Tin mới :

Latest Post

Hiển thị các bài đăng có nhãn Thời bao cấp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thời bao cấp. Hiển thị tất cả bài đăng

Ký ức xe đạp một thời gian khó

Written By Hồ Nguyên Đức on 07/03/2014 | 09:26

Mấy chục năm trước, chiếc xe đạp trị giá cả cây vàng, được cấp giấy chứng nhận sở hữu, có biển số và được giữ gìn như vật báu trong nhà.
16.jpg
Cũng như cầu Long Biên (Hà Nội) chứng kiến bao thăng trầm lịch sử, xe đạp là phương tiện gợi nhắc người Việt ký ức về những năm chiến tranh ác liệt và gắn với một thời bao cấp khó khăn. Xe đạp là phương tiện lưu thông chính trên đường phố thời bấy giờ.
b.jpg
Chiếc xe là tài sản mơ ước của nhiều gia đình. Xe các hãng nước ngoài như Peugeot, Aviac hay Mercie... giá bằng cả cây vàng. Vì thế, những chiếc xe đạp còn có giấy chứng nhận sở hữu, không khác gì đăng ký xe máy hay ôtô hiện nay.
Chiếc xe đạp được khóa cẩn thận trước cửa rạp chiếu phim. Trong nhà, xe đạp được để ở vị trí trang trọng, có gia đình còn đặt nó trên một cái giá đỡ bằng gỗ chứ nhất định không để bệt xuống đất, xe không có một hạt bụi. "Mua một chiếc xe đạp Phượng Hoàng có giá 220 đồng, xe Favorit có giá 1.000 đồng, bằng 2 năm tiền lương công chức", ông Trịnh Kim Thắng (60 tuổi) nhớ lại ký ức một thời khốn khó. Bản thân ông phải chờ 10 năm, nhờ danh hiệu cán bộ tiên tiến mới mua được một chiếc xe đạp Phượng Hoàng.
Chiếc xe Thống Nhất (Việt Nam sản xuất) được khóa cẩn thận trước cửa rạp chiếu phim. Trong nhà, xe đạp được để ở vị trí trang trọng, có gia đình còn đặt nó trên một cái giá đỡ bằng gỗ. Nhiều người phải dành dụm vài năm mới mua được một chiếc xe.
1_1394020978.jpg
Xe có số khung và được đăng ký, cấp biển số.
Những góc phố, ngã tư Hà Nội gắn liền với bao thăng trầm của thời gian. Đường Hoàng Diệu rộng thênh thang với những bóng cây cổ thụ tỏa mát, người dân thong dong đạp xe trên phố.
11.jpg
Khu vực ngã tư Tràng Tiền - Hàng Bài chưa có đèn xanh đèn đỏ. Lực lượng công an trực tiếp tham gia điều hành giao thông.
19.jpg
Hồ Gươm với Tháp Rùa, cầu Thê Húc, đền Ngọc Sơn soi bóng. Dù bận rộn lao động, người Hà Nội vẫn không thể quên thú vui dạo chơi quanh hồ Gươm bằng xe đạp mỗi khi rảnh rỗi.
17.jpg
Những lúc tắc đường, chen chúc, người dân phải vác xe Thống Nhất lên vai. Có câu chuyện truyền tai rằng nếu trời đổ mưa, đố ai tìm được một chiếc Peugeot ngoài đường vì người ta sợ xe bị rỉ sét và nhanh hỏng.
29.jpg
Những nữ sinh trong tà áo dài giờ tan trường. Nhiều người nhận xét con gái thời xưa đi xe đạp bao giờ cũng khép chân, đầu gối gần sát vào khung xe, đầu ngón chân đặt trên bàn đạp, không khuỳnh tay dạng chân, không phóng nhanh. Người ngồi sau không đặt tay vào đùi hoặc bụng người đằng trước vì cho là không đứng đắn.
10.jpg
'Một yêu anh có Sen-kô (đồng hồ đeo tay hiệu Seiko) / Hai yêu anh có Pơ - giô cá vàng (xe đạp Peugeot màu cá vàng) / Ba yêu anh có téc gang (quần vải téc) / Bốn yêu hộ tịch rõ ràng Thủ đô'. Xe đạp trở thành một trong những tiêu chí chọn chồng của các cô gái thời đó. Những thanh niên mới lớn coi xe đạp là thứ đồ hàng hiệu, việc được ngồi sau cũng là một niềm hãnh diện lớn.
22.jpg
Đám cưới thời bao cấp có mốt rước dâu bằng xe đạp.
8_1394017695.jpg
Tập đi xe đạp là ký ức tuổi thơ khó quên của nhiều người. Những đứa trẻ nhỏ thó, chân còn ngắn nên không ngồi hẳn lên yên được mà cứ nhấp nhổm theo những vòng quay của bánh xe. Thậm chí, các em còn phải vẹo hẳn lưng sang một bên để đạp xe nhưng vẫn hăng say tập. 

