Tin mới :

Latest Post

Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Từ Chi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Từ Chi. Hiển thị tất cả bài đăng

Về một bức tranh đã mất (kỳ cuối)

Written By kuxh on 30/09/2011 | 05:00

Ba không gian khác nhau, ba hệ thống phối cảnh khác nhau, trong cùng một bức tranh. Đấy là vị thơ, là cái lung linh phức hợp, là chất hư hư thực thực của tranh anh Trí ngày ấy. Có lẽ đấy còn là cái “tửng tửng”, cái ỡm ờ không lộ liễu của con người quê tôi. Buổi đầu, hư nhiều hơn thực, có khi choán hết thực hay gần như thế. Đó, tôi còn nhớ, là trường hợp các tranh Thuyền âm, Hoa bạc mệnh… Càng về sau, thực càng lớn lên, chung sống với hư, đùa giỡn với hư, như trong cảnh Bờ Hồ thời Nhật thuộc, như trên một bức tranh khác  mà tôi cũng rất thích: Vọng phu. Phải chăng chính vì thế mà đương thời có những bè bạn thực lòng muốn gán cho anh Trí “danh hiệu” họa sĩ “siêu thực”, thậm chí là người siêu thực đầu tiên trong làng họa Việt Nam?
(Ảnh minh họa- Nguồn Internet)
Tôi không dám cược hết lòng tin của mình vào lối phân cắt quá rạch  ròi thành những “trường phái” luôn luôn đối đầu nhau. Lối phân cách có lẽ được bê ra nguyên xi từ một số sách lịch sử mỹ thuật Tây phương trong đó, mỗi trường phái xuất hiện cơ hồ như một ô thuốc Bắc đóng kín, ngoài có dán nhãn chữ to. Nếu có thể dán cho anh Trí cái nhãn “siêu thực”, tôi tự hỏi thì cái gì là mẫu số chung giữa tranh của anh (hồi tôi mới quen) và tranh của Đali hay Đenvô chẳng hạn. Tôi chỉ biết tự hỏi. Vả chăng cho đến nay, sau hơn ba mươi năm, tôi vẫn không thể nói cho thực đích xác thế nào là “siêu thực”. Điều tôi biết rõ hơn, chắc hơn là dưới mắt anh Trí ngày ấy, cái hư huyễn trong một khoảng không gian tách riêng của Hồ Gươm không thể gạt bỏ, không thể gạt bỏ sự thực phủ phàng của cuộc sống ven Bờ Hồ: một sĩ quan Nhật đi giữa mọi người, mà như đi giữa chỗ không người.
“Thông điệp” ấy của bức tranh, một người trong cuộc đã bắt được ngay, giải ngay được mã, với tất cả cảm quan tinh nhạy của con người tự biết mình đang “lâm tình huống”: ngày bức tranh được lần đầu trưng bày ở Huế, một sĩ quan Nhật có mặt trong phòng triễn lãm đã sừng sộ đòi tác giả phải cất ngay tác phẩm đi. Đến thăm anh Trí trong gác vẽ không còn trống và vắng như xưa, tôi vui miệng nhắc lại cái “sự cố” nhỏ nhỏ đã xảy ra cách đây ba mươi năm. Anh không nói gì, chỉ mỉm cười độ lượng… Độ lượng với tôi chăng, một người cả nhớ chuyện cũ? Hay là độ lượng với tuổi trẻ của chính anh, với cái thời đã xa lắc xa lơ, cái thời anh còn nuôi tham vọng chứa nhiều không gian khác nhau vào khung hẹp của một bức tranh? Dù sao ngày nay anh Trí vẽ khác xưa nhiều. Tôi nhìn lên tường: một bức lụa lớn: một ông sư với đầy đủ y bát, nét mặt khắc khổ. Một bức lụa bé: lăng Tự Đức dưới trăng suông, một bức sơn dầu: hai vũ nữ Chiêm Thành. Vẫn còn nhận ra được ít nhiều cái gì là một phần anh Trí của chúng tôi ngày ấy: cái tinh tế trong quan sát, cái cẩn trọng trong từng nét bút, từng mảng màu, cả từng chi tiết lịch sử nữa. Nhưng còn cái “tưng tửng” trong mắt nhìn và ý nghĩ, trước con người và sự vật ? Còn  cái cố tình thô vụng trên cả một thảm tinh tế, để chắp thêm một điều bất ngờ cho tác phẩm? Và còn sự chung sống giữa nhiều bút pháp nữa chứ, giữa nhiều cách nhìn, nhiều quan điểm hình học trên một cùng một bức tranh, nhằm mở rộng bức tranh hay nhân số không gian trong tranh lên? Chung sống? Có lẻ phải nói là dằng xé mới đúng. Chung sống mà vẫn âm ỉ dằng xé. Cái dằng xé kín đáo tuy da diết ấy nay không còn nữa, để lại cho tôi một vũng rỗng mà tinh tế và cẩn trọng không bù lấp được. Đến cả cái hư, cái hư không lừa thực,  vốn là niềm đắc ý của anh Trí sau bao năm chép tranh thờ-mà anh từng sử dụng như một cây néo, để néo cho căng thêm giữa cái ngược đời của một tình thế, cái lố lăng của một cảnh ngộ, với chất hóm của con người quê tôi-cũng chỉ còn phảng phất như chút hương xưa trên bức tranh lụa bé (lăng Tự Đức dưới trăng suông), vừa đủ để nhấn thêm một tí, một tí thôi, cái không khí mờ ảo không thể thiếu của mọi cảnh trăng suông.
Nguồn: Sách Nguyễn Từ Chi- Góp phần nghiên cứu văn hóa và  tộc người.

