Tin mới :

Latest Post

Hiển thị các bài đăng có nhãn Bùi Văn Nam Sơn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bùi Văn Nam Sơn. Hiển thị tất cả bài đăng

Hạnh phúc ai bán mà mua

Written By kuxh on 18/06/2012 | 08:02

Quỹ Kinh tế Mới (NEF) đánh giá Việt Nam đứng thứ hai trong bảng xếp hạng Chỉ số Hành tinh Hạnh phúc (HPI) của năm 2012.

Việt Nam xếp thứ hai về chỉ số HPI theo đánh giá của NEF.
Đồ họa: 
NEF
1. Sysyphe là nhân vật thần thoại Hy lạp. Chàng phát hiện hành vi mờ ám và tồi bại của một ông thần chóp bu (Egine, con gái của Asope, bị thần Jupiter, tức thần Zeus bắt cóc) và bị trả thù. Hình phạt dành cho chàng (tại sao chống tiêu cực không được thưởng mà bị phạt?) là phải không ngừng hì hục vần một tảng đá lên đỉnh núi, rồi tảng đá lăn xuống, và lại hì hục! Thần linh có khác: họ có lý khi cho rằng không có hình phạt nào khủng khiếp hơn cái công việc vô ích và vô vọng. 

Họ có lý ở chỗ tạo ra được một cái cực phi lý! Khi kể lại thần thoại này bằng giọng văn cảm khái, văn hào Albert Camus viết: “Ta biết từ lâu rằng Sisyphe là một nhân vật phi lý. Chàng tỏ ra phi lý bởi cả những nỗi đam mê lẫn nhục hình của chàng.Thái độ coi thường thần linh của chàng, lòng căm thù cái chết (chàng đã từng bắt trói thần chết khiến Diêm vương suýt thất nghiệp!) và lòng ham mê cuộc sống của chàng đã khiến cho chàng phải chịu cái nhục hình khó tả như vậy, cái nhục hình bắt con người ra sức làm mà chẳng làm xong được việc gì. Đó là cái giá phải trả cho những nỗi đam mê trần thế của chàng”. 

Nhưng câu chuyện không chỉ liên quan đến số phận riêng của một nhân vật thần thoại.Camus lập tức liên tưởng đến thân phận hiện thực của “người công nhân ngày nay, suốt tháng ngày trong cuộc đời của mình, luôn phải làm việc với cùng một nhiệm vụ, và cái số phận ấy cũng chẳng kém phần phi lý”.Những người Pháp đồng hương với Camus mô tả sống động dòng đời buồn chán, vô nghĩa ấy là “métro, boulot, dodo” (tàu điện, quần quật, lăn ra ngủ, rồi cứ thế lặp lại). Nhịp sống ấy , suy rộng ra, đúng cho mọi kiếp người ! 

Vậy, hạnh phúc ở đâu, hay, hỏi như Camus và như ..muôn thưở: cuộc đời có đáng sống không? Trước câu hỏi ‘hiện sinh’ ấy, tác giả đáng yêu của chúng ta đề nghị ba giải pháp: tự tử, tín ngưỡng và nổi dậy phản kháng. Trước hết, tự tử để chết quách cho xong (Camus là tác giả của luận đề nổi tiếng: “tự tử là tối đại vấn đề của triết học!”), là thừa nhận rằng cái phi lý mạnh hơn con người. Không được! Tiếp theo, tín ngưỡng hứa hẹn mang lại ý nghĩa cho cuộc đời, nhưng bằng cách triển hạn niềm ‘an ủi’ ấy vào kiếp sau, không ai có thể kiểm chứng được. Nghĩa là, cái phi lý chỉ được treo lại, được ‘bỏ trong dấu ngoặc’. Sau cùng, chỉ còn giải pháp thứ ba: nổi dậy phản kháng. 

Con người không thể chấp nhận, mà phải kiên quyết chống lại, không cho phép cái phi lý thống trị kiếp người. Nhưng, sự phản kháng này chỉ có thể bắt đầu khi nào? Camus viết: “Chính trong thời gian chàng được nghỉ ngơi khi quay xuống chân núi là lúc khiến tôi quan tâm (…) Tôi nhìn thấy chàng quay xuống núi với bước đi nặng nề nhưng bình thản để đến với khổ hình không biết bao giờ kết thúc. Thời điểm này là lúc hít thở. Nó thuộc về chàng cũng chắc chắn như nỗi bất hạnh của chàng: thời điểm của ý thức. Tại mỗi thời điểm như vậy, chàng vượt cao hơn số phận; chàng mạnh hơn tảng đá của đời chàng”. Sisyphe trở thành một huyền thoại: con người đạt được hạnh phúc vào chính lúc nổi dậy phản kháng sự phi lý, biết rằng nỗ lực của mình là vô vọng, nhưng có thể vượt qua nó bằng sự kiêu hãnh và khinh miệt. Tuy không thể xóa bỏ sự phi lý như xóa bỏ những khó khăn, bất hợp lý vặt vãnh, tuy biết rằng nhiệm vụ rất gian nan, nhưng khi dám đương đầu và thách thức với số phận, cuộc chiến đấu ấy “đủ sưởi ấm và làm viên mãn trái tim người”: “cần phải tưởng tượng rằng Sysyphe hạnh phúc!”. 

