Tin mới :

Latest Post

Hiển thị các bài đăng có nhãn 1975-1986. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn 1975-1986. Hiển thị tất cả bài đăng

Những câu chuyện từ thời bao cấp

Written By kuxh on 11/08/2012 | 14:37


Thời bao cấp – một giai đoạn mà hầu hết sinh hoạt kinh tế diễn ra theo hình thức kinh tế kế hoạch hóa, hàng hóa được nhà nước phân phối theo chế độ tem phiếu, việc phân phối lương thực thực phẩm được tính theo đầu người … tất cả đã tạo nên một bức tranh tổng thể về Việt Nam rất riêng trong thời kỳ trước đổi mới. Mặc dù hiện nay, thời bao cấp đã qua đi khá lâu và nó chỉ còn là một phần ký ức không thể quên của những con người đã sinh ra và lớn lên trong giai đoạn trước đổi mới, tuy nhiên những ấn tượng về cuộc sống ngày ấy khiến nhiều người vẫn ước mong có thể quay ngược thời gian để được chứng kiến những câu chuyện chỉ có một thời.


Đồng cảm với mong ước của nhiều thế hệ, Nhóm Nghiên cứu đời sống Xã hội sẽ biên tập và trích đăng toàn bộ những câu chuyện về thời bao cấp nhằm cung cấp một cái nhìn toàn diện về một nền kinh tế Việt Nam trước đổi mới thông qua những mảnh chuyện đời thường. Nhóm hy vọng tài liệu này sẽ là nhịp cầu nối của nhiều thế hệ để chúng ta cùng chia sẻ những trải nghiệm của một thời không thể quên. 
bao-cap-mien-bac-giaoduc.net.vn
Toàn bộ tư liệu được sưu tầm và trích dẫn từ nguồn Bảo tàng Ký ức Xã hội – nơi lưu trữ lịch sử qua lời kể của những nhân chứng sống (http://baotang.kyucxahoi.com)

Attachments:
Download this file (bai bao cap.pdf)bai bao cap.pdf[ ]840 Kb

Sống với Thời bao cấp

Written By kuxh on 01/08/2012 | 14:36

Ngỡ ngàng khi được gặp lại những chiếc bát sắt tráng men, một dải tem phiếu hay một cục đá khắc tên chủ nhân từng được dùng để xếp hàng cách nay 40 năm trong một không gian có một không hai ở Hà Nội.

 Đã 6 năm kể từ khi Bảo tàng dân tộc học gây tiếng vang với cuộc triển lãm có một không hai về Hà Nội thời bao cấp khiến cho hàng vạn người đã từng nếm trải những đắng cay của cái thời khó khăn ấy xúc động. Khi cuộc sống đã đủ đầy hơn, hoài niệm về một Hà Nội thời bao cấp lại càng hiện về rõ rệt, với những người từng sống qua giai đoạn đó.

Tình cờ trong một cuộc trò chuyện với họa sĩ Quách Đông Phương gần đây tôi biết được một người bạn của anh đang kỳ công tái hiện lại một không gian thời bao cấp của Hà Nội xưa. Ý tưởng thì đã có từ cách đây vài năm nhưng chỉ khi có được sự hỗ trợ nhiệt tình của những người bạn đều sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, nay đã đến ngưỡng tuổi 50 như Quách Đông Phương, Lê Thiết Cương... anh Minh mới hiện thực hóa được giấc mơ ấy. Biết anh có ý định dựng lại 1 không gian HN thời bao cấp nên nhiều người đã đến tặng lại anh những món đồ mà họ đã lưu giữ mấy chục năm nay.
Chiếc xe đạp Vĩnh cửu được treo trên tường
 "Đó là một thời để nhớ, một thời để quên. Có người muốn quên đi một quá khứ đau khổ. Có người muốn nhớ lại một thời khó khăn. Với tôi, thời bao cấp đã để lại những kỷ niệm sâu sắc. Tôi muốn có một nơi để những người từng trải qua thời ấy, trong đó có tôi, nhớ lại 1 thời khó khăn. Một nơi để thế hệ sau tìm hiểu xem cha mẹ chúng đã sống qua một thời thế nào", anh Minh nói. Căn nhà cổ nằm ở một con phố nhỏ khá lắt léo đón tiếp chúng tôi với một tấm biển nền màu xanh do họa sĩ Quách Đông Phương kẻ cùng chiếc xe đạp cũ treo ngược trên tường. Bước vào bên trong, một không gian Hà Nội thời bao cấp hiện lên rõ rệt qua các vật dụng trong nhà. Một chiếc xe đạp Vĩnh Cửu được anh Minh treo gần tấm biển kẻ dòng chữ: "Ở đây tai vách mạch rừng những điều bí mật xin đừng nói ra" vốn được người HN truyền tai nhau thời bao cấp được tái hiện lại qua nét vẽ của họa sĩ Quách Đông Phương.
Những khẩu hiệu thời bao cấp thế này khiến nhiều người trẻ bật cười

Những ô cửa được đục không phải lấy không khí hay ánh sáng bên ngoài mà là để đóng khung lắp kính bày biện đủ thứ đồ trong đó. Một hòn đá khắc tên nhà nghiên cứu Hán Nôm nổi tiếng Mai Xuân Hải từng được ông dùng để xếp hàng mua lương thực từ năm 1973-75 cũng xuất hiện trong không gian này, trong một ô kính với hình ảnh của những chiếc tem phiếu thời bao cấp. Anh Minh kể khi còn nhỏ, là con út trong nhà nên anh thường xuyên phải ra khu vực Nhà Thờ, sau đó là Tôn Đản xếp hàng từ sáng sớm để đổi tem phiếu lấy lương thực cho cả nhà.  Thời ấy mỗi dịp giỗ tết hay có việc cần ăn tươi thì mọi người phải cắt cử nhau xếp hàng từ tờ mờ sáng ở cửa hàng lương thực, đợi cửa mở là xô nhau vào mua, chẳng khác gì việc các bậc phụ huynh xếp hàng đêm hôm để chen chân vào nộp đơn xin cho con vào mẫu giáo hay trường Thực nghiệm ở Hà Nội vừa rồi. Người ta dùng gạch, đá, dùng nón, dùng rổ rá... bất cứ cái gì có thể được để xếp hàng lấy chỗ. Vất vả là thế nhưng có người đến lượt thì đã hết hàng. Vì thế ngày trước ai có người nhà hay người quen làm ở các cửa hàng lương thực, ăn uống là nhất. 
Hòn đá từng được nhà nghiên cứu dùng để xếp hàng khi còn sống.

