội đã thu được một kết quả làm vẻ vang cho đất nước là đã thảo luận xong bản hiến pháp”. Tuy “chưa hoàn toàn” nhưng nó “tuyên bố với thế giới nước Việt Nam đã độc lập, dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do (…), phụ nữ Việt Nam đã được ngang hàng với đàn ông để hưởng chung mọi quyền tự do đó của một công dân”.

Đánh giá về Hiến pháp 1946, nhiều chuyên gia cùng chung nhận định được soạn thảo và thông qua một cách dân chủ, bởi một Quốc hội được bầu ra một cách dân chủ, Hiến pháp 1946 là bản hiến pháp có rất nhiều giá trị. Nó khẳng định quyền tự do, quyền làm chủ đất nước của toàn dân, thể hiện sâu sắc tư tưởng giải phóng dân tộc, độc lập - tự do của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Còn TS luật Phạm Duy Nghĩa, trong một bài trả lời phỏng vấn báo Tuổi Trẻ, đã gọi đó là bản hiến pháp mà “mỗi câu chữ đều vang vọng tiếng dân”.

Đoan Trang
Nguồn: Pháp luật Tp.HCM

Nỗi niềm với Đà Lạt từ một bộ ảnh quý vừa phát hiện

Written By kuxh on 17/08/2010 | 11:48

Nghệ sĩ nhiếp ảnh Tam Thái vừa ra mắt tập sách ảnh Ngày xưa Langbian... với hơn 250 hình ảnh và những thông tin sưu khảo về lịch sử cao nguyên Langbian cũng như quá trình hình thành thành phố Đà Lạt.

Công trình này bắt đầu từ cách đây năm năm, trong một lần Tam Thái tình cờ bắt gặp một bộ phim phổi mang những hình ảnh về Đà Lạt từ hơn 50 năm trước...

[caption id="" align="aligncenter" width="450" caption="Khu trung tâm Đà Lạt bên hồ lớn năm 1925"][/caption]

[caption id="" align="aligncenter" width="450" caption="Nghệ sĩ nhiếp ảnh Tam Thái vượt sông La Ngà trong một chuyến sáng tác năm 1985"]Nghệ sĩ nhiếp ảnh Tam Thái vượt sông La Ngà trong một chuyến sáng tác năm 1985[/caption]

Khi được đề nghị kể lại duyên cớ gặp gỡ và quá trình thương lượng bộ ảnh tài liệu về Đà Lạt, Tam Thái nói anh không sinh ra, không lớn lên, không ăn nhờ đất Đà Lạt, nhưng cũng như mọi người Việt Nam khác, anh yêu mến Đà Lạt, yêu mến cao nguyên. Riêng anh, tình yêu mến đó còn là một trăn trở khi nhìn thấy và nhận thấy núi rừng cao nguyên ngày một tàn phai, kiến trúc tuyệt vời của Đà Lạt ngày một nát tan, đất đai ngày một nát vụn...

Yêu thì phải bảo vệ. Vì vậy trong khi tò mò tìm hiểu quá khứ đáng trân trọng và ưu ái mà những người khai phá Đà Lạt đã dành cho nó, anh được gặp một số tư liệu phim ảnh của Đà Lạt hơn 50 năm về trước.

Đó là một hộp phim phổi, đen trắng, được gia chủ giữ gìn cẩn thận vì là kỷ vật của người thân đã khuất. Tò mò nhìn qua những hình ảnh phim âm bản như thế, anh nhận ra rất có thể đây là những hình ảnh sớm nhất về Đà Lạt mà ngày nay trở thành vô giá, vì không tìm lại được nơi thực tế tại vùng đất cao nguyên đã có nhiều thay đổi này. Chủ bộ phim cũng quý Đà Lạt nên mới giữ nó. Nhưng giữ để mà sở hữu.

Thấy cần giới thiệu nó cho mọi người cùng xem, Tam Thái bắt đầu tiến hành một cuộc thương lượng, kỳ kèo đến nhiều tuần lễ. Cuối cùng khi chủ bộ phim (yêu cầu giấu tên) thấy anh mua không phải để làm lợi riêng đã đồng ý nhượng lại. Đây là vật kỷ niệm của người thân quá cố, họ không phải vì ham tiền mà bán.

Sau khi sở hữu, Tam Thái đem hết phim đó làm ảnh 13x18cm. Và đã dành hơn một năm rưỡi để tra cứu, biên soạn, cộng với cái vốn những cuộc điền dã của người làm báo để hình thành bộ sách. Khi những hình ảnh này đến với nhiều người, ắt sẽ có người chia sẻ và biết đâu sẽ có người tìm cách... vực dậy cao nguyên.