2. Trở lên là một trong những thái độ mà con người có thể lựa chọn trước câu hỏi về khổ đau và hạnh phúc. “Phải tưởng tượng Sysyphe hạnh phúc!” là câu nói sâu thẳm của Camus, vì ông biết đặt hạnh phúc vào trong khuôn khổ hữu hạn của thân phận con người. Mọi nỗ lực định tính, tức đi tìm một định nghĩa nhằm xác định nội dung cho hạnh phúc, buồn thay, đều là công dã tràng, không khác mấy việc làm của Sysyphe! Không phải do con người kém thông minh (từ ngàn đời nay, có biết bao nhiêu nhà tư tưởng!), mà do đặc tính kỳ lạ của bản thân sự việc. 

Hạnh phúc, cũng như nhiều khái niệm hệ trọng khác đối với con người, chẳng hạn: chân, thiện, mỹ…, xét đến cùng, đều trượt khỏi bàn tay con người. Hãy lấy một ví dụ. Ta có thể định nghĩa hay đề ra năm tiêu chuẩn của chân lý: nó phải nhất quán, hiển nhiên, được đồng thuận rộng rãi, hữu ích và là mục đích tối hậu của mọi sự tìm tòi. 

Nhưng câu hỏi còn lại vẫn là: nó có phải là…chân lý không ? Tấm vé số nào cũng đáp ứng năm điều kiện ấy cả, nhưng không phải ai cũng có thể trúng số! Ông triết gia hoài nghi Sextus Empiricus (200-250) thấy điều ấy từ lâu: “Trong hang tối mò có nhiều người đi tìm vàng. Người nào cũng tìm được một thỏi, tin là vàng, nhưng không ai dám chắc, dù đang nắm trong tay! Cũng thế, hàng đàn những triết gia sinh ra đời như trong hang tối để đi tìm chân lý. Khôn ngoan là: ngay người nào đã nắm được chân lý trong tay, cũng nên nghi ngờ rằng có chắc thế không”. Cái gì là chân, thiện, mỹ, hạnh phúc.. thì phải tự thân nó là như thế chứ không phải do mình tin là như thế! Cái trượt ra khỏi bàn tay con người ấy thường được gọi là tính trội (supervenient) của sự việc và nằm ngoài tầm với của con người. 

Đã có biết bao nỗ lực đáng kính nhằm định nghĩa hạnh phúc. Nào là phân biệt hạnh phúc chủ quan như là trạng thái hài lòng, hoặc khách quan như sự may mắn vì hội đủ các điều kiện cần thiết cho hành động. Những điều kiện ấy có thể là ngoại tại như sự giàu sang, danh vọng. Cũng có thể là sự hoàn thiện nội tâm, tăng an lạc, giảm khổ đau, thậm chí có thể đồng nhất hạnh phúc với sự hiến dâng đầy hy sinh cho một lý tưởng bằng con đường khổ hạnh hoặc ‘tử đạo’. 

Có người đặt tiêu chuẩn rất cao cho hạnh phúc đích thực như sự chí thiện (Khổng), giác ngộ (Phật) hay, như nơi Plato, hợp nhất chân, thiện mỹ, sánh ngang với thần linh. Có người lại bi quan như Schopenhauer: “Mọi sự thỏa mãn lầm tưởng là hạnh phúc thật ra đều là tiêu cực chứ không bao giờ là tích cực”. Giải pháp dung hòa nhưng không kém sâu sắc là quan niệm của Immanuel Kant: “hạnh phúc là khẩu hiệu đầu môi của mọi người, nhưng nó không bao giờ có mặt thật sự trong thế gian. Điều duy nhất con người có thể đạt được là sựxứng đáng để được hưởng hạnh phúc”. Hạnh phúc, theo nghĩa đó, được chuyển thành một lý tưởng để vươn tới như một chân trời bất tận, như một lẽ công bằng sẽ bù đắp cho những kẻ thiện tâm nhưng luôn gánh chịu bất hạnh, oan khiên nơi trần thế, chứ không phải hoa trái chín mọng luôn sẵn sàng mời đón con người. 

Hơn ai hết, Kant thấu hiểu sự hữu hạn của kiếp người, tuy nhiên, thưa ông, cũng chính vì sự hữu hạn trần tục ấy, họ cũng cần được hưởng ngay chút ít hoa trái trần gian cụ thể như Sysyphe vẫn có giây phút nghỉ ngơi, hít thở bên cạnh tảng đá của đời mình. Thế là bắt đầu có những ‘thống kê’ định lượng về hạnh phúc!