Thời bao cấp không phải cứ có tiền là muốn mua gì cũng được, hàng hóa cũng chẳng tràn lan như bây giờ. Tiêu chuẩn cho mỗi công nhân đi làm chỉ được 4m vải/năm. Nếu được tiêu chuẩn 3 lạng thịt thì nhiều người đổi lấy sườn hay thịt thủ để được thành 6 lạng. Gạo chỉ được đong theo tiêu chuẩn nên cơm thường phải độn thêm mì và ăn cơm với bo bo, khoai, sắn là rất phổ biến. Thời ấy nhà nào có tiền mua gà về ăn phải đóng chặt cửa làm lông trong nhà, xong phải giấu mà đổ đi. Gà cũng không được dùng dao chặt mà phải dùng kéo cắt vì sợ hàng xóm nghe thấy tiếng lại bảo là tiểu tư sản.   Tiêu chuẩn cũng rất rõ ràng, mỗi gia đình một tháng chỉ được 3kg đậu, tem phiếu loại E thì được 1,2 kg thịt, loại C được 1,8-2kg... Thịt, cá, đường, mắm đều phải đổi bằng phiếu. Một phiếu thực phẩm loại B phát hành năm 1979 của Bộ Nội thương có “thịt lợn 5kg, thịt bò 1kg, gia cầm 1 con, đậu phụ 2kg, lòng lợn 2đ, cá tươi 3kg, trứng 20 quả”. Khi ấy những chiếc bát sứ đen xì, sứt mẻ, sần sùi và nặng trịch hay những chiếc bát sắt tráng men được dùng để đựng thức ăn. Vật dụng quen thuộc với các gia đình thời bao cấp này cũng xuất hiện trong không gian riêng của anh Minh nhưng đều được làm mới.
  

  Thời tem phiếu
Đến đây, người ta còn bắt gặp hình ảnh một chiếc cốc thủy tinh từng thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị Vinh, cựu nhân viên quầy bia Cổ Tân (điểm uống bia hơi nổi tiếng thời bao cấp ở khu vực Tràng Tiền) hay một chiếc ca tráng men từng được họa sĩ Lê Thiết Cương dùng để đựng bút vẽ. Những chiếc chụp đèn tráng men, một chiếc đài cổ, một cái quạt tai voi, một chiếc cân quen thuộc ở các cửa hàng lương thực vài chục năm trước hay một chiếc tivi National cửa lùa với cái vỏ to tướng, những chiếc chân máy khâu được dùng làm chân bàn... tất cả đều có ở đây. Anh Minh bảo quá trình sưu tập những món đồ thời bao cấp này không phải dễ bởi không phải ai cũng còn lưu giữ nó, trong khi anh lại sở hữu không nhiều. Chính vì vậy anh phải nhờ đến sự trợ giúp rất nhiều từ bạn bè, mà chủ yếu là từ Vinh Tân đảo, người sở hữu rất nhiều món đồ thời bao cấp và được biết đến nhiều với quán cafe xe cổ ở phố Hàng Bún. Trong khi Vinh tân đảo giúp anh Minh tập hợp những món đồ thời bao cấp thì họa sĩ Lê Thiết Cương lại tặng cho anh bộ ảnh chụp Hà Nội thời bao cấp của nhiếp ảnh gia người Thụy Điển Eva Lindskog.
  Chiếc ca tráng men của họa sĩ Lê Thiết Cương

Đến Việt Nam lần đầu vào năm 1975 và có nhiều năm sinh sống, học tập ở Hà Nội, Eva Lindskog đã ghi lại những hình ảnh đặc sắc về cuộc sống ở Thủ đô thời bao cấp với cảnh đeo bám quen thuộc trên những chiếc tàu điện, phương tiện công cộng rất quan trọng ở Hà Nội thập kỷ 1970 - 1980, cảnh hàng chục người tập trung ở ngoài một tòa nhà ở Hà Nội để nhận giấy tờ xuất cảnh, cảnh ăn cơm bụi trên hè đường Hà Nội đầu thập kỷ 1980...  Họa sĩ Lê Thiết Cương đã mua bản quyền những bức ảnh này với giá 500 USD (khoảng 10 triệu đồng) sau khi Eva Lindskog tổ chức triển lãm “Còn & mất” tại Gallery 39 Lý Quốc Sư của Anh hồi tháng 3/2011, và tặng lại cho anh Minh.  



Những bức ảnh chụp HN của Eva Lindskog được họa sĩ Lê Thiết Cương mua lại và tặng cho anh Minh để trưng bày trong không gian của mình.
Cùng ghé không gian đặc biệt này để nhìn lại những vật dụng quen thuộc của thời bao cấp 

Hạnh Phương
Ảnh: Nguyễn Hoàng (theo Vietnamnet.vn)

Khôi phục lại giá trị của “thời bao cấp” (kỳ cuối)

Written By kuxh on 03/07/2012 | 17:52

Ăn theo (To Be Dependent on Others)
Một ví dụ điển hình là những cá nhân nằm ở giữa hai nền kinh tế. Những người này được coi là những kẻ ăn theo, một từ có nghĩa xấu thường được dùng để chỉ những người sống dựa vào người khác. Trong thời kì bao cấp, số lượng nghề thuộc diện này tăng lên đáng kể. Có lẽ một trong những ví dụ dễ thấy nhất là những người sống bằng nghề mua bán thời gian. 
Cửa hàng mậu dịch (Ảnh: minh họa- Nguồn: Internet)
Vì cán bộ công nhân viên phải có mặt tại công sở hay nhà máy vào những giờ quy định, họ thường xuyên phải tìm cách khác để mua khẩu phần của mình ở cửa hàng mậu dịch. Trẻ nhỏ và người già thường xuyên được cử đi xếp hàng vì họ có thể rời nhà bất cứ lúc nào khi có tin hàng về. Càng đến sớm thì khả năng mua được khẩu phần của mình càng cao trước khi hết hàng. Vì hai lý do này mà có lẽ không có gì ngạc nhiên khi thấy những người xếp hàng đứng dài có khi tới nửa cây số trước khi cửa hàng mở cửa. Một phụ nữ nhớ lại lần đầu tiên bà nhìn thấy mọi người xếp hàng khi còn ít tuổi, bà đã tưởng rằng mọi người đang chơi “rồng rắn lên mây”. Cô bé đó đã lập tức thất vọng khi bà được giải thích rằng đó là mọi người đang xếp hàng để mua dầu ăn.
Thời gian trung bình xếp hàng là một buổi. Ai không có đủ thời gian thì có thể nhượng lại chỗ của mình với một lệ phí nho nhỏ cho người khác, sau đó người này dùng cục gạch, cái nón, cái rổ, hoặc hòn đá để đánh dấu chỗ của mình cho đến khi một ai khác trong gia đình hoặc người thân có thể đến mua thay khi đến lượt. Giá của dịch vụ này khá khiêm tốn, thường là khoảng từ năm đến mười xu, đủ cho một người ăn một bữa tại quầy mậu dịch cơm phở. Đây có lẽ là lí do tại sao các nhà chức trách không bỏ ra nhiều nỗ lực để ngăn chặn cách kiếm tiền này (1).
Ngược lại “con phe” lại kiếm tiềm bằng cách mua lại những tem phiếu không dùng đến và bán lại ở giá cao hơn (nhưng vẫn rẻ hơn giá chợ đen). Những tem phiếu không dùng đến này đến từ nhiều nguồn khác nhau. Tuy nhiên, những người mà tôi đã có cơ hội nói chuyện đều tin rằng những tem phiếu này là do các mậu dịch viên ngấm ngầm đưa cho. Đổi lại họ sẽ được chia một phần lợi nhuận. Người dân thường không thích các mậu dịch viên vì những cách cư xử thiếu lịch sự và vô lý của họ. Những từ được dùng để mô tả họ bao gồm “cáu gắt”, “độc tài”, và “mặt lạnh như tiền”. Lời giải thích này cần phải có bằng chứng thay vì tin suông (2). Một dấu hiệu của nhận xét này là không ai trong số những người tôi hỏi chuyện có thể nhớ lại việc một mậu dịch viên bị kỷ luật vì tuồn tem phiếu ra ngoài cho con phe hoặc chợ đen, trong khi công an thường xuyên có chiến dịch xử lý cả hai loại người này.