13.jpg
Những năm chiến tranh, Hà Nội, Hải Phòng và một số tỉnh miền Bắc phải chịu tổn thất nặng nề của bom đạn bắn phá. Người dân phải di tản về các vùng nông thôn, tài sản lớn nhất mà nhiều gia đình còn giữ là chiếc xe đạp.
25_1394026635.jpg
Chiếc xe đạp thồ được gọi là ngựa sắt chiến trường. Nhiều đội quân xe đạp thồ được thành lập, vượt mưa bom bão đạn đem gạo, muối, thuốc men... ra tiền tuyến, góp phần không nhỏ vào chiến thắng của dân tộc. Những tên tuổi được nhắc đến nhiều nhất như kiện tướng xe đạp thồ Cao Văn Tỵ chuyển 320 kg hàng mỗi chuyến, Ma Văn Thắng chở được 352 kg hàng.
27.jpg
Anh thương binh cùng đồng đội đi dạo phố. Trong chiến tranh, câu chuyện gắn với chiếc xe đạp được các cựu binh kể cho nhau nghe nhiều nhất là về liệt sĩ Lang Sỹ Thủy. Anh bị đạn súng máy của địch bắn gãy cánh tay phải, được đưa về hậu phương điều trị, sau đó mượn chiếc xe đạp Thống Nhất của chị gái đạp hơn 600 km từ Thanh Hóa vào Quảng Trị chiến đấu tiếp. Anh hy sinh chỉ 4 ngày trước khi Hiệp định Paris có hiệu lực. Chiếc xe đạp hiện nay còn được trưng bày tại Bảo tàng Quân sự Việt Nam.
28_1394019815.jpg
Những ánh mắt ngây thơ mở to sau giá ngồi theo mẹ đi làm, đi sơ tán trong chiến tranh. Tuổi thơ cứ thế lớn lên theo những vòng quay đều đều của bánh xe. Bức ảnh được nhiếp ảnh gia người Đức Thomas Bill Hardt ghi lại.
5_1394017969.jpg
Khi xe đạp là tài sản lớn thì bơm, vá xe đạp trở thành một nghề kiếm ra tiền.
6_1394018348.jpg
Những chiếc bơm tay hầu như không còn xuất hiện trên đường phố Hà Nội ngày nay.
26.jpg
Một cửa hàng sửa chữa xe đạp ở phố Hai Bà Trưng với tấm biển đơn giản và cách quảng cáo phổ biến là treo những chiếc lốp xe ngoài cửa.
3.jpg
Xe đạp trở thành phương tiện vận chuyển hàng hóa trên những con phố Hà Nội. Những chiếc sọt đầy hàng luôn được buộc chắc chắn phía sau và hai bên xe.
20_1394021116.jpg
Đạp xe dạo chơi gần khu vực lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.
9_1394018006.jpg
Nụ cười trong trẻo của một em bé Hà Nội xưa.
24_1394026172.jpg
Cả gia đình bốn người chở nhau trên xe đạp.
c_1394021248.jpg
Qua thời gian, con người phát minh nhiều phương tiện hiện đại hơn phục vụ cuộc sống. Xe đạp không còn giữ được vị trí độc tôn trên bản đồ giao thông nữa. Nhưng những kỷ niệm gợi nhắc về một thời gian khổ vẫn còn đọng lại trong ký ức nhiều thế hệ người Việt Nam.
Theo Vnexpress: Hoàng Phương
Ảnh tư liệu

Sống với Thời bao cấp

Written By kuxh on 01/08/2012 | 14:36

Ngỡ ngàng khi được gặp lại những chiếc bát sắt tráng men, một dải tem phiếu hay một cục đá khắc tên chủ nhân từng được dùng để xếp hàng cách nay 40 năm trong một không gian có một không hai ở Hà Nội.

 Đã 6 năm kể từ khi Bảo tàng dân tộc học gây tiếng vang với cuộc triển lãm có một không hai về Hà Nội thời bao cấp khiến cho hàng vạn người đã từng nếm trải những đắng cay của cái thời khó khăn ấy xúc động. Khi cuộc sống đã đủ đầy hơn, hoài niệm về một Hà Nội thời bao cấp lại càng hiện về rõ rệt, với những người từng sống qua giai đoạn đó.

Tình cờ trong một cuộc trò chuyện với họa sĩ Quách Đông Phương gần đây tôi biết được một người bạn của anh đang kỳ công tái hiện lại một không gian thời bao cấp của Hà Nội xưa. Ý tưởng thì đã có từ cách đây vài năm nhưng chỉ khi có được sự hỗ trợ nhiệt tình của những người bạn đều sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, nay đã đến ngưỡng tuổi 50 như Quách Đông Phương, Lê Thiết Cương... anh Minh mới hiện thực hóa được giấc mơ ấy. Biết anh có ý định dựng lại 1 không gian HN thời bao cấp nên nhiều người đã đến tặng lại anh những món đồ mà họ đã lưu giữ mấy chục năm nay.
Chiếc xe đạp Vĩnh cửu được treo trên tường
 "Đó là một thời để nhớ, một thời để quên. Có người muốn quên đi một quá khứ đau khổ. Có người muốn nhớ lại một thời khó khăn. Với tôi, thời bao cấp đã để lại những kỷ niệm sâu sắc. Tôi muốn có một nơi để những người từng trải qua thời ấy, trong đó có tôi, nhớ lại 1 thời khó khăn. Một nơi để thế hệ sau tìm hiểu xem cha mẹ chúng đã sống qua một thời thế nào", anh Minh nói. Căn nhà cổ nằm ở một con phố nhỏ khá lắt léo đón tiếp chúng tôi với một tấm biển nền màu xanh do họa sĩ Quách Đông Phương kẻ cùng chiếc xe đạp cũ treo ngược trên tường. Bước vào bên trong, một không gian Hà Nội thời bao cấp hiện lên rõ rệt qua các vật dụng trong nhà. Một chiếc xe đạp Vĩnh Cửu được anh Minh treo gần tấm biển kẻ dòng chữ: "Ở đây tai vách mạch rừng những điều bí mật xin đừng nói ra" vốn được người HN truyền tai nhau thời bao cấp được tái hiện lại qua nét vẽ của họa sĩ Quách Đông Phương.
Những khẩu hiệu thời bao cấp thế này khiến nhiều người trẻ bật cười

