Tin mới :

Latest Post

Hiển thị các bài đăng có nhãn Trà Vinh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trà Vinh. Hiển thị tất cả bài đăng

Việc hiếu nghĩa của người Khmer (kỳ cuối)

Written By kuxh on 25/09/2011 | 05:00

Báo hiếu trong lễ tắm cho ông bà.
Những nghi lễ thể hiện việc báo hiếu trong ngày Tết Chol Chnam Thmay của người Khmer ở Trà Vinh phần lớn là hướng về những người đã khuất để dâng thức cúng và cầu chúc cho vong hồn những người đã khuất sớm được siêu thoát, sớm được đầu thai. Nhưng trong nghi lễ tắm cho ông bà thì sự báo hiếu lại hướng về những người đã sống, những bậc cao niên trong cộng đồng. Các nghi lễ khác cũng chủ yếu là được tổ chức trong chùa, còn nghi lễ tắm cho ông bà thì được tổ chức tại gia đình các phật tử.
(Ảnh minh họa-Nguồn: Internet)
 Lễ tắm cho cha mẹ, ông bà của người Khmer trong ngày Tết Chol Chnam Thmay có ý nghĩa gắn liền với nghi lễ tắm tượng Phật. Những người Khmer quan niệm rằng: tắm có thể tạo lên sự thanh khiết, trong sạch cho cả thể xác và tâm hồn, tạo lên cho con người sự minh mẫn. Trong sự tích về Đức Phật trước khi đắc đạo, người đã ngâm mình dưới một dòng suối để gột rửa bụi trần, gột rửa đi những gì không trong sạch để hướng mình tới sự thanh khiết. Vì vậy, trong ngày tết người ta thường tắm cho Phật để luôn giữ cho Phật được sạch sẽ. Trong khi tắm Phật, họ lại quan niệm rằng nếu lấy nước từ trên mình của Đức Phật chảy xuống để rửa mặt thì sẽ gặp nhiều may mắn vì nước đó mang theo phước từ trên mình của Đức Phật. Từ ý nghĩa đó, người Khmer muốn tắm cho cha mẹ mình để cầu phước cho cha mẹ trong năm mới.
Nghi lễ tắm cho cha mẹ thường được thực hiện sau lễ tắm Phật, nguyên nhân là do người ta sẽ lấy nước từ trên người Đức Phật về pha cùng với nước tắm cho cha mẹ để tăng thêm phước cho cha mẹ. Tuy nhiên, việc này cũng không quy định thời gian cụ thể là khi nào, có thể thực hiện nghi lễ này trước hoặc sau lễ tắm Phật.
Nước dùng trong lễ tắm cho cha mẹ được nấu ấm, pha thêm cánh hoa, dầu thơm và mời các vị sư đọc kinh chúc phúc vào trong nước. Nếu có nước tắm Phật để pha vào thì càng tăng thêm phước cho người được tắm. Trước khi thực hiện tắm cho cha mẹ, gia đình phật tử phải chuẩn bị một vài chiếc ghế, tùy thuộc vào số lượng người già trong gia đình hay trong xóm. Sau khi ghế được xếp thành một hàng ngang, con cháu mời những người già trong gia đình và có thể là cả những người già trong cùng khu xóm tới ngồi vào những chiếc ghế đó. Sau đó, con cháu quỳ xuống trước mặt những người già xin phép: “Bữa nay chúng con xin phép cha mẹ và quý bà, quý ông cho chúng con được tắm cho cha mẹ và ông bà trước hết là để cầu phước cho ông bà và mừng tuổi cho ông bà”.
Khi được sự cho phép của những người cao tuổi, con cháu bắt đầu tắm cho ông bà. Thường thì đối với người cao tuổi, người Khmer thường nấu nước ấm, dùng để lau người, lau mặt hoặc rửa chân tay. Hành động tắm trong nghi lễ này mang nhiều ý nghĩa biểu tượng. Đó là biểu tượng cho sự gột rửa những u minh, tội lỗi, tham sân si để cha mẹ đạt đến được sự thanh thoát.
Sau khi đã tắm cho cha mẹ xong, các con cháu trong nhà cùng quỳ xuống trước mặt cha mẹ để nhận lỗi, họ sẽ nói ra những điều mà trong một năm qua họ có cố ý hay vô ý làm cho cha mẹ phiền lòng. Sau đó, họ sẽ nói những lời hứa hẹn trong năm tới và mong cha mẹ thứ lỗi. Những bậc cao niên cũng nói ra những điều gì đó mà mình làm chưa đúng đối với con cái và mong con cái bỏ qua.
Cuối cùng, con cháu cùng chúc cho cha mẹ mình luôn có sức khỏe và gặp nhiều may mắn. Những người cao niên cũng chúc cho con cháu của mình có một sức khỏe tốt và tuổi thọ giống như bản thân họ.
Nhóm tác giả

Việc hiếu nghĩa của người Khmer (kỳ 9)