Qua tìm hiểu, sưu khảo và nhất là xem những hình ảnh tư liệu ấy, Tam Thái nhận thấy nhiều công trình ở Đà Lạt hôm nay về chất lượng và mỹ quan còn thua xa những công trình Đà Lạt đã thực hiện cách đây nửa thế kỷ.

Trong thời dân số Đà Lạt mới chỉ có khoảng 1.000 người (1920), những nhà thiết kế thành phố đã quy hoạch rõ ràng nơi nào là trường, chợ, công sở, khu dân cư, công viên và cả “không gian nhìn ngắm”... một cách rất khoa học và hợp lý. Nhờ đó mà suốt ba phần tư thế kỷ Đà Lạt đã phát triển trong nền nếp. Người nghệ sĩ tự hỏi tại sao 20 năm gần đây phố xá, công trình xây dựng lại quá lộn xộn? Gần như chỗ nào đất trống là cứ xây. Ở nội thị đã vậy, ra ngoại thị nhà cửa bát nháo chen nhau khắp núi đồi...

Thiếu trình độ, quản lý kém hay không có tâm? Ngoại trừ dọc đèo Prenn, còn các vùng khác hiện nay thông đã bị đốn phá trầm trọng. Thử đi về phía tây bắc thành phố mà xem. Thiếu thông không phải là Langbian. Giống Sài Gòn là không còn Đà Lạt. Càng yêu thiên nhiên cao nguyên, càng yêu bản sắc vùng cao, càng yêu kiến trúc xứ lạnh, càng yêu Đà Lạt thì cần phải sống vì Đà Lạt.

Con người cũng cần gốc rễ như cây để tồn tại. Người Kinh ở Đà Lạt đều là gốc ở đồng bằng mà đến. Người Bắc giữ giọng Bắc, người Huế giữ tiếng Huế, Quảng giữ gốc Quảng... hình như ai cũng yêu Langbian “theo cái nhìn của mình”. Nếu tất cả cùng nhìn ra phải cùng làm gì cho cao nguyên thì hẳn “mình và đất nước, hai bên cùng có lợi”. Nhà quản lý Đà Lạt cũng cần lập đề án bảo tồn những công trình kiến trúc điển hình của thời Pháp, lấy đó làm di sản kiến trúc cho Đà Lạt.

[caption id="" align="aligncenter" width="450" caption="Biệt thự giữa đồi thông năm 1952"][/caption]

[caption id="" align="aligncenter" width="450" caption="Chợ Đà Lạt năm 1953"][/caption]

[caption id="" align="aligncenter" width="450" caption="Biệt thự Đà Lạt năm 1951"][/caption]


[caption id="" align="aligncenter" width="204" caption="Bìa sách "Ngày xưa ,Langbiang""][/caption]

* Bên một bức ảnh chụp cảnh Di Linh, anh ghi “Nếu là thầy, xin hãy bảo các em: đất nước ta nghèo và đẹp”, hình như anh có kỷ niệm hay những trăn trở gì với Di Linh?

- Ngày xưa Djirinh không phải như Di Linh trơ trọi bây giờ. Lúc người Pháp qua, tập trung khai thác B’lao để lập đồn điền trà mà không muốn tiến công vào xứ Djirinh, dù Di Linh gần với Đà Lạt hơn, tiện quản lý hơn. Sở dĩ vậy phần lớn là muốn dành Di Linh làm vùng du lịch săn bắn.

Dĩ nhiên, ta sẽ tưởng tượng ra ngay là rừng ở Djirinh lúc ấy bạt ngàn (có thể hình dung thêm qua bức ảnh trong sách Ngày xưa, Langbian..., trang 49). Vậy thì rừng xưa đâu? Ăn không lo của kho cũng hết. Ngày nay ta không còn rừng vàng biển bạc. Nếu làm thầy, tôi không thể dạy các em những bài học lý thuyết hão huyền, say sưa với lòng tự hào quá khứ... Nghèo và dở không là chuyện xấu. Phải nhìn nhận để rồi vươn lên. Lỡ sai cũng phải nhận là hình như ta đã có một thời lấy việc phá rừng làm thành tích.