Về một bức tranh đã mất (kỳ 1)

Written By kuxh on 29/09/2011 | 05:00


Ngày ấy… ngày ấy anh Trí còn tóc xanh. Xanh đen. Anh gầy hơn bây giờ nhiều, mái tóc dày và cổ lộ hầu càng nhấn mạnh hai cánh tay dài ngoằng. Nhưng dưới mắt tôi lúc bấy giờ, dưới mắt cậu học sinh thành tín là tôi ngày ấy, anh là hiện thân của nghệ thuật, là cánh cửa mở ra một vườn trái sực nức hương xa, mà tôi ngập ngừng chưa dám bước vào. Mỗi lần anh khuỵu chân để hạ khổ người lênh khênh xuống cho vừa tầm một bức tranh đặt cách xa ba thước, nghiêng đầu về bên trái, bên phải, rồi vừa nheo mắt vừa dịch dần cho đến khi đôi kính cận thị dày cộm áp thật sát mặt tranh-đó là cách xem tranh của anh ngày ấy-thì tất cả chúng tôi, những người học trò tập hợp vào sang chủ nhật trong xưởng vẽ của anh đặt trên gác cửa hiệu bách hóa ỡ Ngã Giữa, đều nín lặng chờ đợi kiên nhẫn. Như chờ người mở cổng. Như chờ cánh tay sẽ quàng tay chúng tôi dắt vào vườn trái.
(Ảnh: minh họa- Nguồn: Internet)
Anh không phụ những phút chờ đợi của chúng tôi. Thành phố quê tôi ngày ấy chỉ có ba họa sĩ. Một là thầy giáo dạy vẽ tại trường tôi học, mà chúng tôi quen xem là một thầy giáo giữa bao nhiêu thầy, cô trong trường. Người thứ hai từ xa đến, tạm dừng ở Huế một hai năm, để rồi lại ra đi. Cho chúng tôi, với chúng tôi chỉ còn anh Trí nữa thôi. Ra trường rồi, anh làm có mỗi một việc: vẽ, vẽ trong cái thế giới riêng của anh, trên căn gác bấy giờ còn trần truồng và vắng lặng ở Ngã Giữa. Anh đã dành hàng bao nhiêu buổi, kéo dài hàng tháng, tính lẻ tẻ e đến hàng năm, để chép tranh thờ. Anh không muốn vẽ như nhà trường đã dạy anh. Anh muốn nhìn chuyện đời và sự vật bằng con mắt riêng của anh.
Với tranh thờ, anh cố quay về nguồn gốc để tìm cho ra con mắt ấy. Kết quả đầu tiên, hồi tôi mới quen anh, là một số tranh khổ vừa và khổ bé, với những hình ngồ ngộ, “tưng tửng”, có khi ra sức cô đọng bằng nét bút tỉnh giản gần như của trẻ con, khi lại cố tình màu mè một tí, đôi tí bằng một bút pháp rắc rối hơn, mang hồi âm của tranh thờ. Và nhào tất cả lại là những hòa sắc biến đổi từ tranh này qua tranh kia, nhưng ít nhiều đều được chắt lọc từ lối ghép màu có phần quái đản của một số tranh Mẫu. Đặc biệt, anh hay dùng một sắc độ lục, mà có người vẽ đương thời gọi là “lục tàu”. Trong nhiều trường hợp anh gắn cho sắc độ ấy một chiều thăm thẳm.