Written By kuxh on 24/09/2011 | 05:00

Báo hiếu trong lễ Cầu Siêu.
Lễ cầu siêu là dịp để cho những người Khmer nhớ về cha mẹ, nhớ về những người thân đã khuất và  những người khi sống đã có ơn với họ. Đây là một nghi lễ có nguồn gốc từ Phật giáo do vậy nó cho thấy được sự ảnh hưởng rất lớn của Phật giáo trong đời sống của những người Khmer ở Trà Vinh.
(Ảnh minh họa-Nguồn: Internet)
Lễ cầu siêu là một nghi lễ có nguồn gốc từ một câu chuyện trong Phật giáo. Chuyện kể rằng: Khi Đức Phật được sinh ra được bảy ngày thì mẹ của Đức Phật qua đời. Đức Phật cảm thấy dù mẹ mình ở trên thiên đàng nhưng linh hồn vẫn chưa được siêu thoát do vẫn còn tham, sân, si, vẫn còn những vương vấn với trần gian, chưa thể thanh tịnh được. Ngài đã lên thiên đàng để thuyết pháp cho mẹ của mình để cho bà hiểu ra những lý lẽ của cuộc sống, từ đó có thể tự giải thoát cho chính bản thân mình. Những lời thuyết pháp của Đức Phật đó được ghi lại thành kinh Apithom và được người Khmer sử dụng để đọc trong buổi lễ thuyết pháp với hi vọng những người chết sẽ được trong sạch về tâm hồn, giải tỏa những tham, sân, si để sớm được siêu thoát.
Việc cầu siêu cho cha mẹ khi đã chết là một việc quan trọng để báo hiếu và được ghi lại trong năm bổn phận cơ bản nhất của người con đối với cha mẹ: (1) Người con phải biết chăm sóc phụng dưỡng cha mẹ để cha mẹ khỏe mạnh, đặc biệt là khi cha mẹ đau ốm lại càng phải tận tâm chăm sóc. Không được làm những việc khiến cho cha mẹ phiền lòng. (2) Phải biết phụ giúp công việc cho cha mẹ. Con cái không được lười biếng. (3) Phải biết gìn giữ nòi giống, con trai và con gái đến tuổi trưởng thành là phải lấy vợ lấy chồng, sinh con đẻ cái. (4) Phải biết giữ gìn tài sản cho cha mẹ mình. Bản thân người con phải tự biết chi tiêu cho hợp lý, không được chi tiêu lãng phí tài sản của cha mẹ. (5) Khi cha mẹ đã chết cần phải biết cầu siêu cho cha mẹ mình, để vong hồn cha mẹ sớm được siêu thoát, đầu thai.
Nghi lễ cầu siêu thường diễn ra vào ngày thứ ba của lễ hội Chol Chnam Thmay. Theo những người Khmer, ngày cuối cùng của Tết chính là ngày quan trọng nhất, ngày này, người ta thường được tổ chức những nghi lễ quan trọng nhất. Ngày thứ ba có hai lễ lớn diễn ra trong chùa đó là Lễ cầu siêu và lễ tắm tượng Phật thì ý nghĩa báo hiếu được tập trung vào lễ cầu siêu.
Nơi diễn ra lễ cầu siêu đầu tiên là ở trong chùa. Các hũ cốt được lấy ra từ tháp để cốt của nhà chùa và được lau rửa cho sạch bụi bên ngoài, sau đó được đặt vào vị trí làm lễ. Đến đúng thời gian làm lễ, các Achar mời các sư ra nơi để cốt để làm lễ cầu siêu. Sau đó, Achar đại diện cho người dân nói lên mục đích của việc mời các sư đến để làm lễ cầu siêu cho tâm hồn cha mẹ người dân được siêu thoát. Các sư bắt đầu đọc kinh Apithom bao gồm nhiều bài, nội dung của kinh là những lời nói với những người đã chết về đạo lý khi sống cũng như khi chết, về những nỗi khổ ải và cách thức để vượt qua chúng. Sau mỗi hồi kinh được đọc ra, các Achar sẽ là người đầu tiên đọc kinh để tạ ơn ân đức của Đức Phật và các sư. Khi kinh được đọc xong, các sư bắt đầu vảy nước xuống người dân và đọc kinh cầu an cho những người đang làm lễ. Hành động vẩy nước này như là để chúc phúc cho những người còn sống. Việc vẩy nước ra xung quanh để nước có thể ngấm vào đất, ngấm vào mọi người, ngấm vào các linh hồn xung quanh cũng được làm với mục đích báo cho những người đã chết biết họ đang được những người thân của họ cầu siêu cho họ.
Sau vẩy nước xuống bá tánh, sư Cả sẽ là người đầu tiên, tiếp theo là các sư phó, các Tỳ Khưu và Sa-di đi kế nhau để vẩy nước vào các hũ cốt lúc này đã được mở nắp. Khi sư vẩy nước xong, các phật tử sẽ đổ thêm một chút nước do chính họ chuẩn bị với dầu thơm, hoa, nhang, để chứng tỏ lòng thành của mình đối với những người đã chết, để gửi gắm những nỗi nhớ và lòng biết ơn của họ đối với những người thân của họ. Cuối cùng, các hũ cốt được nắp lại và đem vào để trong tháp cốt chung của cộng đồng.
Đối với những gia đình không để cốt trong chùa, sau khi làm lễ cầu siêu xong, họ có thể mời một đến hai vị sư về nhà để làm lễ cầu siêu cho cha mẹ họ. Còn những gia đình để cốt ở nhà không có thể mời được các vị sư thì trong ngày thứ ba này cũng phải mang cốt vào chùa để làm lễ cầu siêu chung với cộng đồng.
So với lễ giỗ nhân dịp ngày mất của người đã khuất thì lễ cầu siêu lại không kém phần quan trọng, thậm chí còn được coi trọng hơn, đặc biệt với những người đi làm xa, một năm mới về quê một lần. Họ có thể thực hiện lễ giỗ, tưởng nhớ ngày mất của cha mẹ ở nơi khác mà không cần phải có cốt của người chết cũng như không cần các  sư đến để đọc kinh. Nhưng tổ chức lễ cầu siêu mỗi năm một lần thì không thể thiếu được những lời kinh mầu nhiệm. Người ta tin rằng, nếu không có oai lực của những lời kinh của Đức Phật thì cha mẹ họ sẽ mãi mãi có thể bị đau khổ ở thế giới nào đó không được siêu thoát. Như vậy, bổn phận của họ đối với cha mẹ sẽ không thực hiện được. Đối với người Khmer, không thực hiện được bổn phận đồng nhất với việc bất hiếu, và bất hiếu sẽ không chỉ là tội làm mất gốc của bản thân họ mà còn là một việc làm khiến họ phải trả giá do nghiệp báo.
(Còn tiếp)
Nhóm tác giả

Việc hiếu nghĩa của người Khmer (kỳ 6)

Written By kuxh on 20/09/2011 | 05:00

Quan niệm báo hiếu trong tâm thức người Khmer ở Trà Vinh.
Đối với những người Khmer ở Trà Vinh, từ khi được sinh ra cho đến khi đi tu học (đối với nam), lập gia đình, sinh con đều có những bổn phận nhất định được ghi lại trong kinh sách của nhà chùa. Bổn phận theo cách hiểu của người Khmer đó là những nhiệm vụ mang tính tự nhiên và hiển nhiên. Ở mỗi vị trí khác nhau con người phải thực hiện những bổn phận khác nhau.

Bổn phận theo cách hiểu của người Khmer đó là những nhiệm vụ mang tính tự nhiên và hiển nhiên. 
(Ảnh minh họa-Nguồn: Internet)
Bổn phận theo tiếng Khmer có nghĩa là Phia-ra-ci, đó là những điều được quy định khi con người bước vào những vị trí xã hội khác nhau. Cụ thể là bổn phận của cha mẹ đối với con cái; bổn phận của con cái đối với cha mẹ; bổn phận của trò đối với thầy; của thầy đối với trò; của nhân dân đối với người đứng đầu phum sroc, bổn phận của người đứng đầu phum sroc đối với nhân dân…
Có năm điều nói về bổn phận của con cái đối với cha mẹ đó là:
-Người con phải biết chăm sóc phụng dưỡng cha mẹ để cha mẹ khỏe mạnh, đặc biệt là khi cha mẹ đau ốm lại càng phải tận tâm chăm sóc. Không được làm những việc khiến cho cha mẹ phiền lòng.
-Phải biết phụ giúp công việc cho cha mẹ. Con cái không được lười biếng.
-Phải biết gìn giữ nòi giống, con trai và con gái đến tuổi trưởng thành là phải lấy vợ lấy chồng, sinh con đẻ cái.
-Phải biết giữ gìn tài sản cho cha mẹ mình. Bản thân người con phải tự biết chi tiêu cho hợp lý, không được chi tiêu lãng phí tài sản của cha mẹ.
-Khi cha mẹ đã chết cần phải biết cầu siêu cho cha mẹ mình, để vong hồn cha mẹ sớm được siêu thoát, đầu thai.
Tuy nhiên, bên cạnh những bổn phận của con cái đối với cha mẹ thì còn có bổn phận của những người làm cha mẹ đối với con cái của mình cũng được quy định rõ ràng. Về bổn phận của cha mẹ đối với con cái cũng có năm điều:
-Phải dạy bảo con cái làm những điều tốt đối với tất cả mọi người, tránh làm những điều xấu.
-Dạy bảo cho con cái biết kính trên nhường dưới. Tức là đối với ông bà, cha mẹ, anh chị thì luôn luôn phải kính trọng, đối với em trai, em gái, hay những người nhỏ tuổi hơn thì luôn phải nhường nhịn.
-Khi con cái đã lớn, đã đến tuổi đi học, thì phải tạo điều kiện cho con cái đi học. Đối với con trai thì ngày xưa phải được đi tu để học. Bây giờ đối với con trai và cả con gái đều phải được đi học, dù học chữ Khmer hay chữ phổ thông.
-Khi con cái đến tuổi trưởng thành, đối với con trai thì phải kiếm vợ cho con, đối với con gái thì phải chấp thuận cho con lập gia đình.
-Khi đã lập gia đình, nếu các con ra ở riêng thì cha mẹ phải góp vốn cho con để xây dựng nhà cửa và có vốn làm ăn. Vốn ở đây tùy thuộc vào cha mẹ, nếu cha mẹ giàu thì có thể là tiền bạc, nếu nghèo khó thì có thể là cây, lá, dụng cụ gia dụng trong nhà. Nhưng nếu con cái không ra ở riêng mà vẫn tiếp tục ở với cha mẹ thì cha mẹ vẫn còn bổn phận dạy dỗ cho con cái làm những điều lành, tránh những điều xấu.
Bên cạnh những bổn phận giữa cha mẹ và con cái còn có những bổn phận khác gắn liền với vị trí của con người trong cộng đồng. Ở đây, chúng tôi chỉ nêu ra những bổn phận của con cái đối với cha mẹ và của cha mẹ đối với con cái từ đó làm rõ hơn về khái niệm “báo hiếu”.
“Báo hiếu” hiểu theo tiếng Khmer có nghĩa là Ka-ta-nhu, là việc thực hiện bổn phận của con cái đối với cha mẹ. Để thực hiện những bổn phận của mình, người con không chỉ phải nắm chắc những bổn phận đối với cha mẹ mà còn phải biết về những bổn phận của cha mẹ đối với bản thân mình. Giúp cha mẹ thực hiện bổn phận đối với con cái cũng là một việc làm có hiếu với cha mẹ, bởi vì đã làm điều tốt làm cha mẹ vui lòng.
Ví dụ như việc người Khmer quan niệm rằng, đi tu trong chùa là một việc làm báo hiếu, vì người con đã giúp cho cha mẹ thực hiện bổn phận dạy dỗ con cái đã nêu trong kinh phật. Hay việc những người con vào chùa trong Lễ thuyết pháp để nghe thuyết giảng về phong tục tập quán của cộng đồng cũng chính là việc làm có ý nghĩa báo hiếu. Bởi đi nghe thuyết pháp cũng chính là việc làm nhằm học hỏi những cách ứng xử đúng đắn trong cộng đồng, do vậy sẽ làm cha mẹ vui lòng và cũng làm cho bổn phận dạy dỗ con cái của cha mẹ được trọn vẹn.
(Còn tiếp)
Nhóm tác giả