3. Khi hai quốc gia khác nhau lại đứng đầu trong hai bảng ‘thống kê’ về hạnh phúc trong cùng một thời điểm, ai cũng thấy ngay rằng một trong hai hoặc cả hai bảng là không ổn. Điều lạ lùng là hầu như dư luận thụ động tiếp nhận, rồi thông tin rình rang nếu thấy có lợi cho tên tuổi quốc gia mình, hơn là phân tích và phê phán nghiêm chỉnh. 

Trong Bản đồ thế giới về Hạnh phúc, mười nước đứng đầu chủ yếu là các nước Âu châu (chẳng hạn năm 2006, Đan mạch đứng đầu, tiếp theo là Thụy sĩ vá Áo). Ngược lại, trong Chỉ số hạnh phúc hành tinh (HPI), tốp đầu là các nước nghèo, chậm phát triển (năm 2006, đứng đầu là đảo quốc Vanuatu, Việt nam đứng thứ 12), rồi năm 2009, đứng đầu là Costa Rica, và Việt nam được nâng lên hạng 5).Trong bảng thứ nhất (2006), Mỹ đứng hạng 23, Anh đứng hạng 41; trong bảng sau, cả hai bị đánh tụt xuống hạng 150 và 108! Nhiều nhà bình luận nhận ra nguyên nhân chủ yếu của sự mâu thuẫn là ở các cách tiếp cận khác nhau và, từ đó, ở phương pháp thu thập và tổng hợp thông tin. 

Cách tiếp cận nào cũng bao hàm tính xu hướng và ít nhiều định kiến. Một bên xem trọng sự tiến bộ trong khoa học, công nghệ, chăm sóc sức khỏe và giáo dục. Bên kia, nhân danh bảo vệ môi sinh, tất yếu có xu hướng giáng cấp các nước có mức tiêu thụ cao, và, vô tình hay cố ý, kiềm hãm sự phát triển và gây thêm ngộ nhận và ảo tưởng cho các nước nghèo. Về phương pháp, thật là khó và liệu có hợp lý không khi kết hợp hai yếu tố dị loại (yếu tố khách quan dễ định lượng như tuổi thọ và yếu tố chủ quan như cảm nghĩ cá nhân về sự hài lòng) thành một thước đo duy nhất như trong bảng chỉ số HPI. 

Điều này cho thấy: việc sắp hạng hạnh phúc là rất tương đối và không thật sự đáng tin cậy, đó là chưa nói đến tính trội đã đề cập ở trên. Một nhà bình luận nhận xét: hạnh phúc trong các bảng sắp hạng này là “hạnh phúc” của người sắp hạng hơn là của dân chúng các nước được sắp hạng! Một nỗ lực đáng ghi nhận và ca ngợi khác là sáng kiến độc đáo từ năm 1972 của nước Bhutan nhỏ bé ẩn mình bên Hy mã lạp sơn nhằm đo lường chất lượng sống và sự tiến bộ xã hội mang nghĩa tổng thể và tinh thần nhiều hơn là chỉ số đơn thuần kinh tế và có tính lừa mị quen thuộc của GDP (tổng sản phẩm quốc nội), đó là: tổng hạnh phúc quốc gia (GNH). 

Mang đậm bản sắc và truyền thống tâm linh Bhutan lúc ban đầu, nhưng quan niệm này ngày mang tính liên-văn hóa và được tán đồng rộng rãi qua nhiều hội nghị quốc tế với sự cam kết không ngừng gia tăng của nhiều nước khác nhau. Dựa trên bốn trụ cột thoạt nhìn có vẻ định tính và khó đo lường: sự phát triển bền vững, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, bảo tồn môi trường tự nhiên và sau cùng, có nền quản trị quốc gia tốt đẹp, GNH ngày càng được các chuyên gia chi tiết hóa và định lượng hóa, xoay quanh bảy lĩnh vực:

1. sự hài lòng kinh tế (tiết kiệm, nợ, sức mua) 
2. sự hài lòng môi trường (ô nhiễm, tiếng ồn, giao thông) 
3. sự hài lòng về chỗ làm việc (nghề nghiệp, động lực, đạo đức, xung đột) 
4. sức khỏe thể chất (bệnh nặng, béo phì) 
5. sức khỏe tâm thần (dùng thuốc an thần, trầm uất, lạc quan, bi quan thông qua thái độ tích cực hay tiêu cực…) 
6. sự hài lòng xã hội (bao gồm gia đình và thân thuộc: tình dục, phân biệt đối xử, tỉ lệ ly hôn, kiện tụng trong thân tộc, kiện tụng ngoài xã hội, tỉ lệ tội phạm, sự an toàn, sự tương trợ…) 
7. sự hài lòng chính trị (chất lương dân chủ cơ sở, tự do cá nhân, tranh chấp với nước ngoài..) (nhiều báo cáo chi tiết về bảy lĩnh vực nêu trên trong trường hợp Bhutan đã được phổ biến trên mạng). 