Những ô cửa được đục không phải lấy không khí hay ánh sáng bên ngoài mà là để đóng khung lắp kính bày biện đủ thứ đồ trong đó. Một hòn đá khắc tên nhà nghiên cứu Hán Nôm nổi tiếng Mai Xuân Hải từng được ông dùng để xếp hàng mua lương thực từ năm 1973-75 cũng xuất hiện trong không gian này, trong một ô kính với hình ảnh của những chiếc tem phiếu thời bao cấp. Anh Minh kể khi còn nhỏ, là con út trong nhà nên anh thường xuyên phải ra khu vực Nhà Thờ, sau đó là Tôn Đản xếp hàng từ sáng sớm để đổi tem phiếu lấy lương thực cho cả nhà.  Thời ấy mỗi dịp giỗ tết hay có việc cần ăn tươi thì mọi người phải cắt cử nhau xếp hàng từ tờ mờ sáng ở cửa hàng lương thực, đợi cửa mở là xô nhau vào mua, chẳng khác gì việc các bậc phụ huynh xếp hàng đêm hôm để chen chân vào nộp đơn xin cho con vào mẫu giáo hay trường Thực nghiệm ở Hà Nội vừa rồi. Người ta dùng gạch, đá, dùng nón, dùng rổ rá... bất cứ cái gì có thể được để xếp hàng lấy chỗ. Vất vả là thế nhưng có người đến lượt thì đã hết hàng. Vì thế ngày trước ai có người nhà hay người quen làm ở các cửa hàng lương thực, ăn uống là nhất. 
Hòn đá từng được nhà nghiên cứu dùng để xếp hàng khi còn sống.

Thời bao cấp không phải cứ có tiền là muốn mua gì cũng được, hàng hóa cũng chẳng tràn lan như bây giờ. Tiêu chuẩn cho mỗi công nhân đi làm chỉ được 4m vải/năm. Nếu được tiêu chuẩn 3 lạng thịt thì nhiều người đổi lấy sườn hay thịt thủ để được thành 6 lạng. Gạo chỉ được đong theo tiêu chuẩn nên cơm thường phải độn thêm mì và ăn cơm với bo bo, khoai, sắn là rất phổ biến. Thời ấy nhà nào có tiền mua gà về ăn phải đóng chặt cửa làm lông trong nhà, xong phải giấu mà đổ đi. Gà cũng không được dùng dao chặt mà phải dùng kéo cắt vì sợ hàng xóm nghe thấy tiếng lại bảo là tiểu tư sản.   Tiêu chuẩn cũng rất rõ ràng, mỗi gia đình một tháng chỉ được 3kg đậu, tem phiếu loại E thì được 1,2 kg thịt, loại C được 1,8-2kg... Thịt, cá, đường, mắm đều phải đổi bằng phiếu. Một phiếu thực phẩm loại B phát hành năm 1979 của Bộ Nội thương có “thịt lợn 5kg, thịt bò 1kg, gia cầm 1 con, đậu phụ 2kg, lòng lợn 2đ, cá tươi 3kg, trứng 20 quả”. Khi ấy những chiếc bát sứ đen xì, sứt mẻ, sần sùi và nặng trịch hay những chiếc bát sắt tráng men được dùng để đựng thức ăn. Vật dụng quen thuộc với các gia đình thời bao cấp này cũng xuất hiện trong không gian riêng của anh Minh nhưng đều được làm mới.
  