Việc hiếu nghĩa của người Khmer (kỳ 5)

Written By kuxh on 19/09/2011 | 05:00

Bối cảnh giao lưu văn hóa giữa cộng đồng người Khmer với các tộc người khác ở Trà Vinh.
Theo cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009, hiện nay, tổng dân số Khmer ở Trà Vinh là 317.230 chiếm tỉ lệ 31,62% tổng dân số của toàn tỉnh Trà Vinh. Bên cạnh đó, người Hoa có dân số 7.690 chiếm 0,76% và người Chăm với 163 người chiếm 0,016% dân số của Tỉnh. Các dân tộc Việt, Khmer, Hoa, Chăm đã tụ cư lâu đời ở tỉnh Trà Vinh, do vậy đã nảy sinh quá trình gặp gỡ, giao lưu, tiếp thu, loại trừ và chọn lọc những yếu tố văn hóa chung và riêng của từng tộc người để hòa hợp và phát triển.

Các dân tộc Việt, Khmer, Hoa, Chăm đã tụ cư lâu đời ở tỉnh Trà Vinh, do vậy sẽ nảy sinh quá trình gặp gỡ, giao lưu, tiếp thu, loại trừ và chọn lọc những yếu tố văn hóa chung và riêng của từng tộc người để hòa hợp và phát triển. 
(Ảnh minh họa-Nguồn:Internet)
Xét về sinh hoạt kinh tế, người Khmer và người Việt đều có truyền thống làm nông nghiệp. Trên cùng một địa bàn tự nhiên, họ đã cùng nhau chia sẻ từ những kinh nghiệm, công cụ, hạt giống đến các cách thức canh tác… Người Khmer đã tìm ra hàng trăm giống lúa cổ có sức chịu mặn, chịu phèn tốt. Người Việt đã đào hàng ngàn kilomet kênh mương lớn nhỏ, tháo cạn đầm lầy. Người Hoa tổ chức các trung tâm trao đổi, buôn bán các loại nông sản. Từ sự kết hợp đó, các tộc người đã cùng phát huy thế mạnh của riêng mình vào việc phát triển kinh tế của cả vùng.
Thông qua trao đổi các phương thức kinh tế, các tộc người có xu hướng xích lại gần nhau, tạo ra các giao lưu trên nhiều phương diện văn hóa khác như văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, các loại hình văn học dân gian và nghệ thuật.
Trong các tập tục mai táng, chôn cất người chết, nhiều người Việt và người Hoa sống cạnh người Khmer cũng hỏa thiêu và gửi tro cốt vào các tháp trong các ngôi chùa của người Khmer. Ngược lại, nhiều người Khmer sống gần người Việt và người Hoa lại chuyển sang chôn người chết.
Một số nơi của tỉnh Trà Vinh như thành phố Trà Vinh, chùa Mỏ Neo (huyện Châu Thành), có nhiều người Việt và người Hoa cùng đón Tết Chol Chnamthmay của người Khmer, và người Khmer cũng đón Tết Nguyên Đán của người Việt và người Hoa.
Sự giao lưu văn hóa còn thể hiện qua một số hiện tượng như song ngữ và tam ngữ. Nhiều người Khmer, trừ những người già, đều nói được tiếng Việt như tiếng phổ thông trong quan hệ xã hội, nhiều người Hoa cũng nói được tiếng Việt và tiếng Khmer. Người Việt nói tiếng của Hoa và người Khmer cũng không hiếm, nhất là đối với những gia đình Việt, Hoa, Khmer có quan hệ với nhau về hôn nhân. Trong cuộc sống sinh hoạt, họ có thể  chuyển nhanh từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ kia một cánh tự nhiên.
Sự giao lưu về tín ngưỡng tôn giáo trong các tộc người cũng được thể hiện rõ nét. Trước đây việc thờ cúng của người Khmer chỉ được tập trung trong chùa, nhưng trải qua thời gian tiếp xúc lâu dài với người Việt và người Hoa, người Khmer hiện nay cũng lập bàn thờ ông bà trong nhà. Trước đây, bàn thờ Phật của người Khmer thường quay về hướng mặt trời mọc, nhưng ngày nay, họ thường làm bàn thờ Phật ở chính giữa nhà, đi vào cửa là nhìn thấy giống như người Hoa. Có nhiều  trường hợp trong nhà của người Khmer có cả bàn thờ Quan Thế Âm Bồ Tát và Quan Công. Điều đó chứng tỏ họ đã tiếp thu những yếu tố tín ngưỡng của người Việt và người Hoa. Ở một số xã của huyện Tiểu Cần – tỉnh Trà Vinh như: Hiếu Trung, Hiếu Tử… ta thấy ở bên ngoài, trước sân, phía đối diện với cửa nhà của người Việt, Khmer, Hoa đều có lập bàn thờ ông thiên. Tục cúng thầy pháp của người Việt cũng gần giống với tục cúng Arặc của người Khmer; hay tục thờ Bà Mẹ Sanh của người Hoa và người Việt cũng giống với tín ngưỡng Mđai Đơm của người Khmer. Một hiện tượng thường thấy ở Trà Vinh là Miếu Bà Thiên Hậu, miếu Ông Bổn, miếu Ngũ Hành của người Hoa được xây cạnh chùa của người Khmer hay bên cạnh chùa Tịnh độ cư sĩ của người Việt, đôi khi còn xen kẽ cả với những nhà thờ Công giáo.
Không chỉ trên lĩnh vực kinh tế, tín ngưỡng tôn giáo, cả các trong lĩnh vực văn học dân gian, sân khấu, ca múa cũng có sự giao lưu rõ nét giữa các tộc người. Truyện cổ tích của người Khmer cũng có nhiều tình tiết giống như trong chuyện cổ tích của người Việt.
Nhìn chung, do đặc điểm tự nhiên của đồng bằng Sông Cửu Long, do cộng cư lâu dài, quá trình phát triển đa dạng của người Khmer là do những yếu tố văn hóa nội tại, cộng với những yếu tố văn hóa bên ngoài thông qua quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa với người Việt và người Hoa.
(Còn tiếp)
Nhóm tác giả