Mặc dù dịch vụ mua chỗ xếp hàng khá hiệu quả, nó không phải là không có những vấn đề. Chen hàng, cướp chỗ hay nói dối rằng một vật giữ chỗ chung chung như cục gạch là của mình thường xuyên gây ra xích mích. Chính vì lí do cuối này mà nhiều người đã tìm cách tự tạo hoặc dùng những vật trông khác thường để tránh bị người khác tự nhận vật đấy là của mình. Như ví dụ đã nêu ở trên, ông Mai Xuân Hải đã khắc tên lên hòn đá của mình cho dễ nhận dạng. Có người lại dùng một viên đá to có hình dạng và kích cỡ giống cái cốc Liên Xô (Hà Nội Mới 2004).
Những vật giữ chỗ như vậy phần nào giúp giảm đi những trường hợp nhầm chỗ vô ý, cũng như những trường hợp nhầm lẫn cố tình, nhưng không thể loại bỏ hết tình trạng này được. Chính vì thế mà một số cửa hàng mậu dịch phải có đội quân đứng ngoài để giữ trật tự. Sự có mặt của họ cũng làm cho các con phe thận trọng hơn. Nhưng ít ai có thể nhớ lại một trường hợp mà đội quân đứng ra giải quyết những tranh cãi về người đã vi phạm “mặt bằng chỗ đứng”, cho dù những cuộc tranh cãi này thường trở nên khá gay gắt, có khi biến thành những trận ẩu đả. Một vài người đã kể lại với tôi rằng có nhiều người do bực tức hoặc do sợ mậu dịch sắp hết hàng cho ngày hôm đó đã quẳng những viên đá, hòn gạch, nón, v.v… dùng để giữ chỗ của những người đến trước đi, gây nên một sự hỗn loạn. Có lẽ không có gì ngạc nhiên khi trong những trường hợp như vậy những đội quân đứng gác đơn giản chỉ rút vào trong cửa hàng và đóng cửa mậu dịch lại. Cách làm này rất hiệu quả vì sẽ không ai mua được gì cho đến khi mọi người tự lập lại trật tự.
Tất nhiên có nhiều người không để cho hoàn cảnh ép buộc. Họ nghĩ ra những cách khác nhau để tiết kiệm thời gian. Ví dụ, người ta có thể tập hợp tem phiếu lại với nhau, miễn là những tem phiếu này thuộc một “giai cấp” xã hội. Làm như vậy một người có thể đi mua hộ nhiều người khác, gọi là “cùng ăn chia” (3). Những người có sức khỏe và nhanh nhẹn thì đứng xếp hàng ở hai hàng cùng một lúc. Họ chạy đi chạy lại giữa hai hàng với hi vọng mua được lượng hàng nhiều gấp đôi mà chỉ mất nửa thời gian (4). Có người lại gian lận. Có một người giải thích với tôi là ông ta có một người quen có một dị tật nhỏ. Ông ta thường để râu, mặc một bộ quân phục cũ có gắn một huy hiệu thương binh thật. Vì nhà nước có chính sách ưu tiên thương binh nên ông ta chẳng phải xếp hàng, và vì thế ông ta mua được một vài ổ bánh mì nóng giòn để chia cho bạn bè (Trương Quang Thư 2007). Có người lại tận dụng tài lẻ của mình. Có một ông cụ già thường đến cửa hàng mậu dịch của khu phố nơi ông ta ở sau giờ nghỉ trưa, lúc mà mọi người đã khá mệt mỏi sau nhiều giờ xếp hàng. Lúc đó ông cụ bắt đầu xướng thơ lục bát với nội dung tùy theo những gì mà cửa hàng mậu dịch hôm đó có bán: gạo, đậu phụ, thịt, v.v… Nếu thơ hay thì những người trong hàng cho ông cụ đứng lên trước. Một người hàng xóm sau hai thập kỉ nhớ lại một bài thơ như sau:
Ước gì em trắng như gao (gạo)                   
Thì anh… mạn phép ôm vào lòng ngay
Mùi thơm hạt mẩy thế này
Làm sao tránh được cái tay thích…sờ
                    (Trần Thị Anh Tú, 2006).
Phương hướng mới trong công tác nghiên cứu
Cuối cùng thì chúng ta rút ra những gì từ những câu chuyện về những năm tháng xếp hàng này? Thay vì đưa ra một kết luận chắc chắn, tôi muốn đưa ra bốn lĩnh vực cần được chú ý nghiên cứu thêm. Ba lĩnh vực đầu có liên quan tới những chủ đề mà những kết quả nghiên cứu sẽ giúp chúng ta hiểu rõ thêm rất nhiều về chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh Việt Nam thời kỳ bao cấp, những thay đổi trong cuộc sống thường ngày từ khi thời bao cấp kết thúc cũng như có thể tiến hành những nghiên cứu so sánh. Tuy nhiên, đề tài cuối cùng đặt một câu hỏi lớn hơn về sự “phân chia lao động” trong nghiên cứu về quá khứ và những hậu quả của nó đến sự hiểu biết của chúng ta về những dạng thức, thực hành và niềm tin đã tạo nên nền văn hóa chủ đạo (dominant culture).
Trước hết, như nhiều người đã chia sẻ với tôi hoặc những mẩu chuyện mà họ đưa lên mạng, những hòn đá, viên gạch, cái chai, cái rổ, và những vật dụng hàng ngày khác mà người dân đã sử dụng để giữ chỗ khi xếp hàng không phải chỉ là những biểu tượng, mà là một phần của người chủ, giống như những “vật thể tiểu sử” do Hoskins mô tả. Có lẽ vì thế mà khi nhìn lại những vật này, nhiều người lớn tuổi đã cảm động. Có người giải thích: “Những viên gạch này là đại diện toàn quyền” của một người (Bí Bo 2006). Có người khác lại dùng từ “pháp nhân” để miêu tả những viên đá, hòn gạch này, với ý là những vật này có quyền đại diện hợp pháp cho chủ nhân của chúng (5). Mặc dù người khác có thể dùng những từ khác để mô tả những vật này, cả hai ví dụ đều cho thấy chúng ta còn biết rất ít về cái nhìn của người dân đối với các khái niệm như vai trò xã hội của con người (personhood), chủ thể và quyền lợi của cả hai trong thời bao cấp. Sự thiếu sót này lại càng rõ ràng khi chúng ta nhận thấy ngày càng có nhiều mối quan tâm đến cách những giá trị và thực hành liên quan đến chủ nghĩa tự do mới (neo-liberalism) đã được chấp nhận, thay đổi và loại bỏ trong xã hội Việt Nam đương đại. Tuy nhiên, nếu ta không có một sự hiểu biết rõ ràng về quá khứ, những nỗ lực hiện tại nhằm ghi chép sự xuất hiện của “chủ nghĩa tự do mới với những đặc tính Việt Nam” sẽ có nhiều khả năng bị sai lệch.
Điều thứ hai là mọi người xếp hàng để mua nhiều mặt hàng khác nhau, nhưng chủ yếu vẫn là lương thực, thực phẩm. Do bữa ăn chung có một vị trí rất quan trọng trong cuộc sống của người dân Việt Nam (đặc biệt đối với gia đình – cho đến ngày nay, hầu như không ai ăn một mình), chúng ta cần nghiên cứu kĩ càng hơn văn hóa ẩm thực của người dân trong thời bao cấp. Ví dụ, một đợt khảo sát với lớp người lớn tuổi cho biết thực đơn thường bao gồm gạo hẩm, gạo mốc đầy trấu, sạn, cơm độn bột mì, hạt bo bo, sắn, phở không người lái, v.v… (6) Nếu được nghiên cứu kĩ càng chúng ta sẽ hiểu sâu hơn những sự thay đổi về thói quen dinh dưỡng ở thành thị cũng như nông thôn trong ba thập kỉ qua và ý nghĩa của những thay đổi này không chỉ trong phạm vi kinh tế xã hội mà cả về mặt văn hóa (xin xem thêm: Reid 2002; Kankauskas 2006; Farquhar 2002).
Thứ ba, chúng ta cũng có thể đưa ra những nhận xét tương tự về hàng tiêu dùng thường ngày và sự thay đổi về thứ tự quan trọng của chúng. Một bài thơ sáng tác trong thời gian này đã liệt kê một loạt các tiêu chuẩn mà phụ nữ tìm ở người bạn đời tương lai:
Một yêu anh có may-ô                                   