  Thời tem phiếu
Đến đây, người ta còn bắt gặp hình ảnh một chiếc cốc thủy tinh từng thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị Vinh, cựu nhân viên quầy bia Cổ Tân (điểm uống bia hơi nổi tiếng thời bao cấp ở khu vực Tràng Tiền) hay một chiếc ca tráng men từng được họa sĩ Lê Thiết Cương dùng để đựng bút vẽ. Những chiếc chụp đèn tráng men, một chiếc đài cổ, một cái quạt tai voi, một chiếc cân quen thuộc ở các cửa hàng lương thực vài chục năm trước hay một chiếc tivi National cửa lùa với cái vỏ to tướng, những chiếc chân máy khâu được dùng làm chân bàn... tất cả đều có ở đây. Anh Minh bảo quá trình sưu tập những món đồ thời bao cấp này không phải dễ bởi không phải ai cũng còn lưu giữ nó, trong khi anh lại sở hữu không nhiều. Chính vì vậy anh phải nhờ đến sự trợ giúp rất nhiều từ bạn bè, mà chủ yếu là từ Vinh Tân đảo, người sở hữu rất nhiều món đồ thời bao cấp và được biết đến nhiều với quán cafe xe cổ ở phố Hàng Bún. Trong khi Vinh tân đảo giúp anh Minh tập hợp những món đồ thời bao cấp thì họa sĩ Lê Thiết Cương lại tặng cho anh bộ ảnh chụp Hà Nội thời bao cấp của nhiếp ảnh gia người Thụy Điển Eva Lindskog.
  Chiếc ca tráng men của họa sĩ Lê Thiết Cương

Đến Việt Nam lần đầu vào năm 1975 và có nhiều năm sinh sống, học tập ở Hà Nội, Eva Lindskog đã ghi lại những hình ảnh đặc sắc về cuộc sống ở Thủ đô thời bao cấp với cảnh đeo bám quen thuộc trên những chiếc tàu điện, phương tiện công cộng rất quan trọng ở Hà Nội thập kỷ 1970 - 1980, cảnh hàng chục người tập trung ở ngoài một tòa nhà ở Hà Nội để nhận giấy tờ xuất cảnh, cảnh ăn cơm bụi trên hè đường Hà Nội đầu thập kỷ 1980...  Họa sĩ Lê Thiết Cương đã mua bản quyền những bức ảnh này với giá 500 USD (khoảng 10 triệu đồng) sau khi Eva Lindskog tổ chức triển lãm “Còn & mất” tại Gallery 39 Lý Quốc Sư của Anh hồi tháng 3/2011, và tặng lại cho anh Minh.  



Những bức ảnh chụp HN của Eva Lindskog được họa sĩ Lê Thiết Cương mua lại và tặng cho anh Minh để trưng bày trong không gian của mình.
Cùng ghé không gian đặc biệt này để nhìn lại những vật dụng quen thuộc của thời bao cấp 

Hạnh Phương
Ảnh: Nguyễn Hoàng (theo Vietnamnet.vn)

Khôi phục lại giá trị của “thời bao cấp” (kỳ cuối)

Written By kuxh on 03/07/2012 | 17:52

Ăn theo (To Be Dependent on Others)
Một ví dụ điển hình là những cá nhân nằm ở giữa hai nền kinh tế. Những người này được coi là những kẻ ăn theo, một từ có nghĩa xấu thường được dùng để chỉ những người sống dựa vào người khác. Trong thời kì bao cấp, số lượng nghề thuộc diện này tăng lên đáng kể. Có lẽ một trong những ví dụ dễ thấy nhất là những người sống bằng nghề mua bán thời gian. 
Cửa hàng mậu dịch (Ảnh: minh họa- Nguồn: Internet)
Vì cán bộ công nhân viên phải có mặt tại công sở hay nhà máy vào những giờ quy định, họ thường xuyên phải tìm cách khác để mua khẩu phần của mình ở cửa hàng mậu dịch. Trẻ nhỏ và người già thường xuyên được cử đi xếp hàng vì họ có thể rời nhà bất cứ lúc nào khi có tin hàng về. Càng đến sớm thì khả năng mua được khẩu phần của mình càng cao trước khi hết hàng. Vì hai lý do này mà có lẽ không có gì ngạc nhiên khi thấy những người xếp hàng đứng dài có khi tới nửa cây số trước khi cửa hàng mở cửa. Một phụ nữ nhớ lại lần đầu tiên bà nhìn thấy mọi người xếp hàng khi còn ít tuổi, bà đã tưởng rằng mọi người đang chơi “rồng rắn lên mây”. Cô bé đó đã lập tức thất vọng khi bà được giải thích rằng đó là mọi người đang xếp hàng để mua dầu ăn.
Thời gian trung bình xếp hàng là một buổi. Ai không có đủ thời gian thì có thể nhượng lại chỗ của mình với một lệ phí nho nhỏ cho người khác, sau đó người này dùng cục gạch, cái nón, cái rổ, hoặc hòn đá để đánh dấu chỗ của mình cho đến khi một ai khác trong gia đình hoặc người thân có thể đến mua thay khi đến lượt. Giá của dịch vụ này khá khiêm tốn, thường là khoảng từ năm đến mười xu, đủ cho một người ăn một bữa tại quầy mậu dịch cơm phở. Đây có lẽ là lí do tại sao các nhà chức trách không bỏ ra nhiều nỗ lực để ngăn chặn cách kiếm tiền này (1).
Ngược lại “con phe” lại kiếm tiềm bằng cách mua lại những tem phiếu không dùng đến và bán lại ở giá cao hơn (nhưng vẫn rẻ hơn giá chợ đen). Những tem phiếu không dùng đến này đến từ nhiều nguồn khác nhau. Tuy nhiên, những người mà tôi đã có cơ hội nói chuyện đều tin rằng những tem phiếu này là do các mậu dịch viên ngấm ngầm đưa cho. Đổi lại họ sẽ được chia một phần lợi nhuận. Người dân thường không thích các mậu dịch viên vì những cách cư xử thiếu lịch sự và vô lý của họ. Những từ được dùng để mô tả họ bao gồm “cáu gắt”, “độc tài”, và “mặt lạnh như tiền”. Lời giải thích này cần phải có bằng chứng thay vì tin suông (2). Một dấu hiệu của nhận xét này là không ai trong số những người tôi hỏi chuyện có thể nhớ lại việc một mậu dịch viên bị kỷ luật vì tuồn tem phiếu ra ngoài cho con phe hoặc chợ đen, trong khi công an thường xuyên có chiến dịch xử lý cả hai loại người này.