Việc hiếu nghĩa của người Khmer (kỳ 4)

Written By kuxh on 18/09/2011 | 05:00

Văn hóa tinh thần.
Phật giáo Nam tông có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của người Khmer ở Nam bộ nói chung và ở Trà Vinh nói riêng. Điều này phần nào thể hiện trong cấu trúc xã hội của người Khmer qua việc những tu sĩ luôn là tầng lớp được dân chúng kính trọng nhất. Theo truyền thống của người Khmer, con trai khi đến tuổi trưởng thành là phải cạo đầu tu hành. Việc làm này trước hết là để báo hiếu cho cha mẹ, sau đó là để tu dưỡng đạo đức, học tập những lời dạy đúng đắn của Đức Phật. Sau khi đi tu được vài năm (thường thì hai đến ba năm) thì họ có thể hoàn tục, trở về nhà để lập gia đình.
Theo truyền thống của người Khmer, con trai khi đến tuổi trưởng thành là phải cạo đầu tu hành. 
(Ảnh minh họa-Nguồn: Internet)
Theo Lê Hương, người Khmer có thể cam chịu ở nhà tre vách lá, nhưng ngôi chùa chung của cộng đồng thì được đóng góp xây dựng tráng lệ. Đối với họ, công đức được tích góp càng nhiều thì sau này sẽ mau chóng được lên cõi Niết Bàn.
Thực ra, trước khi Phật giáo du nhập và trở thành tôn giáo chính thống thì người Khmer đã là tín đồ của nhiều tôn giáo khác như Bà la môn và Phật giáo Nam tông. Ngay từ những thế kỷ đầu công nguyên, những người Hinđu đã vào lãnh thổ của Vương quốc Phù Nam. Khi đó, lãnh thổ Chân Lạp vẫn còn là một bộ phận của Vương quốc Phù Nam cổ.
Đến thế kỷ thứ IX, Phật giáo Bắc tông lại được truyền vào Phù Nam và Chân Lạp và rất thịnh hành trong những năm 1181 – 1218. 
Đến thế kỷ thứ XIII, Phật giáo Nam tông từ Thái Lan lại truyền từ Thái Lan qua Chân Lạp, Phù Nam đã ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống của người Khmer và ngày càng chiếm địa vị độc tôn trong xã hội.
Đạo Bà la môn mất đi, nhưng vẫn để lại những di sản còn ảnh hưởng đến phong tục tập quán của người Khmer cho đến ngày nay. Trong những câu chuyện mà những người Khmer kể lại xuất hiện nhiều vị thần Bà la môn, tiêu biểu như: Prum (Prahma)- giáo chủ Bà la môn; Neareay-vị thần chuyên thực hiện theo ý thượng đề về mặt xây dựng hoặc kiến trúc; Tevada-vị thần bảo hộ gia đình nhà cửa, đất đai. Sau khi Phật giáo Nam tông thắng thế, những vị thần trên không biến mất trong tâm thức người Khmer, mà quay về quy thuận Đức Phật để làm phúc giúp đời.
Người Khmer ở Trà Vinh hiện nay vẫn còn duy trì tín ngưỡng Arặc và Neakta mà theo nhiều nhà nghiên cứu đó là những tín ngưỡng sơ khai của người Khmer, có từ trước khi Bà la môn giáo vào Phật giáo du nhập vào. Arặc không chỉ là một hình thức tín ngưỡng của dòng họ mà còn có các Arặc bảo vệ nhà, bảo vệ gia đình, bảo hộ khu đất, hay trấn giữ rừng. Còn Neakta thì người Việt hay gọi là Ông Tà. Neakta có nhiều loại, nhưng quan trọng hơn là Neakta chủ xóm. Mỗi năm, dân làng phải cùng họp lại, làm lễ cầu an trước khu thờ của Neakta.
Nói đến người Khmer ở Nam Bộ, người ta liên tưởng ngay tới một kho tàng văn học dân gian vô cùng phong phú, biểu hiện sự có mặt của đa dạng các thể loại, phản ảnh sinh hoạt hàng ngày của tộc người: Kamnap (thơ ca); rương boran (thần thoại); rương preng (truyện cổ tích); Sopheaset (tục ngữ); peak bandao (câu đố); châm riệng (ca hát).
Bên cạnh sự đa dạng của loại hình văn học dân gian thì nhìn vào những ngôi chùa của người Khmer ở Trà Vinh như Chùa Mỏ Neo, Chùa Âng, Chùa Hang, Chùa Ông Mek có thể thấy đó là những công trình với nhiều giá trị về mặt kiến trúc, điêu khắc, hội họa và hoa văn.
(Còn tiếp)
Nhóm tác giả

Việc hiếu nghĩa của người Khmer (kỳ 3)

Written By kuxh on 17/09/2011 | 05:00

Văn hóa vật chất.
Sinh hoạt kinh tế của Người Khmer truyền thống là làm nông nghiệp. Do ruộng đất màu mỡ, cộng với điều kiện canh tác dễ dàng nên nông cụ sử dụng trong nông nghiệp trồng trọt rất đơn sơ. Ngoài nông nghiệp trồng trọt, người Khmer còn chăn nuôi thêm gia súc như trâu, bò, ngựa để kéo cày, kéo xe; và còn chăn nuôi nhiều loại gia cầm để có thịt bổ sung vào bữa ăn như gà, vịt. Ngoài những loài cây lương thực như lúa, khoai, người Khmer còn trồng thêm các loại cây ăn trái như dừa, chuối…
Điều kiện tự nhiên ở Trà Vinh có nhiều kênh rạch, sông ngòi chằng chịt, do vậy, những người Khmer sống ở gần sông ngòi có thể phát triển nghề đánh bắt tôm cá. Bên cạnh đó, họ còn phát triển nghề chạm khắc, sản phẩm thường là những pho tượng Phật, những đồ gia đụng sử dụng cho sinh hoạt hàng ngày.
Nhìn vào các phum, srock của người Khmer ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, ta thấy nhà cửa được xây cất rất đơn giản và có ít ngói. Người Khmer thường không chú trọng nhiều đến việc xây cất những ngôi nhà sang trọng cho riêng gia đình họ. Họ sống thiên về tinh thần, tiền bạc làm dư ra thì phần lớn được cúng vào chùa. Họ quan niệm phải xây chùa cho nguy nga tráng lệ để ngày sau được lên Niết Bàn, còn bản thân hiện tại thì chỉ ở nhà tre vách lá. Nhà của người Khmer thường được làm theo kiểu nối mái, nghĩa là một nhà chính được cất lên trước. Còn các nhà phụ sau nếu có được cất lên thì cứ theo thứ tự mà nối mái về sau. Nhà thường quay về phía đường hoặc sông rạch, đằng trước nhà nào cũng có sân. Nhà thường có một cửa chính để ra vào, bước tới cửa chính là thấy liền bàn thờ Phật và tổ tiên, hai cửa sổ đặt hai bên. Khi xây nhà, người dân phải gọi các Achar đến để làm lễ cúng, hướng dẫn những điều kiêng kỵ, những điều nên chuẩn bị để tránh ma quỷ đe dọa, tránh xúc phạm đến thần linh. Người Khmer không bao giờ dựng nhà một cách tùy tiện, không có lời chỉ dẫn của những người làm lễ.
Người Khmer quan niệm phải xây chùa cho nguy nga tráng lệ để ngày sau được lên Niết Bàn.
 (Ảnh minh họa-Nguồn: Internet)