Hai yêu anh có cá khô ăn dần                     
Ba yêu rửa mặt bằng khăn                
Bốn yêu anh có hai quần để thay…            
Một bài thơ tương tự đưa ra một danh sách chi tiết hơn:
Một yêu anh có Sen-ko                      
Hai yêu anh có Pơ-giô cá vàng       
Ba yêu nhà cửa đàng hoàng 
Bốn yêu hộ khẩu rõ ràng thủ đô      
Năm yêu không có bà bô                   
Sáu yêu Văn Điển ông bô sắp về     
Bảy yêu anh vững tay nghề  
Tám yêu sớm tối đi về có nhau         
Chín yêu gạo trắng phau phau                                                       
Mười yêu nhiều thịt ít rau hàng ngày.
Một lần nữa, nếu chú ý đến sự sản sinh những mong muốn của con người qua giao tác xã hội trong thời kì bao cấp, chúng ta sẽ tìm hiểu thêm được một loạt các hiện tượng của thời kì này, bao gồm việc buôn lậu hàng hóa qua biên giới xã hội chủ nghĩa, sự tái xuất hiện của việc tiêu thụ một cách phô trương ngày nay, động lực hiện nay của chủ nghĩa tiêu dùng và sự tôn thờ hàng hóa ở đô thị (xin xem thêm: Ngai 2003; Patico và Caldwell 2002).
Cuối cùng, tuy đáng chú ý trên nhiều mức độ, trưng bày ở Bảo tàng Dân tộc học cũng làm nổi bật sự cần thiết cho những nghiên cứu nhân học chi tiết và tinh tế với những cái quen thuộc về mặt văn hóa. Tôi muốn nói về văn hóa chủ đạo (dominant) ở Việt Nam (7). Người Kinh, chiếm khoảng 86% dân số Việt Nam, thường không được các nhà dân tộc học Việt Nam nghiên cứu vì họ thường tập trung vào nghiên cứu những nhóm dân tộc khác. Kết quả là, những nghiên cứu về “bản thân” thường được dành cho những chuyên ngành khác như lịch sử, xã hội học hay văn hóa dân gian và các đề tài nghiên cứu thường là làng người Kinh, hương ước, hội làng và những dạng thức có liên quan của một quá khứ “truyền thống” vẫn đang tồn tại (xin xem Phan Huy Lê 1993; Jamieson 1986) (8). Những đề tài nghiên cứu của ngành dân tộc học bắt nguồn từ đào tạo lý thuyết của các thế hệ học giả đi trước được đào tạo tại Liên Xô cũ và từ việc những nhà dân tộc học thường là làm việc chặt chẽ với nhà nước và với Ủy ban Dân tộc và Miền núi để giúp quản lý việc phát triển kinh tế xã hội và văn hóa cho những dân tộc vùng cao (Evans 1985; Pelley 1993: 143-181). Tôi không muốn đánh giá thấp tầm quan trọng về lý thuyết và thực tiễn của những nghiên cứu như vậy cả trong quá khứ và hiện tại vì chúng đã làm giàu thêm hiểu biết của chúng ta về những nhóm dân tộc này cũng như đóng góp tích cực của nó vào quá trình hoạch định chính sách. Tuy nhiên, sự phân công lao động về trí óc nói trên có nghĩa là những dạng thức, giá trị và thực hành văn hóa của người Kinh vẫn còn là hiển nhiên đối với thành viên của nhóm dân tộc này vì chúng tạo ra tiêu chuẩn bất thành văn mà dựa vào đó người ta xem những cái khác khác đến thế nào với tiêu chuẩn này.
Thiếu sót này trong việc nghiên cứu về người Kinh đưa đến việc người ta không đặt câu hỏi, chứ đừng nói là đưa ra lý thuyết, về đặc ân và quyền lợi của dân tộc Kinh, giống như người ta không đặt câu hỏi về đặc ân và quyền lợi của người da trắng ở Hoa Kì (9). Điều này được thể hiện qua việc những nghiên cứu của người Kinh về người Kinh thường chú trọng các vấn đề kinh tế xã hội, văn hóa dân gian, và các tôn giáo thịnh hành, chứ không tập trung vào cách phạm trù “Kinh” được tái tạo trong mối quan hệ với 53 dân tộc khác cũng như với người Hoa và người Việt Hải ngoại vốn là những phạm trù “khác” (10). Chúng ta cũng có thể nhận xét tương tự về những con người, sự kiện, khoảnh khắc, và quá trình quan trọng mà không thể dễ dàng đưa vào những phát biểu chính thống về quá khứ và mối quan hệ đến hiện tại như đã thảo luận trong bài này. Cho đến khi những vấn đề này được giải đáp, những hiểu biết của chúng ta về những gì thuộc về văn hóa của người Kinh, ngoài những mẫu dập khuôn của một làng Bắc bộ, vẫn chỉ rất sơ sài và được mô tả như bất biến qua thời gian, một điều có phần mỉa mai trong bối cảnh là ngành sử học đóng vai trò quan trọng ở Việt Nam.
Lời cảm ơn
Tôi rất biết ơn cô Hương Ly đã giúp tôi chuyển tải một cách trung thành những ý tưởng của tôi sang tiếng Việt. Tôi cũng xin cảm ơn rất nhiều người dân đã chia sẻ với tôi cuộc sống của họ trong thời bao cấp, và tôi chỉ kể lại được câu chuyện của vài người ở đây. Cuối cùng, tôi xin cảm ơn sự đóng góp của những người đã đóng góp ý kiến vào bản thảo trước của tôi: Hy Văn Lương, các đồng nghiệp ở Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, Nguyễn Văn Huy, Wendy Erd, Janet Hoskins, Erik Harms, Michael DiGregorio, Frank Proschan, Christina Schwenkel, Ann Marie Leshkowich và Melissa Pashigian. Tất cả thiếu sót đều là lỗi của riêng tôi.
 (1) Phở không người lái là phở không thịt, giá ba hào một bát. Một bát cơm gạo hôi với một ít rau muống bị đen vì nấu trong nồi gang cũng giá ba hào một suất. Để mua một trong hai thứ đó, người ta đều phải xếp hàng không những một lần mà hai lần: một lần để mua, lần kia để tìm chỗ ngồi (“sau khi lấy được cơm, phở rồi người ăn lại phải tự thu xếp lấy chỗ ăn”). Bùi Xuân Dũng (2006).
 (2) Nhiều người nhớ lại một cách cay đắng những khẩu hiệu treo trên tường: Vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi. Có người lại nhớ đến một khẩu hiệu khác với cảm giác tương tự: Hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân!
 (3) “Nghề ‘ăn theo’,” Tuổi Trẻ (22/8/2007).
 (4) Phỏng vấn (27/7/2006).                
 (5) Phỏng vấn (31/7/2006).
 (6) Để biết thêm chi tiết về những khó khăn trong việc sửa soạn một bữa ăn thời kì này, xem Đỗ Hoàng Chinh (2006).
 (7) Xin xem Hy Văn Lương (2006) là một tổng duyệt mới đây về những thiếu hụt về mặt kiến thức dân tộc học về Việt Nam.
 (8) Hiện tượng này không chỉ xảy ra ở Việt Nam. Những nhà nước xã hội chủ nghĩa khác thường chia những nghiên cứu về “bản thân” thành ba lĩnh vực: lịch sử, truyền thống, và văn hóa dân gian (Kaneff 2004).
 (9)Từ đầu những năm 1990, các nhà nghiên cứu bắt đầu tìm hiểu về những khía cạnh văn hóa, lịch sử và xã hội của những người được xác định là “da trắng” và sự kiến tạo “tính da trắng” như là một hệ ý thức về vị trí và đặc quyền xã hội. Hiện nay đây là một chủ đề liên ngành đang phát triển mạnh trong nghiên cứu học thuật (Hill 1997).
 (10) Một biểu hiện của việc này là những nghiên cứu về các dân tộc ở Việt Nam thường không được thực hiện theo hướng so sánh. Để biết thêm về những nghiên cứu về động lực và quá trình của sự hình thành bản sắc, xin xem Leach (1954) và Williams (1989).