Mặc dù dịch vụ mua chỗ xếp hàng khá hiệu quả, nó không phải là không có những vấn đề. Chen hàng, cướp chỗ hay nói dối rằng một vật giữ chỗ chung chung như cục gạch là của mình thường xuyên gây ra xích mích. Chính vì lí do cuối này mà nhiều người đã tìm cách tự tạo hoặc dùng những vật trông khác thường để tránh bị người khác tự nhận vật đấy là của mình. Như ví dụ đã nêu ở trên, ông Mai Xuân Hải đã khắc tên lên hòn đá của mình cho dễ nhận dạng. Có người lại dùng một viên đá to có hình dạng và kích cỡ giống cái cốc Liên Xô (Hà Nội Mới 2004).
Những vật giữ chỗ như vậy phần nào giúp giảm đi những trường hợp nhầm chỗ vô ý, cũng như những trường hợp nhầm lẫn cố tình, nhưng không thể loại bỏ hết tình trạng này được. Chính vì thế mà một số cửa hàng mậu dịch phải có đội quân đứng ngoài để giữ trật tự. Sự có mặt của họ cũng làm cho các con phe thận trọng hơn. Nhưng ít ai có thể nhớ lại một trường hợp mà đội quân đứng ra giải quyết những tranh cãi về người đã vi phạm “mặt bằng chỗ đứng”, cho dù những cuộc tranh cãi này thường trở nên khá gay gắt, có khi biến thành những trận ẩu đả. Một vài người đã kể lại với tôi rằng có nhiều người do bực tức hoặc do sợ mậu dịch sắp hết hàng cho ngày hôm đó đã quẳng những viên đá, hòn gạch, nón, v.v… dùng để giữ chỗ của những người đến trước đi, gây nên một sự hỗn loạn. Có lẽ không có gì ngạc nhiên khi trong những trường hợp như vậy những đội quân đứng gác đơn giản chỉ rút vào trong cửa hàng và đóng cửa mậu dịch lại. Cách làm này rất hiệu quả vì sẽ không ai mua được gì cho đến khi mọi người tự lập lại trật tự.
Tất nhiên có nhiều người không để cho hoàn cảnh ép buộc. Họ nghĩ ra những cách khác nhau để tiết kiệm thời gian. Ví dụ, người ta có thể tập hợp tem phiếu lại với nhau, miễn là những tem phiếu này thuộc một “giai cấp” xã hội. Làm như vậy một người có thể đi mua hộ nhiều người khác, gọi là “cùng ăn chia” (3). Những người có sức khỏe và nhanh nhẹn thì đứng xếp hàng ở hai hàng cùng một lúc. Họ chạy đi chạy lại giữa hai hàng với hi vọng mua được lượng hàng nhiều gấp đôi mà chỉ mất nửa thời gian (4). Có người lại gian lận. Có một người giải thích với tôi là ông ta có một người quen có một dị tật nhỏ. Ông ta thường để râu, mặc một bộ quân phục cũ có gắn một huy hiệu thương binh thật. Vì nhà nước có chính sách ưu tiên thương binh nên ông ta chẳng phải xếp hàng, và vì thế ông ta mua được một vài ổ bánh mì nóng giòn để chia cho bạn bè (Trương Quang Thư 2007). Có người lại tận dụng tài lẻ của mình. Có một ông cụ già thường đến cửa hàng mậu dịch của khu phố nơi ông ta ở sau giờ nghỉ trưa, lúc mà mọi người đã khá mệt mỏi sau nhiều giờ xếp hàng. Lúc đó ông cụ bắt đầu xướng thơ lục bát với nội dung tùy theo những gì mà cửa hàng mậu dịch hôm đó có bán: gạo, đậu phụ, thịt, v.v… Nếu thơ hay thì những người trong hàng cho ông cụ đứng lên trước. Một người hàng xóm sau hai thập kỉ nhớ lại một bài thơ như sau:
Ước gì em trắng như gao (gạo)                   
Thì anh… mạn phép ôm vào lòng ngay
Mùi thơm hạt mẩy thế này
Làm sao tránh được cái tay thích…sờ
                    (Trần Thị Anh Tú, 2006).
Phương hướng mới trong công tác nghiên cứu
Cuối cùng thì chúng ta rút ra những gì từ những câu chuyện về những năm tháng xếp hàng này? Thay vì đưa ra một kết luận chắc chắn, tôi muốn đưa ra bốn lĩnh vực cần được chú ý nghiên cứu thêm. Ba lĩnh vực đầu có liên quan tới những chủ đề mà những kết quả nghiên cứu sẽ giúp chúng ta hiểu rõ thêm rất nhiều về chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh Việt Nam thời kỳ bao cấp, những thay đổi trong cuộc sống thường ngày từ khi thời bao cấp kết thúc cũng như có thể tiến hành những nghiên cứu so sánh. Tuy nhiên, đề tài cuối cùng đặt một câu hỏi lớn hơn về sự “phân chia lao động” trong nghiên cứu về quá khứ và những hậu quả của nó đến sự hiểu biết của chúng ta về những dạng thức, thực hành và niềm tin đã tạo nên nền văn hóa chủ đạo (dominant culture).