Bàn về “Tổng Hạnh Phúc Quốc Gia” trong một bài viết, GS Chu Hảo nhận định: “(…) thành tựu kinh tế mà chúng ta đạt được, tuy chưa phải đã nhiều và vững chắc, đã đi kèm theo sự xuống cấp văn hóa nghiêm trọng. Xuống cấp văn hóa không phải chỉ đơn giản là nói về những tiêu cực trong lĩnh vực văn hóa hiểu theo nghĩa hẹp, mà là sự xuống cấp văn hóa chung, mang tính nền tảng phát triển của xã hội, một sự suy thoái đạo đức, tinh thần… Sự xuống cấp ấy biểu hiện trước hết ở chỗ khủng hoảng niềm tin của nhân dân vào nền quản trị quốc gia và nền giáo dục quốc dân; ở sự dối trá và đảo lộn giá trị trong mọi quan hệ ở mọi lĩnh vực; ở tình trạng tham nhũng tràn lan và gia tăng bạo lực. Xuống cấp văn hóa không phải là cái giá tất yếu phải trả cho sự phát triển kinh tế, mà có lẽ do chúng ta đã chọn một mô thức phát triển sai. 

Trong bối cảnh của thế giới hiện đại, mô thức nào là thích hợp cho mỗi quốc gia, vẫn là một câu hỏi khó. Nhưng không chạy theo tăng trưởng GDP bằng bất cứ giá nào, mà chú trọng phát triển “Tổng Hạnh Phúc Quốc Gia” dựa trên sự bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống và môi trường sinh thái như Bhutan đã làm, có lẽ là một kinh nghiệm tốt cho chúng ta”.

4. Trở lại với Sysyphe. Có lẽ như với từ “độc lập” trong một thời gian khổ, có thể nói như thế chăng về từ “hạnh phúc”: hạnh phúc ai bán mà mua, ai cho mà lấy, ai thừa mà xin. Sysyphe đã “tỏ ra mạnh hơn tảng đá của đời chàng”. Sao giống quá với người thợ lặn lão thành ở đảo Lý sơn mở trừng mắt để thấy mình mạnh hơn con cá mập hung dữ. 

Phúc cho những ai mưu cầu hạnh phúc trong bão giông, và, phải “tưởng tượng rằng họ hạnh phúc!”.

Bùi Văn Nam Sơn
(Nguồn: Văn hóa Nghệ An)

Ba câu chuyện kể về Thầy trò

Written By kuxh on 06/05/2012 | 15:20

Trong một buổi tối ấm cúng dưới giảng đường trường ĐHKH XH&NV TPHCM đầu tháng năm, 2012. Mấy chục trò đủ lứa tuổi, thành phần, từ tóc xanh đến tóc điểm sương ngồi quây quần bên Thầy tôi, thầy Bùi Văn Nam Sơn. Chúng tôi thi nhau hát, đọc thơ, làm trò cho thầy vui vì hôm nay là sinh nhật thầy. Không hiểu sao ngày vui của Thầy mà chúng tôi cứ hát toàn bài buồn. Anh Lộc hát “Mùa thu chết”, tôi hát “Phôi Pha”… Lại có anh còn đọc bài thơ của Giang Nam rất thảm thiết “Giặc giết em rồi quăng mất xác…”. Sau nhiều nỗ lực để làm thầy vui (dù bằng những bài buồn), người hát và đọc thơ cuối cùng là một anh giọng miền Trung. Anh hát thì hiểu được nhưng khi anh kết thúc bằng một bài thơ của Bùi Giáng với giọng ngâm “trung ngữ” thì chúng tôi lại được thêm những nụ cười. Dù vậy, trong suốt buổi, Thầy vừa lắng nghe từng người một, vừa nhìn chúng tôi bằng ánh mắt âu yếm, tràn đầy yêu thương. Để kết thúc buổi tiệc sinh nhật, Thầy nói: “Có mấy câu chuyện về tình thầy trò của người xưa mà nhân đây, xin kể lại cho các bạn...”.

Tôi muốn ghi lại đây, như để lưu giữ một kỷ niệm về người thầy của chúng tôi. Để về sau, mỗi lần nhớ đến Thầy, không chỉ trong ký ức mơ màng mang máng, mà là những câu chuyện thật sinh động, để mỗi khi đọc lại, thì hình ảnh của Thầy sẽ không hề phai.