Ken MacLean
Người dịch: Hương Ly
Nguồn: Hiện đại và động thái của truyền thống ở Việt Nam: Những cách tiếp cận Nhân học

Ký ức một thời tem phiếu

Written By kuxh on 14/12/2011 | 18:04

25 năm sau đổi mới, nhiều người dân vẫn không thể quên ký ức về thời kỳ dùng tem phiếu để mua bán các nhu yếu phẩm từ cân thịt, quả trứng, dầu hỏa, vải vóc cho tới đường sữa trẻ em...
Dưới đây là những hình ảnh về thời kỳ trước đổi mới được trưng bày tại triển lãm "Việt Nam 25 năm trên đường đổi mới 1986-2011 qua tài liệu lưu trữ", khai mạc sáng 8/12 tại Bảo tàng Hồ Chí Minh (Hà Nội).
Chuyến tàu điện ở Hà Nội luôn trong tình trạng chật kín khách.
Người dân xếp hàng mua lương thực, thực phẩm theo tem phiếu thời kỳ bao cấp trước năm 1985.
Cuốn sổ đăng ký mua lương thực năm 1988 của gia đình ông Phan Văn Sinh, xã Duyên Hà, Thanh Trì, Hà Nội.
Phiếu thực phẩm loại C năm 1973 của Bộ Nội thương phát hành được Xí nghiệp sửa chữa đồng hồ cấp cho bà Nguyễn Thị Bảy ở phố Hàng Khoai (Hà Nội).
Phiếu mua hàng ở mỗi địa phương lại khác nhau...
...và có nhiều loại.
Phiếu mua 2 kg thịt năm 1972.
Phiếu mua thịt lợn, thịt bò, cá, gia cầm, trứng...
Phiếu mua hàng năm 1989, tức 3 năm sau đổi mới.
Trong thời kỳ bao cấp, các mặt hàng từ chất đốt...
...cho tới cả vải vóc, phụ tùng xe đạp... đều dùng tem phiếu.
Và mỗi loại tem phiếu lại ghi rõ số lượng hàng hóa có thể được mua, như 0,2 - 0,5 - 1 mét vải.
Và vải của nam, nữ cũng được quy định trong tem phiếu.
Gia đình có trẻ em sẽ được phát phiếu mua sữa...
...và phiếu mua đường.
Còn phụ nữ nông thôn có phiếu bồi dưỡng dành cho người sinh con.

Sau khi đất nước thống nhất, suốt giai đoạn 1976-1986, người dân cả nước đã quen với việc hàng hóa không được mua bán trên thị trường mà chỉ được phân phối theo chế độ tem phiếu. Năm 1986, đất nước bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện và dần bỏ lại những ký ức về một thời tem phiếu.
Tiến Dũng
Nguồn: VnExpress