Trước hết, như nhiều người đã chia sẻ với tôi hoặc những mẩu chuyện mà họ đưa lên mạng, những hòn đá, viên gạch, cái chai, cái rổ, và những vật dụng hàng ngày khác mà người dân đã sử dụng để giữ chỗ khi xếp hàng không phải chỉ là những biểu tượng, mà là một phần của người chủ, giống như những “vật thể tiểu sử” do Hoskins mô tả. Có lẽ vì thế mà khi nhìn lại những vật này, nhiều người lớn tuổi đã cảm động. Có người giải thích: “Những viên gạch này là đại diện toàn quyền” của một người (Bí Bo 2006). Có người khác lại dùng từ “pháp nhân” để miêu tả những viên đá, hòn gạch này, với ý là những vật này có quyền đại diện hợp pháp cho chủ nhân của chúng (5). Mặc dù người khác có thể dùng những từ khác để mô tả những vật này, cả hai ví dụ đều cho thấy chúng ta còn biết rất ít về cái nhìn của người dân đối với các khái niệm như vai trò xã hội của con người (personhood), chủ thể và quyền lợi của cả hai trong thời bao cấp. Sự thiếu sót này lại càng rõ ràng khi chúng ta nhận thấy ngày càng có nhiều mối quan tâm đến cách những giá trị và thực hành liên quan đến chủ nghĩa tự do mới (neo-liberalism) đã được chấp nhận, thay đổi và loại bỏ trong xã hội Việt Nam đương đại. Tuy nhiên, nếu ta không có một sự hiểu biết rõ ràng về quá khứ, những nỗ lực hiện tại nhằm ghi chép sự xuất hiện của “chủ nghĩa tự do mới với những đặc tính Việt Nam” sẽ có nhiều khả năng bị sai lệch.
Điều thứ hai là mọi người xếp hàng để mua nhiều mặt hàng khác nhau, nhưng chủ yếu vẫn là lương thực, thực phẩm. Do bữa ăn chung có một vị trí rất quan trọng trong cuộc sống của người dân Việt Nam (đặc biệt đối với gia đình – cho đến ngày nay, hầu như không ai ăn một mình), chúng ta cần nghiên cứu kĩ càng hơn văn hóa ẩm thực của người dân trong thời bao cấp. Ví dụ, một đợt khảo sát với lớp người lớn tuổi cho biết thực đơn thường bao gồm gạo hẩm, gạo mốc đầy trấu, sạn, cơm độn bột mì, hạt bo bo, sắn, phở không người lái, v.v… (6) Nếu được nghiên cứu kĩ càng chúng ta sẽ hiểu sâu hơn những sự thay đổi về thói quen dinh dưỡng ở thành thị cũng như nông thôn trong ba thập kỉ qua và ý nghĩa của những thay đổi này không chỉ trong phạm vi kinh tế xã hội mà cả về mặt văn hóa (xin xem thêm: Reid 2002; Kankauskas 2006; Farquhar 2002).
Thứ ba, chúng ta cũng có thể đưa ra những nhận xét tương tự về hàng tiêu dùng thường ngày và sự thay đổi về thứ tự quan trọng của chúng. Một bài thơ sáng tác trong thời gian này đã liệt kê một loạt các tiêu chuẩn mà phụ nữ tìm ở người bạn đời tương lai:
Một yêu anh có may-ô                                   
Hai yêu anh có cá khô ăn dần                     
Ba yêu rửa mặt bằng khăn                
Bốn yêu anh có hai quần để thay…            
Một bài thơ tương tự đưa ra một danh sách chi tiết hơn:
Một yêu anh có Sen-ko                      
Hai yêu anh có Pơ-giô cá vàng       
Ba yêu nhà cửa đàng hoàng 
Bốn yêu hộ khẩu rõ ràng thủ đô      
Năm yêu không có bà bô                   
Sáu yêu Văn Điển ông bô sắp về     
Bảy yêu anh vững tay nghề  
Tám yêu sớm tối đi về có nhau         
Chín yêu gạo trắng phau phau                                                       
Mười yêu nhiều thịt ít rau hàng ngày.
Một lần nữa, nếu chú ý đến sự sản sinh những mong muốn của con người qua giao tác xã hội trong thời kì bao cấp, chúng ta sẽ tìm hiểu thêm được một loạt các hiện tượng của thời kì này, bao gồm việc buôn lậu hàng hóa qua biên giới xã hội chủ nghĩa, sự tái xuất hiện của việc tiêu thụ một cách phô trương ngày nay, động lực hiện nay của chủ nghĩa tiêu dùng và sự tôn thờ hàng hóa ở đô thị (xin xem thêm: Ngai 2003; Patico và Caldwell 2002).
Cuối cùng, tuy đáng chú ý trên nhiều mức độ, trưng bày ở Bảo tàng Dân tộc học cũng làm nổi bật sự cần thiết cho những nghiên cứu nhân học chi tiết và tinh tế với những cái quen thuộc về mặt văn hóa. Tôi muốn nói về văn hóa chủ đạo (dominant) ở Việt Nam (7). Người Kinh, chiếm khoảng 86% dân số Việt Nam, thường không được các nhà dân tộc học Việt Nam nghiên cứu vì họ thường tập trung vào nghiên cứu những nhóm dân tộc khác. Kết quả là, những nghiên cứu về “bản thân” thường được dành cho những chuyên ngành khác như lịch sử, xã hội học hay văn hóa dân gian và các đề tài nghiên cứu thường là làng người Kinh, hương ước, hội làng và những dạng thức có liên quan của một quá khứ “truyền thống” vẫn đang tồn tại (xin xem Phan Huy Lê 1993; Jamieson 1986) (8). Những đề tài nghiên cứu của ngành dân tộc học bắt nguồn từ đào tạo lý thuyết của các thế hệ học giả đi trước được đào tạo tại Liên Xô cũ và từ việc những nhà dân tộc học thường là làm việc chặt chẽ với nhà nước và với Ủy ban Dân tộc và Miền núi để giúp quản lý việc phát triển kinh tế xã hội và văn hóa