Câu chuyện thứ nhất- Khổng Tử khóc Nhan Hồi

Chúng ta ngồi đây, hiện tồn, nhớ về những người Thầy từ ngàn xưa. Như câu chuyện đức Khổng Tử khóc Nhan Hồi. Trong số các môn sinh, Khổng Tử biết được Tài, Đức của Nhan Hồi, vậy nên ông yêu trò ấy nhất. Yêu và tin tưởng. Nhan Hồi vốn rất nghèo. Đức Khổng Tử thường khen Nhan Hồi: "Hiền tai Hồi giả! Nhất đan tự, nhứt biều ẩm, tại lậu hang, nhân bất kham kỳ ưu, Hồi giả, bất cải kỳ lạc! Hiền tai Hồi giả!" Nghĩa là: Hiền vậy thay Nhan Hồi! Một giỏ cơm, một bầu nước, ở chỗ ngõ hẹp, giá người khác ở vào cảnh ấy thì lo buồn không chịu được, thế mà Nhan Hồi không bao giờ đổi cái vui của mình. Hiền vậy thay Nhan Hồi!
Nhan Hồi mất lúc còn rất trẻ, mới 31 tuổi.
Khổng Tử hay tin, khóc trước linh cữu của trò. Lúc đầu khóc nhỏ, sau càng lúc càng to, càng ai oán. Các trò nhìn nhau ngạc nhiên khôn xiết. Xưa nay Thầy vốn là người luôn bình tĩnh và chính Thầy cũng dạy đừng làm điều gì quá mức. Đừng vui quá, cũng đừng buồn quá. Vậy mà hôm nay sao Thầy lại khóc thương thảm thiết như thế. Về sau, một trò hỏi sao lúc đó Thầy khóc khác thường. Ông chỉ la lên: “Trời hại ta! Trời đã hại chết ta!”.

Chuyện này, theo tôi hiểu thì  ý Thầy tôi muốn nói Đức Khổng Tử biết Nhan Hồi mất thì những điều tốt đẹp hơn nữa muốn để lại cho đời sau cũng mất. Dù sau này còn có rất nhiều học trò của Khổng Tử cũng làm rạng danh Thầy bằng những công cuộc truyền bá Nho giáo bất tử. Tuy vậy, với Khổng Tử, Nhan Hồi vẫn là người mà ông biết không thể có người thứ hai. Điều đó làm Khổng Tử đau lòng không thể tả.* * *

Câu chuyện thứ hai- Có cần nói gì nữa không
Một hôm, trong mùa kiết hạ, Đức Phật đang ngồi tọa thiền. Chợt ông nghe có tiếng ồn ào náo nhiệt bên ngoài liền cho người tìm hiểu. Đệ tử vào thưa sở dĩ có tiếng ồn ào như thế là do các môn sinh từ phương xa tới an trú, anh em lâu ngày gặp nhau tay bắt mặt mừng, vui không kể xiết. Đột nhiên Đức Phật giận dữ nói: “Bảo họ đi hết ngay đi, không được tá túc ở đây làm phiền não người khác”. Đệ tử ngạc nhiên vì lâu nay đâu thấy Thầy chưa từng bị động tâm một lần, sao hôm nay lại lấy làm giận dữ đến vậy. Nhưng vì thấy thái độ cương quyết của Thầy nên vội ra bảo các anh em hãy đi khỏi đi. Đi đâu đó tá túc tạm. Rồi sẽ tìm cách quay trở lại. Các vị môn sinh vội vã ra đi còn chưa hết ngỡ ngàng.

Mười ngày sau Đức Phật bảo đệ tử đi tìm hiểu các môn sinh phương xa ấy thế nào. Đệ tử đi tìm và về báo: “Dạ, đệ tử đi vào tịnh xá nơi các môn sinh đang ở, không nghe tiếng động nào nhưng gặp ai cũng mặt mũi hoan hỉ, học hành tinh tấn lắm”. Mười ngày sau Đức Phật lại nói đệ tử đi đến chỗ các môn sinh phương xa lần nữa xem họ thế nào. Đệ tử quay trở về nói: “Nơi tịnh xá không một tiếng động, anh em có phần hoan hỉ hơn, tinh tấn hơn”. Mười ngày sau, Đức Phật nói đệ tử gọi các anh em quay trở lại. Lần này, tất cả mọi người đều đến nơi, lặng lẽ ngồi quanh Đức Phật, vậy mà không nghe một tiếng động, một tiếng thở mạnh cũng không.

Thầy trò ngồi với nhau suốt buổi đến trưa, vẫn thấy Thầy không nói tiếng nào. Đệ tử rụt rè cất tiếng: “Thưa Thầy, Thầy nói gì đi ạ!”. Đức Phật vẫn yên lặng đến tối. Đệ tử lại hỏi một lần nữa: “Thưa Thầy, Thầy có gì nói với chúng con không?”. Đức Phật không trả lời một tiếng nào. Tất cả cứ ngồi yên lặng đến mờ sáng hôm sau. Lúc này đệ tử không còn kiên nhẫn, tha thiết hỏi Thầy: “Thầy ơi, Thầy nói gì với chúng con đi!”. Đức Phật mở mắt, nhìn tất cả mọi người: “Thầy trò ta đã bên nhau suốt mười mấy tiếng đồng hồ rồi, các con còn muốn ta nói thêm điều gì nữa”. Sau đó ai về nơi ấy nghỉ.