Từ bánh bao ngày xưa đến phong bì ngày nay - Kỳ cuối

Written By kuxh on 30/10/2011 | 05:00

Hình như, trong não trạng của không ít người Việt, người thầy thuốc chân chính phải là một người nghèo túng (?). Người ta dễ dàng hoan nghênh một bác sĩ sống thanh bạch với đồng lương khiêm tốn, và …nuôi heo, chạy chợ để kiếm thêm chút đỉnh nuôi sống gia đình theo một cách rất qua ngày đoạn tháng. Không nhiều lắm những người hiểu được rằng, mọi nhân viên y tế đều có quyền được bù đắp xứng đáng với công sức lao động họ đã bỏ ra. Ít ai ý thức được một thầy thuốc nghèo túng thì khó mà giỏi giang, thông tuệ trong một ngành nghề quá rộng lớn và đầy thách thức.
Ba 
Đã khá lâu, một đồng nghiệp của tôi viết về công việc của mình ở một công ty dầu khí nước ngoài. Theo đó, anh rất tự hào về công việc chăm sóc y tế ở giàn khoan, với mức lương 3000 đô la mỗi tháng. Anh không phải làm phòng mạch để kiếm thêm, không phải xoè tay nhận chiếc phong bì tủi hổ. Anh làm nghề, và sống được với nghề! Thật ngạc nhiên khi đọc những bình luận chát chúa bên dưới bài viết của anh. Người ta mắng anh tham tiền, bỏ rơi y đức, đánh mất sứ mệnh cứu nhân độ thế.
Hình như, trong não trạng của không ít người Việt, người thầy thuốc chân chính phải là một người nghèo túng (?). Người ta dễ dàng hoan nghênh một bác sĩ sống thanh bạch với đồng lương khiêm tốn, và …nuôi heo, chạy chợ để kiếm thêm chút đỉnh nuôi sống gia đình theo một cách rất qua ngày đoạn tháng. Không nhiều lắm những người hiểu được rằng, mọi nhân viên y tế đều có quyền được bù đắp xứng đáng với công sức lao động họ đã bỏ ra. Ít ai ý thức được một thầy thuốc nghèo túng thì khó mà giỏi giang, thông tuệ trong một ngành nghề quá rộng lớn và đầy thách thức.
Hãy công bằng để nhìn nhận về một lỗi hệ thống rất nghiêm trọng đã đẩy đồng lương của ngành y đứng gần chót bảng 16/18 ngành nghề. Với thu nhập chết đói như thế, người nhân viên y tế không thể nào tồn tại được, nếu không có chút bồi dưỡng từ người bệnh của mình. Và mấy ai chịu nhìn nhận: một nền y tế tốt chưa bao giờ là một nền y tế rẻ. Rẻ mạt (trên danh nghĩa) như bây giờ lại càng không thể! Chưa bao giờ, chưa ở một đất nước dù giàu có đến mấy mà chi phí y tế lại rẻ, lại vừa túi tiền của đại đa số người dân cả. Cho nên, phúc lợi y tế vẫn là lời hứa hẹn cố hữu của nhiều chính trị gia khi tranh cử. Một cách mặc nhiên, người ta xác định đây là trách nhiệm lớn của chính quyền với người dân đóng thuế.

“Mấy ai chịu nhìn nhận: một nền y tế tốt chưa bao giờ là một nền y tế rẻ.”

Bốn 
Chăm sóc y tế ở Việt Nam, vẫn chưa được xem là một phúc lợi xã hội, một bổn phận của nhà cầm quyền với dân chúng. Có bao giờ, những người dân khốn khổ đang lăn lóc trong bệnh viện tự hỏi đã thêm được bao nhiêu bệnh viện mới, bên cạnh rất nhiều cao ốc, sân golf, resort? Chưa ai làm thử những phép tính để ước lượng những phi vụ tham nhũng khổng lồ, nếu chi tiêu vào phúc lợi y tế sẽ mang lại điều gì cho người dân? Người dân Sài Gòn chưa thấy một bệnh viện công lập nào mới mọc lên, sau bệnh viện Chợ Rẫy là bồi thường của chính phủ Nhật từ trước năm 1975. Người dân đã và đang nghe đến nhàm chán về những phi vụ tham nhũng khổng lồ từ các quan chức y tế. Người dân đang bội thực những danh hiệu “thầy thuốc nhân dân”, “thầy thuốc ưu tú”.
Chúng ta có những đầu vào trường y không giống ai như “chuyên tu”, “tại chức”, “đặc cách”, “cử tuyển”… Mật độ giáo sư, tiến sĩ trong hệ thống của chúng ta cũng dày đặc và nhan nhản, đên mức dân trong nghề phải đùa cợt nhau rằng: “tuy là Giáo sư (Y học), nhưng tay nghề gã ấy không tệ (?) ” Chúng ta đang chứng kiến hàng triệu con người chen chúc, khổ sở, vật vạ…trong những phòng bệnh tối tăm, bẩn thỉu… để mua lấy một sự “sống mòn”, mà Nam Cao sống lại ắt phải chào thua.
Trên cái nền nát như tương ấy, chúng ta hô hào “từng bước xây dựng” một nền y tế vừa tân tiến, nhân bản, “vừa hồng vừa chuyên”. Một trong những cách ấy là phát động “nói không với phong bì”. Thôi cũng được, chơi trò “sinh con rồi mới sinh cha, sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông” chắc là vẫn tốt hơn không làm gì? Càng nghĩ, càng thấy câu trả lời nằm ở xa, rất xa… Xa hơn rất nhiều so với những góc khuất mà người thầy thuốc và bệnh nhân Việt nam đang cùng nhau dấm dúi.
Nguồn:
 http://www.drnikonian.com/2011/10/16/banhbao-den-phong-bi/#more-4043

Từ bánh bao ngày xưa đến phong bì ngày nay - Kỳ đầu

Written By kuxh on 29/10/2011 | 09:52


phòng mạch của BS. T. thì nằm khuất trong một khu lao động nghèo của người Bắc di cư. Thỉnh thoảng ghé thăm, ngồi ngó nghiêng đàn anh khám bệnh, tôi cực kỳ ngạc nhiên khi nghe cái giá rẻ mạt mà bệnh nhân phải trả. Với giá đó, so với giá thuốc mắc mỏ, coi như lỗ vốn tiền thuốc, chưa nói đến thù lao khám bệnh.


Một 
phòng mạch của BS. T. thì nằm khuất trong một khu lao động nghèo của người Bắc di cư. Thỉnh thoảng ghé thăm, ngồi ngó nghiêng đàn anh khám bệnh, tôi cực kỳ ngạc nhiên khi nghe cái giá rẻ mạt mà bệnh nhân phải trả. Với giá đó, so với giá thuốc mắc mỏ, coi như lỗ vốn tiền thuốc, chưa nói đến thù lao khám bệnh.
 Thắc mắc hỏi, BS. T. chỉ cười xoà mà rằng: - Bà cụ ấy nghèo lắm. Lấy đúng giá, tiền đâu bà ta chữa bệnh? Hèn chi, tuy tuổi đã cao, tay nghề không hề kém cỏi, người đàn anh kính mến của tôi vẫn đi lại bằng một chiếc Honda Dame 50, niềm mơ ước của nhiều tay chơi xe cổ. (?)

“Bà cụ ấy nghèo lắm. Lấy đúng giá, tiền đâu bà ta chữa bệnh?”(Hình minh họa - Nguồn: Internet)