Về trang phục, ngày xưa, khi ít có sự giao lưu văn hóa với các tộc người khác, người Khmer có trang phục riêng, được trang trí nhiều màu sắc lộng lẫy. Người già, và trung niên thì mặc áo dài gọi là tầm vông, nữ thanh mặc sam pốt-áo ngắn, tay cụt rộng, hoặc chẽn có màu sắc bông hoa rực rỡ, có nhiều nơi, thanh niên mặc xà rông giắt mối phía sau lưng gọi là sam pốt, áo trên ngắn, tay cụt nhưng rộng.
(Còn tiếp)
Nhóm tác giả

Xã hội truyền thống của người Khmer vùng Tây Nam Bộ - kỳ 8

Written By kuxh on 11/09/2011 | 05:00

Người già
Các bạn tôi đang ngồi chơi với bác S. Bác trông cũng rất vui vẻ. Bác S trạc độ hơn 70 tuổi. Bác S cho chúng tôi biết bác vào Đảng năm 1990 do bí thư xã thị trường giới thiệu. Hồi đó, ở đây chưa có Đảng bộ mà chỉ có chi bộ thôi. Thời gian các bác lên làm trưởng ban quản trị chùa, cơ cấu quản trị có hai phần, phần trên và phần khác là bảy người nữa trong ban cố vấn. Bác S nói công việc của ban quản trị là gần gũi với chùa, với sư cả, lo các công việc của chùa và thông báo cho mọi người các công việc trong chùa. Dưới ban quản trị có các wện và khi cần thông báo các công việc trong chùa thì thông báo với trưởng wện. Tôi hỏi bác về thông tin người già của làng thì bác S có nói cho tôi về ông K là người già nhất làng này. Trong khi chúng tôi hỏi về Mê Sróc là gì thì bác S nói là ông K là một già nhất phum. Tuy nhiên, bác nói là Mê Sróc là người già nhất chứ không giữ chức vụ gì trong phum này cả.
"Gọi phum hay gọi Sróc là tùy vào từng nơi, 
nhưng thực tế phum là ấp và phum còn được gọi là nơi ở của dân.''
(Ảnh minh họa, nguồn: Internet)
Giữa sư trong chùa và ban quản trị, bác S khẳng định là các sư là lớn nhất. Tôi hỏi bác về những người làm bên quản lý phum thì bác S cho tôi biết một người làm trưởng ấp sau giải phóng mà không biết chữ nay vẫn còn sống. Ông tên là H.
Bác S cho biết Sróc là ấp, phum cũng là ấp. Tuy nhiên, theo chữ nghĩa thì Sróc là huyện, phum là ấp còn ấp thì đúng hơn. Bác nói gọi phum hay gọi Sróc là tùy vào từng nơi, nhưng thực tế phum là ấp và phum còn được gọi là nơi ở của dân. Trong khi tôi mới vào nhà bác S chừng năm phút thì T ra hiệu cho chúng tôi về, lúc đó mới 10h hơn. T lại hẹn bác vào ban tối nhưng bác bảo “ban đêm muỗi cắn chết đó”. Qua cách bác từ chối thì tôi cảm thấy bác rất nhiệt tình với chúng tôi, nhưng bác chỉ không có thời gian nên mới nói vậy.
2h chiều tôi cùng với N lên nhà ông K là người già nhất làng mà sáng nay bác S có giới thiệu. Người ta chỉ cho tôi nhà ông K. Tôi vào nhà, thấy ông cụ rất già, gầy còm, răng cụ đã không còn và trông rất móm mém. Cụ đang mặc chiếc quần đùi ngồi trên chiếc ghế tựa. Cụ ngồi ở nhà dưới, ngôi nhà trông cũng rất bình thường, các đồ dùng trong nhà không có gì đáng giá ngoài chiếc ti vi cũ. Tôi và N đi vào chào cụ, cụ đứng dậy ra cửa cười với chúng tôi. Tôi giới thiệu mình là sinh viên. Cụ nói tiếng Khmer. Tôi không hiểu, tưởng là cụ biết một chút tiếng Kinh nên tôi cố gắng nói chậm và to để cụ nghe được, nhưng cụ cũng không nói tiếng Kinh mà nói gì đó bằng tiếng Khmer và luôn cười cách món mém, hiền từ. Biết là cụ không nói rành tiếng Kinh nên tôi bảo N ở lại còn tôi chạy ra ngoài, cố tìm nột em bé có thể phiên dịch cho tôi. Ra đường lộ nhìn quanh mà chẳng thấy ai, tôi trở vô nhà thấy một chị đang ngồi trước hiên cũng gần gần nhà ông K khoảng 50m. Tôi đánh bạo nhờ chị vào nhà ông K để phiên dịch giùm tôi vấn đề về phum, sróc truyền thống. Chị cũng vui vẻ và sẵn sàng đi cùng tôi vào nhà ông K để phiên dịch cho chúng tôi. Chị tên là T, sinh năm 1969 là con của một người Khmer và người Kinh, chị T có gia đình và ba con.
Nội dung cuộc phỏng vấn là tìm hiểu bối cảnh của ấp B.V trước đây và xã hội thời đó. Chúng  tôi kết thúc cuộc phỏng vấn vào lúc 3h30 chiều.
7h25 tối, chúng tôi tới nhà bác K. Bác K cho biết ấp B.V này là có nguồn gốc từ cái hồ lớn. Bác K giải thích “trước đây chùa B.V được hình thành tại bầu dài nhưng do người ta nói là không ở được. Tin đồn có ma tà nhiều nên khi nấu cơm, cơm chín là cát vào đầy nồi nên không ăn được. Lúc đó, chùa chỉ mới xây dựng cơ bản và người ta gọi chùa bằng tiếng Khmer là T. Chùa được di dời đến lần thứ ba mới ổn định”.
Chúng tôi hỏi bác về giai đoạn ấp chiến lược. Bác K đã kể cho tôi nghe về giai đoạn này. Trong thời gian này, bác đã lớn rồi, khoảng hai mươi mấy, ba mươi tuổi. Bác kể là giai đoạn ấp chiến lược này không kiên cố lắm. Giai đoạn này trải qua ba đời trưởng ấp. Khi hỏi khoảng năm bao nhiêu thì ấp chiến lược rã thì bác K trả lời “rã thì không rã, thực ra có hai đồn ở đầu ấp và cuối ấp, đầu ấp là đồn nhân dân tự trị và cuối ấp là lực lượng nghĩa quân, riêng đồn lực lượng nghĩa quân thì năm 1973 là giải tán. Thời kỳ này người ta làm giữ dằn lắm, người ta rào hết xung quanh, ban ngày người ta đi làm ruộng nhưng người ta quản lí theo liên gia, khu”. Chúng tôi hỏi kỹ hơn về cách quản lý theo liên gia là như thế nào thì bác K trả lời: “Liên gia là ba liên gia với nhau thành một khu, người ta quản lí rất chặt( người ta là chính quyền ngụy ) nhưng cũng quản lí không nổi đâu, ban đêm việt cộng cũng lên tới à, về hình thức thì chặt nhưng thực tế thì nó không chặt, ví dụ như ông N làm cho chính quyền ngụy như vẫn liên lạc với bên trong”
Chúng tôi hỏi thêm về tình hình an toàn của ấp B.V hồi đó thì bác cho biết: “Trong vùng của quốc gia trước đây thì không có khó khăn gì vì đây là khu vực an ninh còn ấp bên cạnh thì cũng hơi căng”.
Khi hỏi tình hình tu ở trong chùa thời gian này như thế nào thì bác K cho biết ở chùa thời kì này người ta đi tu rất đông vì người ta bắt đàn ông, thanh niên đi lưu dịch lính tráng. Có người đi tu hai ba lần, khi thấy ổn thì người ta xuất ra, bất ổn thì người ta lại vào. Có khi họ đi nơi khác tu, bây giờ thì tôi thấy có vẻ bác rất hào hứng, giọng nói của bác rất nhiệt tình và có khi bác nói quên cả cách trau chuốt, ý tứ trong từ ngữ. Tôi hỏi bác vậy thì thời kỳ này người dân có sợ bom đạn gì không? Bác K trả lời ở ấp B.V này nằm trong khu vực an ninh nên không có bom đạn.
(còn tiếp)
Ngày 27/5/2011.
Trần Thị Thùy Trang