Ngày xưa, Langbian... gồm hơn 250 bức ảnh tư liệu in trên giấy couché. Đây là những bức ảnh của một nhóm tác giả Việt Nam chụp Đà Lạt từ những năm 1920-1950. Do vậy, những nội dung trong ảnh ngày nay đã trở thành tư liệu quý hiếm, một số công trình, cảnh vật đã biến mất trên thực tế và chỉ còn trong những bức ảnh này.

Tác giả Tam Thái trình bày sách theo tuyến nội dung: Đường đến Langbian, thập niên 1950; Vài nét cảnh quan thành phố cao nguyên thập niên 1950; Toàn cảnh Đà Lạt 1952; Trên 150 bức ảnh từ phim gốc chụp những biệt thự châu Âu kiều diễm nhất ở Đà Lạt vào thập niên 1950; Tác phẩm hội họa về Đà Lạt thập niên 1950; Hình bóng Đà Lạt thập niên 1920. Bên cạnh đó là những trang sưu khảo về lịch sử Đà Lạt có giá trị học thuật, đồng thời tác giả cũng cập nhật một số thông tin về rừng, về lũ của cao nguyên Langbian đến tháng 7/2009.

Lam Điền
Nguồn: Tuổi Trẻ cuối tuần, 3/2010

Hồi ức một quận chúa – Kỳ 5: “Ngôi chùa trong vòng ngắm của mật thám”

Written By kuxh on 12/08/2010 | 00:22

Huế chào đón làn gió mới của Cách mạng tháng Tám 1945 chưa được bao lâu thì bị quân đội Pháp quay lại đánh chiếm lập lại chế độ cai trị. Pháp và tay sai ráo riết truy lùng bắt bớ những ai tình nghi đã theo Việt Minh, số người trong giáo hội Phật giáo cũng không ngoại lệ.

[caption id="" align="alignright" width="146" caption="Ni trưởng Diệu Không"][/caption]

Một trong số hòa thượng có uy tín bị chúng bắt và tra tấn dã man là Hòa thượng Thích Đôn Hậu trụ trì chùa Linh Mụ. Trước đây, Hội Phật học do bác sĩ Lê Đình Thám, một tu sĩ và là một nhân sĩ nổi tiếng làm chánh hội trưởng. Khi Pháp quay trở lại Huế, ông Lê Đình Thám được Chính phủ Kháng chiến mời ra Bắc, Hòa thượng Đôn Hậu thay làm chánh hội trưởng. Hòa thượng Đôn Hậu bị bắt và Pháp tuyên bố sẽ đưa ra xử bắn đã làm rúng động tăng ni phật tử Huế trong đó có sư Diệu Không. Sư đã trực tiếp gặp tên trùm mật thám Pháp đấu tranh để Hòa thượng Đôn Hậu được đưa từ nhà lao của Sở Mật thám sang giam tại lao Thừa phủ. Sau đó, sư có ý kiến nhờ ông Nguyễn Khoa Toàn, bà Từ Cung và bà Nam Phương (1) can thiệp để giải cứu cho Hòa thượng Đôn Hậu được trở về lại chùa Linh Mụ.

Năm 1949, sư Diệu Không bỏ tiền riêng, sử dụng một phần đất thuộc sở hữu của họ tộc Hồ Đắc do sư quản lý ở Dương Xuân Thượng (Thủy Xuân, Hương Thủy, Thừa Thiên) liền kề vùng đất có ngôi chùa Trúc Lâm (cũng do Hồ Đắc hiến tặng cả chùa và đất) để xây dựng ni viện Hồng Ân là nơi sư trụ trì, đào tạo nhiều thế hệ đệ tử và cũng là nơi sư sống những năm cuối đời. Những năm đầu ở Hồng Ân, sư Diệu Không là đối tượng tình nghi của mật thám Pháp vì sư có nhiều thư từ từ miền Bắc gửi vào thăm hỏi. Nhiều ngôi chùa ở Huế xây dựng ở vùng đồi núi xa đô thị địch tạm chiếm, nơi giáp ranh với vùng tự do nên thường là nơi du kích ẩn náu để hoạt động, nơi tiếp tế thuốc men, lương thực cho lực lượng vũ trang cách mạng, nơi cứu chữa thương binh sau các trận giao chiến với địch. Ni viện Hồng Ân cũng lọt vào tầm ngắm của mật thám địch song nhờ các sư cô hoạt động kín đáo và nhờ sự đùm bọc của quần chúng nên địch không có chứng cứ để bắt bớ.