cho những dân tộc vùng cao (Evans 1985; Pelley 1993: 143-181). Tôi không muốn đánh giá thấp tầm quan trọng về lý thuyết và thực tiễn của những nghiên cứu như vậy cả trong quá khứ và hiện tại vì chúng đã làm giàu thêm hiểu biết của chúng ta về những nhóm dân tộc này cũng như đóng góp tích cực của nó vào quá trình hoạch định chính sách. Tuy nhiên, sự phân công lao động về trí óc nói trên có nghĩa là những dạng thức, giá trị và thực hành văn hóa của người Kinh vẫn còn là hiển nhiên đối với thành viên của nhóm dân tộc này vì chúng tạo ra tiêu chuẩn bất thành văn mà dựa vào đó người ta xem những cái khác khác đến thế nào với tiêu chuẩn này.
Thiếu sót này trong việc nghiên cứu về người Kinh đưa đến việc người ta không đặt câu hỏi, chứ đừng nói là đưa ra lý thuyết, về đặc ân và quyền lợi của dân tộc Kinh, giống như người ta không đặt câu hỏi về đặc ân và quyền lợi của người da trắng ở Hoa Kì (9). Điều này được thể hiện qua việc những nghiên cứu của người Kinh về người Kinh thường chú trọng các vấn đề kinh tế xã hội, văn hóa dân gian, và các tôn giáo thịnh hành, chứ không tập trung vào cách phạm trù “Kinh” được tái tạo trong mối quan hệ với 53 dân tộc khác cũng như với người Hoa và người Việt Hải ngoại vốn là những phạm trù “khác” (10). Chúng ta cũng có thể nhận xét tương tự về những con người, sự kiện, khoảnh khắc, và quá trình quan trọng mà không thể dễ dàng đưa vào những phát biểu chính thống về quá khứ và mối quan hệ đến hiện tại như đã thảo luận trong bài này. Cho đến khi những vấn đề này được giải đáp, những hiểu biết của chúng ta về những gì thuộc về văn hóa của người Kinh, ngoài những mẫu dập khuôn của một làng Bắc bộ, vẫn chỉ rất sơ sài và được mô tả như bất biến qua thời gian, một điều có phần mỉa mai trong bối cảnh là ngành sử học đóng vai trò quan trọng ở Việt Nam.
Lời cảm ơn
Tôi rất biết ơn cô Hương Ly đã giúp tôi chuyển tải một cách trung thành những ý tưởng của tôi sang tiếng Việt. Tôi cũng xin cảm ơn rất nhiều người dân đã chia sẻ với tôi cuộc sống của họ trong thời bao cấp, và tôi chỉ kể lại được câu chuyện của vài người ở đây. Cuối cùng, tôi xin cảm ơn sự đóng góp của những người đã đóng góp ý kiến vào bản thảo trước của tôi: Hy Văn Lương, các đồng nghiệp ở Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, Nguyễn Văn Huy, Wendy Erd, Janet Hoskins, Erik Harms, Michael DiGregorio, Frank Proschan, Christina Schwenkel, Ann Marie Leshkowich và Melissa Pashigian. Tất cả thiếu sót đều là lỗi của riêng tôi.
 (1) Phở không người lái là phở không thịt, giá ba hào một bát. Một bát cơm gạo hôi với một ít rau muống bị đen vì nấu trong nồi gang cũng giá ba hào một suất. Để mua một trong hai thứ đó, người ta đều phải xếp hàng không những một lần mà hai lần: một lần để mua, lần kia để tìm chỗ ngồi (“sau khi lấy được cơm, phở rồi người ăn lại phải tự thu xếp lấy chỗ ăn”). Bùi Xuân Dũng (2006).
 (2) Nhiều người nhớ lại một cách cay đắng những khẩu hiệu treo trên tường: Vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi. Có người lại nhớ đến một khẩu hiệu khác với cảm giác tương tự: Hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân!
 (3) “Nghề ‘ăn theo’,” Tuổi Trẻ (22/8/2007).
 (4) Phỏng vấn (27/7/2006).                
 (5) Phỏng vấn (31/7/2006).
 (6) Để biết thêm chi tiết về những khó khăn trong việc sửa soạn một bữa ăn thời kì này, xem Đỗ Hoàng Chinh (2006).
 (7) Xin xem Hy Văn Lương (2006) là một tổng duyệt mới đây về những thiếu hụt về mặt kiến thức dân tộc học về Việt Nam.
 (8) Hiện tượng này không chỉ xảy ra ở Việt Nam. Những nhà nước xã hội chủ nghĩa khác thường chia những nghiên cứu về “bản thân” thành ba lĩnh vực: lịch sử, truyền thống, và văn hóa dân gian (Kaneff 2004).
 (9)Từ đầu những năm 1990, các nhà nghiên cứu bắt đầu tìm hiểu về những khía cạnh văn hóa, lịch sử và xã hội của những người được xác định là “da trắng” và sự kiến tạo “tính da trắng” như là một hệ ý thức về vị trí và đặc quyền xã hội. Hiện nay đây là một chủ đề liên ngành đang phát triển mạnh trong nghiên cứu học thuật (Hill 1997).
 (10) Một biểu hiện của việc này là những nghiên cứu về các dân tộc ở Việt Nam thường không được thực hiện theo hướng so sánh. Để biết thêm về những nghiên cứu về động lực và quá trình của sự hình thành bản sắc, xin xem Leach (1954) và Williams (1989).