Thầy kết câu truyện: Chúng ta vốn hay thích nói nhiều. Đâu cần phải nói nhiều vì thật ra đâu có gì để nói nhiều. (Có khi chỉ cần ngồi bên nhau là hiểu được hết các điều muốn nói- NV).

* * *

Câu chuyện thứ ba: Đưa trò qua sông

Vị sư tổ thứ năm Thiền Tông Hoằng Nhẫn ngày đêm mong ngóng học trò hiền để trao y bát. Trong số môn đệ của ông, có Thần Tú vốn được các trò khác rất nể trọng vì sự học sâu, hiểu rộng. Nhưng với ngũ tổ, thì vẫn chưa đủ. Một lần ông gọi các môn sinh đến bảo mỗi người làm cho một bài kệ để ông xem. Các môn sinh khác đề cao Thần Tú, cho rằng không ai có thể hay hơn nên không làm. Chỉ riêng Thần Tú sau nhiều ngày trằn trọc, mới viết bài kệ cho thầy, treo ngay ở hành lang:

Thân như Bồ đề thọ/Tâm như minh kính đài/Thời thời thường phất thức/Vật sử nhạ trần ai.

Dịch là: Thân như cây Bồ đề/ Tâm như đài gương sáng/ Thường thường siêng lau quét/ Ðừng để dính bụi trần!Bài kệ để đã hai ngày, thầy đã xem mà chẳng nói gì. Tình cờ có một người chuyên làm việc sau bếp, lau dọn vệ sinh, đi ngang hàng lang, thấy chữ, hỏi một người đang đứng đọc cái bài đó viết gì. Người đó đọc lại. Nghe xong, vị này la lên: “trời ơi, ông này viết sai hết cả!”. Người môn sinh kia nhìn vị này khinh bỉ: “Ông đã không biết chữ thì biết gì mà nói người ta sai?”. Vị này quay sang nói: “Tôi tuy không biết chữ, nhưng cũng hiểu vài phần. Nay phiền ông viết hộ tôi một bài kệ bên cạnh bài này, thì mới biết rõ vì sao tôi nói vậy”. Người môn sinh kia lúc đầu có vẻ khó chịu, nhưng sau bị thuyết phục nên cũng đồng ý. Thế rồi, người làm bếp mới đọc để ghi như sau:


Bồ đề bổn vô thọ/Minh kính diệc phi đài/Bổn lai vô nhất vật/Hà xứ nhạ trần ai.

Dịch là: Bồ đề vốn không phải cây/Gương sáng cũng chẳng phải đài/Xưa nay không có vật /Chỗ nào dính trần ai!Hôm sau, ngũ tổ đi ngang, đọc bài kệ, nhận ra ngay đây mới là người chứng ngộ mà ông sẽ trao truyền y bát. Ông hỏi và biết được người làm bếp phía sau. Mấy hôm sau ông vờ xuống bếp, tiện tay vỗ vào cái thùng ba tiếng. Canh ba hôm đó, người nấu bếp, chính là Huệ Năng đến phòng ngũ tổ. Thầy nhìn trò mắt ngân ngấn nước. Ông đã thấy được vị kế tục nên không thể không lấy làm xúc động. Sau khi hàn huyên ông nói: “Bây giờ ta sẽ trao y bát cho trò. Nhưng để không gây ra đổ máu vì sự ganh ghét thói thường, con hãy nhận nó rồi ra đi ngay trong đêm nay. Hãy đi về phương Nam để sau này con tiếp tục sự nghiệp hoằng pháp”.


Tiễn đưa Huệ Năng ra đến cổng, rồi lại đưa thêm một đoạn ra tận bến sông. Nhưng giờ đó cũng chẳng có ai chèo đò. Ông bèn tự tay chèo. Thầy trò đưa nhau thật quyến luyến, thâm tình.

Từ vài lời của Thầy tôi mà tôi suy ra thế này: Cái tình thầy trò thật khó có thể tả, nó cũng quyến luyến, sâu nặng như tình yêu mà còn hơn cả tình yêu. Nó là tình yêu cao cả- sublime love. Người thầy thương yêu trò như yêu chính mình. Vì khi mất đi, ông dành tất cả những gì mình đã đeo đuổi cả cuộc đời để trao lại cho trò với niềm tin, lẽ sống và cả niềm tự hào vì đã có người học trò có thể tiếp tục sự nghiệp của ông. Chính vì lẽ đó mà Khổng Tử, Thích Ca hay các vị sư tổ thiền về sau, việc tìm được người học trò cũng chính là hạnh phúc của người Thầy.

Tôi không dám nghĩ ai có thể đem lại hạnh phúc cho Thầy tôi lúc này. Chỉ mong Thầy tôi được ở bên cạnh chúng tôi mãi mãi, để chúng tôi còn được chia sẻ với thầy những nổi đau không kham nổi mỗi ngày vẫn diễn ra hành hạ từng cơn. Dù những nỗi đau ấy làm tóc thầy thêm bạc, tuổi thầy thêm nặng, nhưng với thời thế này, tôi chắc Thầy cũng vẫn mãi mong cầu được tìm thấy hạnh phúc.