Tranh thời ấy, anh Trí chỉ còn giữ có mấy bức. Hầu hết bị mất mát trong khói lửa những ngày đầu kháng chiến chống  Pháp. Nhưng trí nhớ bằng mắt của tôi còn giữ được gần nguyên cho đến  tận nay một trong những bức tranh tôi yêu nhất của anh ngày đó. Toàn bộ Bờ Hồ thu lại trong một khuôn hẹp. Hồ Gươm chỉ còn lại một khoảng nhỏ tím sâu, với một vài vệt son vừa đủ để  gợi lên cầu Thê Húc. Nhưng hồ và cầu chỉ mới là cái khung, cái khung hư huyễn của một không gian xa lắc. Đánh dấu cái hư huyễn ấy, còn có một gốc liễu rũ rất cách điệu, rất giản lược và một bong si lục, dưới đó lủng lẳng những ngựa giấy và đồ mã quá khổ. Nhưng bao quanh cái không gian đã hướng về cõi âm ấy, là không gian thực hơn của cuộc sống bình dị, cuộc sống hằng ngày quanh Bờ Hồ…Là một chiếc ô tô, là một đôi vợ chồng, là một chú bé. Chỉ chừng đó thôi, cho không gian thoáng hẳn lên, để đối lập với cái đặc, cái đầy và sâu của khoảnh nhỏ không gian Hồ Gươm. Góp phần vào độ thoáng ấy, không chỉ có độ thưa của hình họa mà còn có hòa sắc cố tình phơn phớt, và nhất là còn có bút pháp vẽ hình nữa. Xe và người được thể hiện tròn tròn, tuy hơi bẹt với đường viền đen cẩn thận bọc lấy từng mảng màu nhạt, như lối vẽ của trẻ con khéo tay. Gò gẫm mà vẫn thoải mái, như đồ chơi bình dân bằng sắt tây ở Hàng Thiết thời ấy.
Nhưng “cái đinh” của bức tranh, cái neo mắt người xem ngay từ tích tắc đầu tiên, chính là nhân vật được đặt giữa trung tâm tranh, ngay giữa lòng tranh một sĩ quan Nhật khệnh khạng lê kiếm giữa đường, trong khi ô tô và những nhân vật khác ngoan ngoãn đi sát vỉa hè, trên vỉa hè. Cũng là nét bút của trẻ con, nhưng không “tròn trịa” nữa mà gãy góc, thô vụng, cố tình thô vụng, có mấy nét thôi mà cũng không bắt vào nhau thực khớp, phần  nào cũng có “tung tóe” ra, như nhỡ tay, nhỡ bút… Người Nhật ấy không dính dáng gì đến khoảnh nhỏ không gian hư huyễn của Hồ Gươm. Đã  đành! Nhưng điều làm tôi thú hơn, thú mãi là y cũng không khớp nổi vào không gian xung quanh y, không gian tưởng như có y trong đó, không ăn nhập gì với chiếc xe và những người đi bộ khác. Mà không chỉ riêng bởi phong cách hình họa. Còn một lý do khác nữa, lý do không gian. Tuy đứng giữa lòng tranh, không nhích quá xa các nhân vật khác, viên quan võ Nhật vẫn chiếm lĩnh một không gian biệt lập, vì người vẽ đã đặt y lên một không gian riêng dành cho y, không liên quan gì đến mặt phẳng của những hình  khác, quá lắm thì chỉ cắt các mặt ấy ở những giao tuyến bị bắn xa đến vô cực, ra bên ngoài khung tranh.
(còn tiếp)
Nguồn: Sách Nguyễn Từ Chi- Góp phần nghiên cứu văn hóa và  tộc người.