Lại nhớ đến V, một bệnh nhân vô cùng nặng năm xưa. Có lẽ V. giữ kỷ lục về số ngày hôn mê, nằm viện, truyền máu, thở máy, chạy thận… Không nhờ một quĩ nghiên cứu quốc tế về bệnh nhiệt đới và rất nhiều may mắn, ắt V. đã ra người thiên cổ.
Nhìn V. xiêu vẹo, xanh xao trong ngày xuất viện, ai cũng lắc đầu khen số tay này quá lớn! Vậy rồi thôi, tôi cũng quên bẵng V. cho đến khi không biết bằng cách nào, V. lò dò đến tận nhà. Đen đúa, rắn rỏi, V. vác theo một buồng chuối còn xanh, bẽn lẽn “gọi là tạ ơn bác sĩ đã cứu mạng!”. Dẫu biết V. thành tâm, nhưng làm sao nhận món quà quê rất mực chân thành đó, khi biết rằng có thể đó là một ngày tiền chợ, tiền ăn của gia đình V. ở một góc núi rừng hẻo lánh nào đó.
 Nhận cái tình của V. thôi vậy, mà cũng đủ để thấy lòng cảm động mỗi khi nhớ đến. Lại càng không quên được những ngày đói khó. Cả kíp trực đêm đều hốc hác, rạc người. Việc nhân viên y tế ngất xỉu trong đêm vì đói – hay nói văn hoa là hạ đường huyết cho đỡ tủi- là chuyện cơm bữa. Mà thời ấy, bệnh nhân và người nhà cũng nghèo túng. Thỉnh thoảng mới có một thân nhân hảo tâm, tiếp tế dăm ổ bánh mì thịt, vài cái bánh bao.
 Hai 
Chắc chắn, một trí thức miền Nam được “lưu dung” như BS. T. hoàn toàn không cần đến những bài học về y đức, về đạo đức y tế XNCN. Từ tấm bé, họ đã được giáo dục sự kính trên nhường dưới, tránh xa lẽ mạnh được yếu thua. Họ được dạy dỗ để cúi mình xuống những thân phận hẩm hiu như một lẽ đương nhiên, như một thói quen được tu tập trong rất nhiều năm từ gia đình, xã hội . Tôi chắc rằng, nếu không làm thầy thuốc, thì đàn anh T. thân mến của tôi cũng sẽ cư xử đầy khiêm hoà, nhân ái như vậy trong bất cứ nghề nghiệp nào.
 Cứ gì phải làm thầy thuốc, với y với đức cao xa? Không cần Bộ Y tế nào phát động, người đàn anh kính mến của tôi cũng sẽ “nói không với phong bì” một cách dung dị, thản nhiên. Vì cái liêm sỉ của người trí thức trong anh không cho phép. Mà không chỉ mình anh T, không ít đồng nghiệp của tôi cũng thản nhiên từ chối phong bì như thế.
Người bệnh V. của tôi với buồng chuối xanh năm xưa cũng vậy. V. làm gì biết đến “kinh tế thị trường”, cái mà người ta hay vịn vào để đổ lỗi cho những điều xấu xí. Nghèo khó, chơn chất, ắt hẳn V. không có khái niệm về cái gọi là “văn hoá phong bì” đang nhan nhản hôm nay. Cũng vậy, ổ bánh mì, cái bánh bao…uỷ lạo cho kíp trực ngày ấy hoàn toàn mang ý nghĩa khác hẳn với sự đổi chác mua chuộc. Nó là sự đồng cảm của những con người nghèo túng… để chia sẻ cùng nhau trong một đêm cùng giành giật sự sống. Nó là sự thấu hiểu và cảm thông cho sự nghèo đói, túng thiếu của nhân viên y tế, nhìn từ phía người bệnh và gia đình. Có lẽ, đây là biểu hiện trung thực nhất (và chua chát nhất) của cái gọi là nền y tế do “nhà nước và nhân dân cùng làm”.
 Hơn ai hết, người bệnh và thân nhân của họ thừa hiểu đồng lương chết đói của nhân viên y tế. Họ biết rõ con người đang chăm sóc sức khoẻ cho họ không thể sống được bằng đồng lương. Theo nhiều người nhà bệnh nhân, mức bồi dưỡng thầy thuốc tại bệnh viện tuyến T.Ư, như một luật “bất thành văn” mà nhiều bệnh nhân áp dụng là 1 triệu đồng/ca đẻ, 1-2 triệu đồng/ca mổ, 100.000-200.000 đồng khi đi khám bệnh và 50.000-100.000 đồng cho điều dưỡng (nguồn: Báo Pháp Luật). Chỉ cần một phép tính đơn giản, người ta thấy ngay chi phí khám bệnh ở một BV công thì ngang ngửa với khu vực tư nhân, nơi mà người ta không cần lót tay để được thay một bộ đồ sạch sẽ, hay để khỏi phải nằm chung giường với một người bệnh khác. Khi so sánh như vậy, phải nhìn nhận thẳng thắn, hành vi lót tay đã trả dịch vụ y tế về giá trị thực tối thiểu của nó là nuôi sống được nhân viên y tế và gia đình của họ.
Nếu lương tiền tử tế, bệnh viện công không quá tải khủng khiếp như bây giờ…, chắc không đến nỗi xuất hiện văn hoá phong bì đáng xấu hổ ở mức độ tràn lan. Với tổng chi phí (kể cả lót tay) tương đương, không thấy ai kêu ca về tệ nhũng nhiễu ở các bệnh viện tư cả. Nhưng khi người thầy thuốc đã bén hơi tiền bạc mà không có được một nền giáo dục như bác sĩ T ở trên, sự trả ơn của người bệnh sẽ mau chóng biến thành thói bóp nặn rất đáng kinh sợ.
Đến nỗi nó là cớ để phát động không biết bao nhiêu phong trào từ chối phong bì. Sáng kiến này không tệ, nhưng tốt hơn là ngăn chặn thói quen quát nạt, hắt hủi khi không (hay chưa) có phong bì. Xin nói thẳng, thói bạc ác này khốn nạn, vô nhân hơn rất nhiều so với việc đút túi chút lễ mọn tạ ơn của người bệnh. (Tôi tin chắc sẽ có khá nhiều comment tả oán về sự vô đạo này từ phía bạn đọc.)
(Còn tiếp) 
Nguồn: 
http://www.drnikonian.com/2011/10/16/banhbao-den-phong-bi/#more-4043

Đời sống kinh tế thời bao cấp ở miền Nam - Kỳ 4: Trên đường đi công tác

Written By kuxh on 03/06/2011 | 05:00

Khi được hỏi trong thời kì Bao cấp điều gì làm cho chú nhớ nhất, chú T đã kể cho tôi nghe về một câu chuyện, câu chuyện mà bản thân chú cho là biểu hiện rõ nhất của hình ảnh "ngăn sông cấm chợ" đã diễn ra ở Việt Nam lúc bấy giờ. Chú T cho biết để lo nguyên liệu cho ngành tiểu thủ công nghiệp, chú đã đi tới tỉnh Đồng Nai công tác với tư cách là cán bộ Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. 

Khi xuống tỉnh Đồng Nai, chú trình giấy giới thiệu cho Sở Ngoại thương tỉnh, xin về khu vực có rừng để tìm và khai thác cây lá buông. Trên đường đi qua hai vùng Xuân Sơn và Bình Giã (bây giờ thuộc tỉnh Bà Rịa), chú nghe người dân địa phương nói ở đây có nhiều cây lá buông nên quyết định đi một chuyến tìm hiểu. Khi đến Xuân Sơn, chú đã gặp bốn người bị trói cả tay và chân nằm dưới đất. Lúc đó, mặc dầu có hai anh công an đi theo bảo vệ nhưng chú vẫn cảm thấy hơi sợ vì nghĩ rằng đó là tàn quân của Ngụy. Đến lúc hỏi thăm chú mới biết, những người này không phải là tàn quân mà chính là người dân ở đây. Vì họ trốn về thành phố mua thuốc sốt rét nên mới bị bắt trói như vậy. Chú T nói, đó là cảnh tượng đầu tiên làm cho chú phải suy nghĩ nhiều trong suốt chuyến đi công tác lúc đó.