Xã hội truyền thống của người Khmer vùng Tây Nam Bộ- kỳ 7

Written By kuxh on 08/09/2011 | 05:00

Người già
7h30 sáng sau khi hoàn thành sổ nhật ký xong thì tôi đi lên nhà bác S, trưởng ban quản trị chùa. Tôi đi cùng với T, Đ và H. Trước khi đi, T có gọi điện trước nhưng bác S nói hôm nay bác phải đi xa tới 10h trưa mới về, nhưng chúng tôi vẫn quyết định đi sớm vì nhà bác khá xa. Chúng tôi hỏi thăm những người trên đường và cuối cùng chúng tôi cũng đến được nhà bác S. Trước mắt tôi là cảnh một căn nhà lá khá đơn sơ và cũng không có gì là khang trang, khá giả gì lắm. Tôi thấy một bà già khoảng 70 tuổi đang lụi cụi nhặt những trái gì đó, hỏi ra tôi mới biết đây là vợ của ông  S. Bà đang lượm những trái mù u để bán cho người ta, nhưng để người ta làm gì thì bà không biết. Thấy chúng tôi giới thiệu là sinh viên thực tập, muốn gặp bác S để hỏi một vài chuyện thì bà liền bảo đứa cháu nhỏ khoảng 9-10 tuổi gọi ông về. Chúng tôi bảo bà đừng gọi, chúng tôi sẽ đợi và chúng tôi cũng muốn tới thăm hỏi và chơi với bà.
Tôi nhìn thấy trong khu đất đó có hai căn nhà. Trước căn nhà bên đó có một cụ già đang đan cái xúc bằng tre. Trong lúc đợi ông Sơn về, tôi để cho bạn ở lại, còn tôi sang đó nói chuyện một chút. Tôi tiến tới, gật đầu và hỏi bác đang làm gì thế thì bác bảo là đang làm cái xúc phân bò (tương tự như cái xúc rác nhưng được đan bằng tre). Thực ra, tôi thấy nó không còn mới như là bị hư ở đầu mũi xúc nên bác đang sửa lại. Bác cho biết tiếng Khmer gọi là “cái ki”. Một bác gái cũng đang đi từ trước cổng vào với vẻ mặt đầy thắc mắc. Có lẽ bà muốn biết tôi là ai và cũng rất lạ lẫm. Bà không cười mà chỉ trao đổi bằng tiếng Khmer với ông  thôi. Khi tôi hỏi về tên tuổi và gia đình thì ông trả lời. Ông tên là  R,  73 tuổi. Vợ ông là P, 70 tuổi. Khi tôi trình bày với ông về việc tôi muốn biết về lịch sử Phum, sróc này, ông cười và nói là ông  không biết gì nhiều đâu. Tôi hỏi về gia đình ông R thì ông cho biết: Gia đình ông có 12 con: sáu người con trai và sáu người con gái. Con ông đã lập gia đình hết và hiện nay có ba người con trai và ba người con gái đang sống gần nhà ông. Ông bà sống với nhau trong căn nhà bằng lá bình thường như bao ngôi nhà của người dân Khmer tại địa bàn B.V. Ông vừa làm trong khi  tôi hỏi ông về vấn đề lịch sử của ấp trong khoảng thời gian ấp chiến lược. Ông R cho biết là trước đây ấp chiến lược có tên là B.V.  Trưởng ấp người Khmer gọi là Mê Phum. Khi tôi hỏi ông về việc hồi đó ông có đi bộ đội không thì ông trả lời là ông có đi một năm rưỡi rồi trốn về.  Ông nói tiếp “Hồi đó giặc giả không nhiều nên cũng không có gì ghê gớm lắm”. Tôi hỏi ông hồi đó khoảng năm bao nhiêu thì ông R cho biết đó là khoảng thời gian năm 1960-1961. Trước đây,bác có đi tu trong chùa không? Bác R nói bác không đi tu mà chỉ có em bác là bác S đi thôi. Bác R cho biết Bác R và bác S là hai anh em trai, còn đất này là đất của ba mẹ bác R để lại. Tôi hỏi bác chủ của đất này thì gọi bằng tiếng Khmer là gì? “Có phải là mê phum không ạ?”. Bác R trả lời “chủ của đất ở là tiếng khmer gọi là âm chạt chứ không phải là mê phum, Mê Phum là người đứng đầu phum B.V chứ không phải là chủ đất”. theo bác R, một ấp là một sróc, huyện là nư khụm, như ở đây là nư khụm C. N.
Cuộc sống người Khmer.
 (Ảnh minh họa, nguồn: Internet)

Hỏi về bác S thì bác R cho biết, bác S làm trưởng ban quản trị đã 9-10 năm nay, vì thiệt thà mà người ta cho làm hoài tới giờ. Khi tôi hỏi bác R về giai đoạn tập đoàn, bác có nói là thời kỳ này mỗi người có một  đến hai công ruộng. Tùy theo tập đoàn người ta có nhiều ruộng hay ít ruộng. Thời gian tập đoàn tiếp quản năm 1975.Theo bác R,  thời tập đoàn người dân sống cực hơn là trước bởi vì người ta tính theo công điểm, còn người già, người đau ốm không làm được thì không có cái ăn. Bác bảo nhà bác hồi đó có hai mấy công đất vì con cái đông nhưng hiện nay bác còn 18 công ruộng.
Khi làm xong cái ki, bác mời tôi vào nhà uống nước, bác gái đang ngồi ở mé giường cũng đã vui vẻ hơn lúc nảy. Tôi tới ngồi bên bác P, bác kể cho tôi nghe về bệnh tình của bác. Bác có bệnh biếu cổ (biếu dữ ) không mổ được, mười mấy hai mươi năm nay là bác đã bị rồi. Sau đó, ông từ trong phòng đi ra tay cầm ấm trà và gọi tôi lại bàn ngồi nói chuyện. Tôi cảm thấy bác cũng vui vẽ và sẵn sàng trả lời những câu hỏi của tôi. Bác P chỉ cho tôi hình cưới cô con gái út của bà được đặc dưới tấm kính bàn. Trong nhà bác có hai bàn thờ , thờ phật một bàn, thờ ông bà một bàn. Trước sân cũng có một bàn thờ Thiên chỉ có một lư hương mà không có mái che, tôi hỏi bác tên của bàn thờ này thì bác cho biết đây là bàn thờ Thiên. Theo bác R, trước giải phóng dân cư ở đây còn thưa thớt, chỉ khoảng hơn 100 hộ, bây giờ ấp này có hơn 300 hộ. Trước đây, khi dân ở đây còn thưa thì đất này rộng lắm. Hồi ấp chiến lược người ta rào hào rào trước đường lộ ban ngày người dân vẫn đi làm bình thường, ban đêm thì người ta không cho ra và có cả lính canh. Tôi thấy bác Rưng nói con gái bác sống ở trước khu vực gần nhà bác, gần đường lộ nhưng lại có những hàng rào bằng cây tre thì thắc mắc. Bác Rưng giải thích đất nơi của con bác đang ở là đất ruộng nhưng do bác đã đỗ đất lên vào khoảng thời gian trước thời giải phóng và nó trở thành đất phum.
Khi tôi hỏi bác về việc ở ấp này người ta giàu lên nhờ gì? Thì bác R trả lời là do người ta có con lấy chồng việt kiều, các nước như Pháp, Mỹ, Đài Loan. Ví dụ như ông H có đứa con gái lấy chồng nước ngoài nên mở cây xăng bán. Nhưng một phần, bác H giàu là từ thời ông bà do hồi xưa nhà họ có nhiều đất ruộng .
Bác R bảo ở đây người ta giàu là căn cứ vào đất ruộng chứ không tính theo đất Phum , giờ đất còn rẻ lắm, có đất mặt tiền ngoài lộ mới bán được giá. Từ thời ông bà đã có bằng khoán và tính theo m2.
(Còn tiếp)
27/5/2011
Trần Thị Thùy Trang