Ngột ngạt và lâng lâng với lăng tẩm Huế (kỳ 1)

Written By kuxh on 26/09/2011 | 05:00

Về nghỉ phép ở Huế có hai mươi hôm, mà dành được thời giờ để đi thăm lăng, kể ra đã là chuyện hiếm. Về đến Huế chân ướt chân ráo mới có hai hôm, mà đã tranh thủ được dịp để đi thăm lăng, phải nói là hãn hữu. Cũng là tình cờ thôi: tình cờ gặp lại giữa Huế mấy anh ở Bảo tàng Mỹ thuật ngoài Hà Nội vào đây tổ chức triển lãm. Một tình cờ may mắn. Không chỉ may được đi nhờ xe. May nhiều hơn là được các anh chỉ cho xem và giảng cho nghe ngay tại chỗ. Nghe các anh tranh luận với nhau nữa, và đây mới là điều lí thú nhất. Nghe rồi nhìn, tôi ngỡ nhận ra được đôi tí hồn xưa của Huế.
 Lăng Khải Định 
(Ảnh: minh họa - Nguồn: Internet)
Tranh luận nhiều nhất và vì vậy phải dừng chân nhiều nhất, chính là trước khu lăng xấu nhất: lăng Khải Định. Ngày còn nhỏ, đã nhiều lần tôi nghe những người lớn tuổi khinh khỉnh buông nhẹ hai chữ “môvegu” (thị hiếu kém) mỗi khi nhắc tới cái lăng này. Đến một người thuộc thế hệ trước nữa, như bà ngoại tôi, một bà già không biết đọc, biết viết và tất nhiên không biết tiếng Tây để buông hai chữ “môvegu”- cũng phải nói: “Lăng Khải Định răng răng a, ngó kì kì”. ( Nói kiểu Huế. Phổ thông hơn: Lăng Khải Định trông thế nào ấy, trông hơi kì quặc).
Gần đây, một người đồng hương của tôi, nhân về thăm Huế sau ngày giải phóng, đã cố nhìn lại lăng cũ, bằng cặp  mắt mới, không thiên kiến và đọc lên được ở những trang trí vách tường bằng mảnh gốm gắn “một sáng tạo vĩ đại theo kiểu Pi-cát-xô”. Tôi không khỏi ngạc nhiên Pi-cát-xô đập vỡ hình ra, và lắp các mãnh rời lại thành một kết cấu mới, theo một hình học và một nhận thức riêng của ông. Điều đó có liên quan gì đến kĩ thuật gắn những mảnh gốm vỡ lên vách thành môtip trang trí, theo một lề thói thẫm mỹ không của riêng  Khải Định? Với Pi-cát-xô, một cách nhìn của một con người. Ở đây, một chất liệu và một kỹ thuật.
Riêng tôi, trở lại lăng Khải Định sau ba mươi năm, với cặp mắt mang nhiều tha thứ hơn, so với cặp mắt của thời trẻ đòi tuyệt đối, tôi vẫn không làm sao “nhập” được vào cái chất thừa mứa ở đây. Trên những bức tường sặc  sỡ, long lánh, đố tìm đâu ra một khoảng trống bằng bàn tay để cho con mắt nghỉ ngơi. Một anh tinh ý và tinh nghịch nữa-chỉ cho tôi thấy vài mảnh thủy tinh của chai rượu Tây đập vỡ, gắn giữa vô vàn  mảnh sứ nội phủ. Các khung trần tranh tối tranh sáng càng thêm tối vì những bức vẽ rồng  mây độc một màu đen. Cái thừa mứa quá lố ấy còn chuyển thành ngột ngạt trong những căn phòng hẹp nhất, thiếu ánh sáng nhất.