Một điều khác cũng làm cho chú suy nghĩ không kém trong chuyến công tác này là một cảnh tượng diễn ra vào ngày cuối cùng khi chú kết thúc việc tìm cây lá buông và rời Xuân Sơn. Chú kể lúc đó đi công tác về, khi chú lên xe thì tự nhiên bà con dạt ra hai bên để nhường ghế cho chú. Chú T không biết nguyên nhân vì sao người ta lại thể hiện sự tôn trọng chú như vậy. Tuy nhiên, sau một lúc suy nghĩ chú nhận ra nơi mình có một chút gì đó khác họ. Trong chuyến công tác đó, chú T  đội một cái nón cối mới, chân đi dép râu nhưng không phải dép thường mà là dạng dép đúc (do các anh trong Tổng công ty mây, tre, lá ở Hà Nội tặng). Chú lại nói giọng Bắc và có hai người đi theo bảo vệ. Bấy nhiêu căn cứ đó cũng đủ làm cho người ta nhầm tưởng chú là cán bộ ở ngoài Bắc vào. Rồi chú thấy tự nhiên người ta ném những bao như bao cát xuống trước mặt chú khi đến trạm kiểm soát. Chú T nói lúc đó chú không biết những bao này là bao gì. Khi mấy anh du kích hỏi "Cái này của chú hả?" chú cũng không dám nói. Nhưng nhìn thấy chủ nhân của mấy cái bao nhìn chú với ánh mắt van lơn, thì chú đã gật đầu nhận những bao đó là của mình, dù không biết điều gì sẽ xảy ra. Chú T nói, lúc đó khi gật đầu chú cũng chỉ dám gật nhè nhẹ chứ không dám gật mạnh. 

Đợt đó chú cũng vừa biết chuyện ông Đỗ Mười dưới Long An. Ông Đỗ Mười chỉ mới chở một ít tôm mà họ cũng không tha. Họ nói "Ông Đỗ Mười chứ ông Mười Một cũng bắt". Nghĩ đến điều đó, chú T cảm thấy hơi lo nên chỉ dám gật đầu nhè nhẹ. May mắn là đội du kích lúc đó cũng lầm chú là cán bộ ngoài Bắc vào nên cũng dễ dàng cho qua. Điều đáng nói là sau khi chú đã đi khỏi trạm kiểm soát chừng 100 m, quay đầu lại chú thấy bà con quỳ xuống lạy chú. Chú rất ngạc nhiên vì mỗi người chỉ có một cái bao như bao cát mà tại sao họ lại tỏ ra cảm động như vậy. Về sau, chú mới biết những cái bao đó đựng các loại đậu đen, đậu xanh mà người dân đã trồng được. Chú T hiểu tại sao người ta lại quăng những cái bao đó xuống trước mặt chú và nhìn chú với ánh mắt van lơn, rồi sau khi vượt qua trạm kiểm soát họ lại lạy chú. Người ta muốn cám ơn chú vì nhờ chú mà hàng hóa của họ qua được trạm kiểm soát an toàn. 

Sự kiện này và cả sự kiện trước đó - thấy những người bị trói lại chỉ vì trốn vào thành phố để mua mấy viên thuốc sốt rét - đã được chú T viết lại theo yêu cầu của ông  Nguyễn Văn Linh. Chú viết những điều này để làm cơ sở cho yêu cầu được “đổi mới”, điều mà sẽ được bàn đến trong Đại hội Đảng lần VI. 

Trong quá trình mô tả về hai sự kiện diễn ra trước mắt mình trong chuyến công tác, chú T đã phân tích để thấy được việc cần thiết phải bãi bỏ các trạm kiểm soát như thế nào. Chú T đặt một câu hỏi lớn cho nền kinh tế nước nhà lúc bấy giờ là “Ai giết ta?”. Và những cảnh tượng đang diễn ra trước mắt chú nói cho chú biết rằng: "Không ai giết ta cả mà là tự ta, ta giết ta". Khi nhìn thấy người dân có thể làm ra các sản phẩm nông nghiệp nhưng không có cách nào mang ra khỏi ấp của mình để trao đổi với các loại hàng hoá khác, chú hiểu rằng nền kinh tế của nước ta và người dân của ta đang đi vào con đường chết. Người dân trồng ra được đậu xanh, đậu đen, ngô, sắn,… Họ cần phải đem về Sài Gòn bán lấy tiền mua những thứ khác như đồ ăn, thức uống, thuốc men,… Họ cần phải sống với những trao đổi cơ bản đó. Tuy nhiên, những trạm kiểm soát của nhà nước được dựng lên đã cản trở tất cả những điều đó. Người ta làm ra sản phẩm rồi để đó hoặc bán cho nhà nước với giá rất thấp. 

Chú T nói ngày đó nếu ai có thể mang đậu xanh vào thành phố Hồ Chí Minh bán, họ có thể bán một ký đậu với giá năm đồng. Nhưng nếu bán cho nhà nước, họ chỉ nhận được khoảng năm cắc, hai hào và mấy xu. Với giá mua này, không ai có thể sống nổi nếu không nhận được thêm một sự trợ cấp nào khác. Làm sao để đem được hàng  ra khỏi cái ấp của mình? Phải qua bao nhiêu trạm kiểm soát mới có thể đưa hàng về thành phố? Người dân lúc bấy giờ loay hoay với hàng hoá và những nhu cầu sống thiết yếu của mình. Việc “ngăn sông cấm chợ” không sớm thì muộn cũng làm cho lòng dân nổi giận. Chú T nói đó là lí do vì sao trong thời gian đó các vụ bắn phá trạm kiểm soát xảy ra thường xuyên, làm chết không biết bao nhiêu người. Nên việc cứu sống dân cũng là cứu sống nền kinh tế nước nhà. Theo chú T, nhà nước cần phải bãi bỏ ngay các trạm kiểm soát.

Bản thân tôi không sống vào thời đó để  trực tiếp thấy cảnh “ngăn sông cấm chợ” gây khó khăn cho người dân như thế nào. Tuy nhiên, với những câu chuyện được nghe chú T kể, tôi cảm thấy rằng: sau dấu mốc vĩ đại của ngày 30/4/1975 như dấu chứng của sự thống nhất đất nước, có lẽ Việt Nam cần được thống nhất thêm nữa về thị trường. Sự thống nhất mà tôi muốn nói tới là việc cần thiết phải phá bỏ các trạm kiểm soạt để không còn sự ngăn cách giữa ấp này với ấp khác hay giữa các tỉnh thành với nhau nữa. Chỉ phá bỏ việc “ngăn sông cấm chợ” lúc bấy giờ, Việt Nam mới có thể nói được rằng mình đã được thống nhất một cách thật sự.

Ngọc Lưu

Các bài viết liên quan:
 
Support : Creating Website | Johny Template | Mas Template
Copyright © 2011. Bảo tàng Ký ức Xã hội - All Rights Reserved
Template Created by Nhật Nguyên Published by Nhật Nguyên
Proudly powered by Nguyễn Đức Lộc