Cùng chị ruột xin tự thiêu

Sau ngày Mỹ lật đổ Bảo Đại đưa Ngô Đình Diệm lên làm tổng thống, tình hình Phật giáo miền Nam càng tồi tệ. Để báo động cho trong nước cũng như thế giới về tình hình Phật giáo miền Nam bị Mỹ ngụy đàn áp dã man, lãnh đạo giáo hội Phật giáo miền Nam chủ trương kêu gọi vận động phong trào “vị pháp vong thân” (quên mình vì Phật pháp). Tại Huế, sư Diệu Không cùng người chị ruột là sư bà Diệu Huệ (bà Ưng Úy) đã viết đơn tình nguyện được tự thiêu và được lãnh đạo Phật giáo tỉnh Thừa Thiên cho phép. Hai sư đã vào Sài Gòn trình đơn thư xin tự thiêu lên các hòa thượng ở chùa Ấn Quang. Hai ngày sau, hai bà được chùa Ấn Quang cho biết: Hòa thượng Thích Quảng Đức sẽ tự thiêu trước. Biết đây là chủ trương đã được lãnh đạo giáo hội cân nhắc, bàn bạc kỹ, hai sư bà đành chấp nhận.

Cùng với việc đứng trong hàng ngũ tăng ni, phật tử đấu tranh cho sự tồn tại của Phật giáo, sư Diệu Không đã cùng các Hòa thượng Thích Trí Thủ, Thích Nhất Hạnh... xây dựng Đại học Vạn Hạnh. Sư còn để thời gian công sức dịch nhiều bộ kinh Phật từ tiếng Pali sang tiếng Việt. Là nhà thuyết pháp có tài hùng biện, Sư đã tổ chức nhiều cuộc thuyết giảng ở Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế với hàng nghìn người mỗi lần. Sư còn viết nhiều luận văn khuyến tu, đề cao nữ quyền, bảo vệ truyền thống văn hóa dân tộc. Là nhà thơ thiền nổi tiếng, Diệu Không đã sáng tác thơ từ những năm đầu thập kỷ XX với hơn 500 bài thơ đăng rải rác trên các báo của Phật giáo (năm 2007 NXB Thuận Hóa đã in cuốn Diệu Không thi tập với 238 bài thơ, câu đối do Diệu Không sáng tác). Những năm 60, sư bà Diệu Không được giáo hội Phật giáo tỉnh Thừa Thiên tôn vinh làm ni trưởng và cũng là ni trưởng có uy tín hàng đầu trong giới nữ tu ở miền Nam.

Đầu năm 1975, cuộc tổng tiến công giải phóng miền Nam diễn ra được sư bà Diệu Không, người trực tiếp chứng kiến, mô tả: “Một niềm vui chưa từng thấy khi nghe ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Anh em giải phóng cũng như dân chúng reo cười khắp đường phố Sài Gòn. Già trẻ lớn bé đua nhau đi đón bộ đội. Chúng tôi tổ chức khao quân. “Vạn Hạnh” tổ chức thành 4 đoàn gồm các mẹ, chị em phụ nữ, thanh niên, các phụ lão góp nửa triệu đồng mua bánh kẹo, trái cây chở trên 4 xe camion. Đi đầu có các biểu ngữ hoan nghênh quân Giải phóng. Đi đến gần dinh Độc lập có người ra đón, khách, chủ hàn huyên, khóc cười lẫn lộn, và xúc động tưởng niệm kẻ mất, người còn. Ba mươi năm đấu tranh không ngừng mới có ngày nay, là ngày độc lập thực sự của đất nước, nhân dân ta...” (2). (còn tiếp)

Trúc Diệp Thanh
(trích dẫn và giới thiệu)


(1) - Nguyễn Khoa Toàn: tỉnh trưởng tỉnh Thừa Thiên lúc bấy giờ, thuộc dòng họ Nguyễn Khoa nổi tiếng ở Huế. Bà Từ Cung và bà Nam Phương, tức Hoàng Thái hậu Từ Cung và Hoàng hậu Nam Phương trước đây, tuy lúc này không còn chế độ quân chủ nhưng Bảo Đại được Pháp cho làm “Quốc trưởng” nên tiếng nói của 2 bà cũng có trọng lượng.

(2) - trích Hồi ký của sư bà Diệu Không - Đường thiền sen nở (NXB Lao Động -2009)
 
Support : Creating Website | Johny Template | Mas Template
Copyright © 2011. Bảo tàng Ký ức Xã hội - All Rights Reserved
Template Created by Nhật Nguyên Published by Nhật Nguyên
Proudly powered by Nguyễn Đức Lộc