Ken MacLean
Người dịch: Hương Ly
Nguồn: Hiện đại và động thái của truyền thống ở Việt Nam: Những cách tiếp cận Nhân học

Ký ức một thời tem phiếu

Written By kuxh on 14/12/2011 | 18:04

25 năm sau đổi mới, nhiều người dân vẫn không thể quên ký ức về thời kỳ dùng tem phiếu để mua bán các nhu yếu phẩm từ cân thịt, quả trứng, dầu hỏa, vải vóc cho tới đường sữa trẻ em...
Dưới đây là những hình ảnh về thời kỳ trước đổi mới được trưng bày tại triển lãm "Việt Nam 25 năm trên đường đổi mới 1986-2011 qua tài liệu lưu trữ", khai mạc sáng 8/12 tại Bảo tàng Hồ Chí Minh (Hà Nội).
Chuyến tàu điện ở Hà Nội luôn trong tình trạng chật kín khách.
Người dân xếp hàng mua lương thực, thực phẩm theo tem phiếu thời kỳ bao cấp trước năm 1985.
Cuốn sổ đăng ký mua lương thực năm 1988 của gia đình ông Phan Văn Sinh, xã Duyên Hà, Thanh Trì, Hà Nội.
Phiếu thực phẩm loại C năm 1973 của Bộ Nội thương phát hành được Xí nghiệp sửa chữa đồng hồ cấp cho bà Nguyễn Thị Bảy ở phố Hàng Khoai (Hà Nội).
Phiếu mua hàng ở mỗi địa phương lại khác nhau...
...và có nhiều loại.
Phiếu mua 2 kg thịt năm 1972.
Phiếu mua thịt lợn, thịt bò, cá, gia cầm, trứng...
Phiếu mua hàng năm 1989, tức 3 năm sau đổi mới.
Trong thời kỳ bao cấp, các mặt hàng từ chất đốt...
...cho tới cả vải vóc, phụ tùng xe đạp... đều dùng tem phiếu.
Và mỗi loại tem phiếu lại ghi rõ số lượng hàng hóa có thể được mua, như 0,2 - 0,5 - 1 mét vải.
Và vải của nam, nữ cũng được quy định trong tem phiếu.
Gia đình có trẻ em sẽ được phát phiếu mua sữa...
...và phiếu mua đường.
Còn phụ nữ nông thôn có phiếu bồi dưỡng dành cho người sinh con.

Sau khi đất nước thống nhất, suốt giai đoạn 1976-1986, người dân cả nước đã quen với việc hàng hóa không được mua bán trên thị trường mà chỉ được phân phối theo chế độ tem phiếu. Năm 1986, đất nước bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện và dần bỏ lại những ký ức về một thời tem phiếu.
Tiến Dũng
Nguồn: VnExpress
 
Support : Creating Website | Johny Template | Mas Template
Copyright © 2011. Bảo tàng Ký ức Xã hội - All Rights Reserved
Template Created by Nhật Nguyên Published by Nhật Nguyên
Proudly powered by Nguyễn Đức Lộc