Trần Ngân Hà

Thầy tôi

Written By kuxh on 28/07/2010 | 13:11



Mỗi người thầy đọng lại trong tôi dấu ấn rõ nhất và nhiều hơn cả kiến thức chính là những lời khuyên hay đức độ của người thầy thể hiện ở ánh mắt, cử chỉ ân cần và nghiêm khắc.

Thầy tiểu học dạy: “Tích mặc như kim”

Tôi có một người thầy tiểu học rất lạ, đó là một thầy phụ đạo và cũng là anh em thúc bá (con bác ruột) nhưng thầy đã già rồi, khi tôi mới 10, 12 tuổi. Thầy là một cụ đồ, cổ học, giáo sư Bùi Mộng Vũ. Hè về, khi rảnh là ông sang nhà dạy chữ Hán cho tôi. Và đó cũng là một may mắn đặc biệt vì tôi được hưởng một không khí giáo dục cổ học cuối mùa. Việc đầu tiên tôi được học là… không học gì cả mà chỉ đi theo phục vụ cho thầy, còn gọi là “sự sư”. Tức là phải thực sự gắn bó với thầy. Qua phong cách mình phục vụ, thầy chỉnh đốn cho mình cách ăn, ở, làm việc, những bài học lễ phép đầu đời… Những ngày “sự sư” ấy có thể kéo dài tuỳ theo mình tiến bộ như thế nào. Sau mới đến học chữ. Hồi đó, nhà không quá nghèo đến nỗi không có giấy nhưng ông vẫn bắt tôi ra sau nhà tự rọc lá chuối phơi để viết chữ Hán, đầu tiên là chữ hàng ba, sau đến hàng năm, hàng bảy và đến hàng chín là “giỏi” lắm rồi! Lớn lên, ngẫm nghĩ kỹ thì hoá ra thầy muốn mình học cách tiết kiệm giấy mực. Ông dạy mấy chữ mà tôi nhớ mãi: “Tích mặc như kim” – “Tiếc mực như vàng”.

Khi giảng về Luận ngữ, nhiều đoạn ông giảng rất trôi chảy, nhưng có đoạn ông cũng ngập ngừng và bỏ qua những chỗ khó. Hồi nhỏ tôi hay rắn mắt nên truy tới cùng. Ví dụ Khổng Tử gặp bà Nam Tử ở đâu, bà Nam Tử là ai?..., ông bối rối không trả lời được và cuối cùng ông thú nhận: “Thầy tôi dạy sao thì tôi dạy lại vậy chứ tôi không có sách vở đâu mà tra cứu để nói cho chú biết có đầu có đuôi”. Sau này tôi hiểu và cảm thông cho ông và những nhà Nho cùng thời, tuy nhiều kiến văn, thông minh, nhưng biết gì cũng không biết chính xác vì không có tư liệu, không biết rõ căn cội. Khi được đọc cuốn Khổng học đăng của cụ Phan Bội Châu giảng giải cặn kẽ về Tứ thư là do không chỉ cụ Phan học rất giỏi mà cụ còn hơn hẳn các nhà Nho bình thường ở chỗ biết tra cứu, tìm tòi tư liệu.

Lối học xưa thấm đậm tình thầy trò, trong khung cảnh đất nước nghèo nàn, thiếu thốn. Lối học ấy thật thơ mộng nhưng rõ ràng không hiệu quả lắm.

Vào đại học được dạy lòng yêu nước

Vào đại học tôi có hai ấn tượng đáng nhớ. Ở khoa triết trường đại học Văn khoa Sài Gòn có khá nhiều vị linh mục giảng dạy, Tây có, ta có. Thấy những chiếc áo chùng đen nghiêm trang, tôi băn khoăn: “Nơi này dạy triết học hay tôn giáo?” Nhưng khi học, tôi thấy rõ các linh mục dường như đã trút bỏ áo chùng đen và hoàn toàn trở thành một ông thầy dạy triết học và đôi chỗ còn phê phán cả tôn giáo trên cơ sở của các triết thuyết. Tôi nhận ra rằng, tinh thần đại học chính là cần phải có thái độ cởi mở và khách quan. Người ta tôn trọng và đối thoại thẳng thắn chứ không đem vào bài giảng những xác tín riêng, tín ngưỡng riêng. Đó cũng là một quy định cố hữu của đại học.