Xã hội truyền thống của người Khmer vùng Tây Nam Bộ- kỳ 6

Written By kuxh on 07/09/2011 | 05:00

Chia sẻ thông tin.
Chiều nay, tôi quyết định đến gặp bác R mà hôm trước gặp bác trong chùa tôi thấy bác là người biết khá rõ về phum, sróc. Khoảng chừng 30 phút sau khi rời khỏi  nhà, tôi tìm đến được nhà bác. Nhà bác ở gần cuối một con đường đất sâu và lầy lội.  Khi tôi bước vào tới sân, tôi cảm giác bác Rượng chẳng giàu có như tôi từng nghỉ. Một ngôi nhà làm một nửa là bằng lá, một nửa là đã xây bằng gạch bê tông nhưng có vẻ đã lâu năm, đi ra phía bên hông nhà tôi thấy có một bà cụ đang nằm trên giường tre dẫn võng ru cháu.
Bà T là vợ ông R. Bà T có mái tóc ngắn, thân hình cũng khá thô, làn da đen sạm. Bà T có một chiếc răng cửa làm bằng đồng chìa ra trông rất ngộ. Bà mặc bộ đồ khá cũ và tối màu. Bà có vẻ ngỡ ngàng, lạ lùng trước sự xuất hiện đột ngột của tôi. Tôi  chào hỏi bà, giới thiệu về bản thân mình và mục đích của tôi cho bà biết. Bà T nói rằng: “Ông đi vắng không có ở nhà khoảng tối tối ông mới về”. Tôi cũng nán ngồi đợi và trong lúc đó tôi cũng hỏi bà một vài thông tin về bà thân bà. Bà T năm nay 72 tuổi, đang sống cùng chồng là ông R và con gái út của bà.
Khoảng năm phút sau thì ông R về. Cô con gái út chở ông về trên chiếc xe Dream đã cũ. Tôi chào và hỏi thăm xem ông vừa đi đâu về ông nói là đi trả nợ ngân hàng về. Ông mặc quần tây, áo sơ mi. Tôi thấy thái độ của ông cũng rất vui vẻ và sẵn sàng chia sẻ cho tôi những thông tin mà ông biết. Tôi trình bày cho ông về vấn đề mà tôi còn thắc mắc là phum là gì? Sróc là gì? Khu vực anh em họ hàng sống quây quần bên nhau gọi là gì?. Ông R cung cấp cho tôi những thông tin như đất ruộng tiếng Khmer là đê sre, đất giồng (đất ở) là đê phum. Theo ông R biết thì Phum nhỏ là vuông của người Việt, chỉ về đất ở. Vuông này có thể là nhiều vuông chứ không phải là một vuông, còn phum lớn là ấp. Ông R cho tôi hay ông trước đây ông ở B.S nhưng lấy vợ ở đây nên về đây ở rể. Ông có sáu người con đã lập gia đình. Ông còn có phum của mình ở B.S do cha mẹ ông để lại và bây giờ ông cho con của ông ở. Hiện tại, trong phum nhỏ này có gia đình ông và gia đình em họ của vợ ông đang sống.
Thái độ của ông cũng rất vui vẻ và sẵn sàng
 chia sẻ cho tôi những thông tin mà ông biết.
(Ảnh minh họa, nguồn: Internet)
 Theo như ông R kể thì trước đây wện Tịch Anh này rất thưa người, cả wện chỉ có vài nhà thôi. Khi tôi hỏi ông về đất ruộng của ông thì ông cho biết ông có 20 công ruộng, năm công mía. Tôi hỏi bà T có đi ruộng được không thì bà cười vui vẻ, bà nói rằng: “Giờ thì ở nhà trông cháu thôi, nhưng lúc nào rãnh bà cũng đi ra ruộng để nhổ cỏ cho lúa và cho mía”.
Kết thúc cuộc phỏng vấn, ông R còn cho chúng tôi chuối và cả chanh dây, tôi thấy mọi người rất vui và còn chúc tôi học giỏi. Bây giờ đã là 5h15 chiều.
Ngày 26/5/2011
Trần Thị Thùy Trang