Nói “quá lố” có lẽ không quá đáng. Như nhiều lăng ở Huế, lăng này được xây dựng khi vua còn sống. Xây dựng theo ý thích nhà vua, đương nhiên. Trong trường hợp của riêng lăng Khải Định phải chăng không thể gán phần quá lố đánh dấu chất thừa mứa ở đây cho đặc tính chung của cả một thời kỳ trong lịch sử  mỹ thuật-mỹ thuật Nguyễn- mà chỉ nên quy nó vào cái lố riêng của một ông  vua? Người Huế, thời tôi còn ở đấy, thường nhắc đến cái tính nết lố lăng của ông vua thiếu học này, nhất là cái bệnh khoe của hết sức  rởm đời: đeo đầy vàng ngọc trên người, mỗi ngón tay ít nhất cũng một chiếc nhẫn tướng; mặc Nam phục nhưng lại chân ủng Tây; chế ra kiểu áo dài gấm có ngù vai, loại ngù vai rũ tua của nhà binh Tây thế kỉ trước…
Kể ra ở lăng Khải Định không thiếu gì những đặc điểm của mỹ thuật Nguyễn, trước hết là trong trang trí, mà các bạn đồng hành không nề hà chỉ cho tôi xem, giảng cho tôi hiểu. Nói đâu xa, kỹ thuật trang trí ngoại thất và nội thất bằng mảnh xứ nội phủ  gắn lên mặt vôi vữa đã trở thành phổ biến từ Gia Long kia. Có điều phải đến Khải Định thì hình thức trang trí ấy mới bị đẩy lên mức “bệnh hoạn” trên các vách tường lăng này. Vẫn theo lời các anh, rồng ở đây, chẳng hạn, vẫn là rồng Nguyễn. Vả chăng tôi tự nhủ, với tâm lí khoe của- và ít nhiều cả tâm lí học đòi “kiểu Tây”-thì Khải Định, thông qua những người thiết kế lăng cho ông, còn đâu đủ tâm lực, đủ trí tưởng tượng, để cải biến hình tượng con rồng, mà mẫu mực đã sẵn có trong kiến trúc của Đại Nội, của lăng tẩm các đời vua trước? Thị hiếu đặc biệt của một ông vua đâu có xóa nổi thành tựu  của một thời.
May thay, một thị hiếu quá đặc biệt, như của vua Khải Định, chỉ tìm thấy miếng đất thể hiện ở lăng ông ta thôi. Và chính vì đã dừng chân ở  đây khá lâu, cho nên thật là thú vị, thật là khoan khoái khi chúng tôi được nhập thân vào một không gian khác hẳn, không gian lâng lâng của các khu lăng Minh Mạng, Tự Đức, cả Đồng Khánh nữa.
(Còn tiếp)
Nguồn: Sách Nguyễn Từ Chi- Góp phần nghiên cứu văn hóa và  tộc người.
 
Support : Creating Website | Johny Template | Mas Template
Copyright © 2011. Bảo tàng Ký ức Xã hội - All Rights Reserved
Template Created by Nhật Nguyên Published by Nhật Nguyên
Proudly powered by Nguyễn Đức Lộc