Một vị giáo sư là người dạy cho tôi lòng yêu nước chính là thầy Nguyễn Văn Kiết, dạy triết học cổ điển Đức. Đó là một người thầy rất khó tính và cực kỳ nghiêm khắc, sinh viên sợ ông như sợ cọp. Một hôm thầy đang dạy thì có một nhóm sinh viên xin phép vào tổ chức bầu cử đại diện lớp để đưa vào danh sách ban chấp hành của trường. Chúng tôi ngạc nhiên khi thấy thái độ hết sức trân trọng của thầy vì nghĩ ông sẽ đuổi ra vì đang giờ dạy. Đến khi bầu xong thì ông lại chúc mừng kết quả rất trang trọng. Sau đó ông giảng về Fichte, một triết gia người Đức nổi tiếng với “những bài diễn văn dành cho dân tộc Đức” sục sôi tinh thần yêu nước trước hoạ xâm lược của Napoléon. Đang giảng về những bài diễn văn ấy, bỗng ông quay xuống hỏi sinh viên: “Ngày hôm nay, ai sẽ là người đọc diễn văn cho dân tộc Việt?” Tất cả chúng tôi đều kinh ngạc khi nghe thầy hỏi, vì chưa bao giờ nghĩ rằng thầy dính dáng đến thế sự. Câu hỏi đầy tính chính trị của thầy đánh động tất cả chúng tôi. Mấy tháng sau, thầy vào chiến khu, làm phó chủ tịch liên minh Các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình Việt Nam . Sự ra đi của thầy là bất ngờ lớn đối với sinh viên thành phố, và, với riêng tôi, để lại một dấu ấn không thể phai mờ.

Ấm áp tình thầy trò trời Âu

Sang Đức mấy năm trời mà tôi thấy mình vẫn chẳng hiểu gì mấy những gì được học, có lẽ vì nó cao xa và rối rắm quá chăng. Một lần, bí quá, tôi phải lên gặp tiến sĩ F. Schmidt, một giáo sư phụ giảng và chuyên hướng dẫn cho những sinh viên mới. Tôi bày tỏ băn khoăn của mình: “Khi còn học ở Sài Gòn, em mê Heidegger lắm nhưng sang đây lại thấy không khí khác hẳn, người ta đang bàn nhiều về xã hội, về Macxit trong cao trào chống chiến tranh Việt Nam . Phải bắt đầu từ đâu?” Nghe xong, ông cười và bảo: “Anh bạn ạ, cao trào của triết học hiện nay là trường phái Frankfurt . Nhưng nếu lấy ngay sách các ông ấy đọc thì chẳng hiểu gì cả. Việc đầu tiên anh bạn nên làm là phải biết gốc tích của một trường phái, một trào lưu từ đâu mà ra, từ đó mới phăng ra được. Chứ cứ đọc sách lung tung, bạ đâu đọc đó, chìm đắm trong mớ hỗn độn ấy thì sẽ không biết đường đâu mà mò”. Nhờ sự hướng dẫn kịp thời mà tôi nhận ra, trong các ngành khoa học xã hội, nhân văn, phải chịu khó nghiên cứu nguồn cội trước, từ đó mới dễ đi vào và tiếp thu những cái về sau.

Có một chuyện mà tôi không bao giờ quên về người thầy sau cùng của tôi. Ông là một trong số ít triết gia uy tín hàng đầu thế giới. Hồi đấy, nghe đến tên ông là sinh viên đều kính nể, và tôi không nghĩ có lúc dám bén mảng đến tìm ông. Vì thế khi muốn được ông nhận hướng dẫn mình, tôi đã rất… sợ khi nghĩ đến việc lên gặp ông tại phòng riêng. Tôi hồi hộp và trong đầu lộn xộn với bao thứ để có thể trả lời ông từ những câu hỏi khó nhất. Vậy mà câu đầu tiên, ông hỏi tôi: “Anh sống thế nào? Ngành triết nghèo lắm, rất khó có trợ cấp hay chỗ làm để có lương. Việc đầu tiên là tôi phải giúp anh ổn định chuyện cơm áo rồi tiếp theo mới làm gì thì làm”. Câu hỏi của thầy khiến tôi trở thành một cậu trò nhỏ khờ khạo, đáng thương trước một người thầy, người cha đang thật sự lo lắng cho con mình. Từ đó, tôi nhận ra, không phân biệt Đông, Tây gì, những người thầy đúng nghĩa là thầy đều chỉ cho học trò cách học, mong cho học trò tiến xa hơn mình, rất thương và quan tâm đến cái thiết thực trong cuộc sống của người trò, kể cả đời sống cá nhân, tình cảm.

Những kỷ niệm đáng nhớ trong đời học tập của mình, cho tôi hiểu thực sự: Thầy là bệ phóng, là nền móng của giáo dục. Heidegger có câu nổi tiếng được Bùi Giáng dịch rất hay: Không tự mình bước tới bờ hương chín thì cõi mật không tụ về trong trái. Vâng, nhưng, không quên kẻ trồng cây và chăm bón nó để “cõi mật” có thể tụ về…
Bùi Văn Nam Sơn
Nguồn: Sài Gòn Tiếp thị
 
Support : Creating Website | Johny Template | Mas Template
Copyright © 2011. Bảo tàng Ký ức Xã hội - All Rights Reserved
Template Created by Nhật Nguyên Published by Nhật Nguyên
Proudly powered by Nguyễn Đức Lộc