Xã hội truyền thống của người Khmer vùng Tây Nam Bộ- kỳ 5

Written By kuxh on 06/09/2011 | 05:00

Từ chuyện một gia đình người Khmer.
9h15 sáng, sau khi hoàn thành nhật ký của ngày hôm qua, tôi cũng lên một lịch làm việc mới do một vài gợi ý của cô D. Theo kế hoạch, tôi sẽ sang bà K hỏi chuyện nhưng tôi cứ thấy ngại ngại. Thấy bà K đang đứng ở bếp, tôi chạy lại hỏi thăm về những người già có khả năng biết về phum,  Sróc. Bà K chỉ cho tôi em út của bà cũng sống gần đây và bà bảo tôi dắt xe đạp để bà dẫn tôi sang nhà bà út. Bà K đã già. Năm nay bà  đã 72 tuổi nhưng tôi thấy bà làm việc liên tay liên chân suốt ngày.Chúng tôi đi được một lúc cách nhà bà K, khoảng vài trăm mét là tới nhà bà U dọc theo trục đường lộ. Nhà bà U là nhà xây kiên cố, khá rộng rãi và khang trang, sơn màu xanh dương nhạt trông rất sáng sủa. Tôi bước vào sân và thấy hơi ngại vì tôi cũng không phải là người quen giao tiếp với người lạ mà đặc biệt là chỉ có mình tôi thôi. Vừa vào trong sân, có một anh (anh T con bà K) chạy xe máy vào. Tôi cứ nghĩ là con bà U nên cũng gật đầu chào. Anh hỏi tôi “đi đâu đấy” tôi nói là đi tìm hiểu về phum, Sróc của người Khmer. Tiếp theo tôi cùng bà K ra sau nhà thì thấy một bà già đang vo gạo nấu cơm, tôi mới hỏi bà nấu cơm cho sư bưng bát hả bà thì bà cười và nói theo “bưng bát”. Bà K cũng nói lại với tôi một lúc nữa các sư lại bưng bát. Anh T hồi nãy gặp ngoài sân giờ đã đứng trước cửa nhà sau và hỏi tôi vấn đề tôi đang nghiên cứu là gì? Tôi thấy anh có vẻ rất nhiệt tình với những sinh viên như chúng tôi. Tôi cũng nói với anh về cái tôi đang cần tìm kiếm là các mê phum (trưởng phum) mê Sróc(trưởng ấp). Tôi muốn biết họ là ai trước khi có các đơn vị hành chính là ấp, xã… Anh nói rằng anh cũng không biết và nói bằng tiếng Khmer để hỏi về vấn đề này với bà U bà U cũng trả lời lại với anh bằng tiếng Khmer. Sau đó, anh trả lời tôi là “dì U cũng không rành nữa”. Anh mời tôi vào nhà và kéo ghế ngồi. Thấy anh này cũng nhiệt tình nên tôi mới sẵn hỏi thăm một số thông tin: anh tên là  T, con bà K. Anh đã có thời gian tu ở chùa bảy năm, hiện nay anh T đã có gia đình và một con gái học lớp chín. Khi tôi hỏi anh cảm thấy thế nào khi đi tu? Anh trả lời: đi tu thì nhỏ hơn 21 tuổi là xa di trả ơn mẹ, trên 21 tuổi là tì khưu trả ơn cha. Theo anh T thì đi tu lâu hay mau là do duyên kiếp chứ không phải mình muốn là được, khi nào cảm thấy hết duyên tu (căn tu) nữa thì ra chứ không phải ai muốn đi là đi. Khi tôi nói về sự hi sinh của người mẹ thì thấy anh có vẻ hơi xúc động và nói “bà cứ làm nuôi mình còn mình đi tu thì không giúp gì được cho bà” đi tu còn không được nghĩ ngợi gì về gia đình mà phải tụng kinh, cầu cho cha mẹ, làng xóm được bình an. Anh Tư cho tôi biết phum là ấp và bao gồm 6 wện của ấp Nô Nghét Chơn, Ô Nghét Bôn, Nơ Trọn, Lệt Woát, Kợt Woát, Tịch Anh. Anh Tư giải thích từ “Nghét” trong tiếng Khmer là chỉ ngã ba, ngã rẽ, “Nơ Trọn” là nằm thẳng, “Lệt Woát” là hướng đông của chùa, “Kợt Woát” là hướng nam của chùa. Tiếp theo, “Tịch Anh” là nơi có nhiều a cha (các thầy dạy tiếng Khmer và tiếng Bali). Anh T trước đây cũng từng làm a cha và anh xin đi học ở các chùa khác chứ ấp B.V không dạy. Tôi thấy anh T có vẻ không rảnh lắm nên nói: nếu anh không rảnh thì đi làm kẻo muộn và anh cũng nói là anh đang bận công chuyện một tí. Tôi cám ơn anh và anh đứng dậy ra về. Bây giờ, trong nhà chỉ còn lại tôi với bà U. Bà K đã về khi nào tôi cũng không biết nữa. Bà Út đang ngồi trên giường, tôi đi lại để nói chuyện với bà. Bà U trong rất đẹp lão, khuôn mặt bà rất sáng. Mái tóc của bà cũng giống như bao phụ nữ có tuổi của người Khmer ở đây là đều cắt ngắn, nhưng tóc bà vẫn còn đen và đẹp. Tôi hỏi bà năm nay bao nhiêu tuổi?  Bà nói cho tôi biết là năm nay đã 70 tuổi, hiện nay ở với gia đình con trai và bốn đứa cháu; và bà chỉ có một đứa con duy nhất. Bà U là em gái của chồng bà K. Bà U nói bà K không phải là gốc ở đây mà quê bà ở Trà Cú. Bà Út nói với tôi là bà không biết tiếng Kinh. Bà chỉ nói được chút ít thôi. Tôi hỏi bà U về con cái, đất đai. Bà và con bà hiện nay làm 10 công đất. Trong lúc nói tôi cố gắng nói rất chậm và lặp lại nhưng bà U vẫn có nhiều khi không hiểu. Bà cười và nói với tôi bằng tiếng Khmer như một người biết tiếng Khmer vậy. Nhưng tôi vẫn cảm thấy một điều là bà U có thể cho tôi biết một chút thông tin về phum, Sróc nên tôi không thấy nản và cũng không muốn bỏ cuộc. Bà U nói đây là phum bằng quên (B.V). Bà U cho biết bà có sáu anh chị em. Sau một hồi cố gắng hỏi han thì bà U cho biết  trước đây bà ở gần nhà bà K, nhưng sau đó bà về đây ở cả chục năm rồi. Các anh em của bà cũng ở gần nhà bà Kha nhưng bây giờ đã chết hết rồi. Bà U và tôi vẫn tiếp tục cuộc trò chuyện nhưng không phải là ở trong nhà mà đã ra ngoài bếp. Bếp sát bên chuồng heo, trong chuồng có hai con heo đang nằm, bếp củi vẫn cháy từ lúc tôi nói chuyện đến bây giờ. Thấy gà, vịt tôi cũng hỏi thăm bà có nuôi nhiều hay không thì bà cho biết là nuôi 15 con gà cả lớn cả nhỏ, năm con vịt và một vịt xiêm. Đang lúc chúng tôi (bà và tôi) đang trò chuyện thì tôi nghe có tiếng ai gọi, nhưng là tiếng khmer. Bà U nói là lục đi bưng bát mà bà chưa múc cơm. Lấy cái dĩa sâu bà xuống bếp xúc một đĩa khoảng hai chén bưng lên nhà. Sư đang chờ ở ngoài hiên. Bà U bưng cơm ra ngoài cúi đầu và cho cơm chia điều cho hai sư. Bà xuống nhà lấy một quả trứng đang bóc dở dang bỏ vào trong một cà mèn đựng đồ ăn riêng cho sư, rồi bái sư và sư đi ra.Trong thời gian cho cơm, cả bà Út và sư không có ai nói gì với ai. Theo tôi thấy thì bát của sư lớn khoảng chừng đựng được 20-25 chén cơm. Chén này luôn được sư che lại ở trong áo.Tôi hỏi bà Út có hay đi chùa không? Bà cho biết là mình yếu lắm không đi chùa được. Bà nói “chân tay cứ nặng không đi được” nên cả năm rồi bà không đi chùa. Khoảng 10h30 tôi hỏi thăm bà về người già ở gần đây bà chỉ cho tôi một ngôi nhà gần đó, khi tôi qua đó thì thấy cửa trước đóng và thấy cũng ngại nên tôi trở về nhà bà K.
 Khi nghe bà kể về cuộc đời mình, tôi thấy bà là một người mẹ lam lũ, vất vả cả cuộc đời, hy sinh nhiều cho gia đình, cho chồng con.
 (Ảnh minh họa, nguồn: Internet)
Tôi hỏi bà K là trước đây gì U cũng ở gần đây phải không? Bà K cho biết trước đây gì U ở gần giữa Bà K. Nhưng sao Bà U không ở đây mà chuyển đi? tôi hỏi. “Thì bà U có phum ở đó thì sang đó” bà K trả lời. “vậy có phum có phải là đất sở hữu không?” Một câu hỏi tôi tự đặt ra cho mình. “Bà ơi vậy đất mà bàđang ở là đất của ai hà bà? Bà trả lời tôi, đất này là đất của ông bà để lại, trước đây dì U ở đây nhưng giờ nhường lại cho chú T ở. Đất này con cháu ai ở thì ở chứ không mua bán gì hết. “Dì U không có chồng, xin con của tui về nuôi nhưng con tôi nó không chịu, nó nói “tui là con của mẹ tui chứ con gì bà” rồi dì U xin con của anh sáu về nuôi, bà K nói. Bà K quê ở Trà Cú, “trước đây tui lấy chồng về ở bên đó nhưng sau khi sinh được 3 đứa con (lấy chồng từ năm 17 tuổi – năm 23 tuổi là có 3 đứa con) thì ông mới về đây, tui thì không chịu lại, nhưng mẹ tui nói chồng ở đâu thì vợ ở đó, nên một năm sau tui mới lại nhà này”.
Hôm nay khi nói chuyện với bà K, tôi thấy bà có vẽ rất muốn giúp tôi làm bài, bằng cách chia sẽ thông tin mà tôi muốn biết rất nhiệt tình. Nhìn thấy bà trong bộ đồ đen đã sờn, đôi chân trần thô kệch, mái tóc ngắn bạc trắng cả đầu và một làm gia đã nhuốm mầu sương gió nên đã trở nên đen đủi và lắm đồi mồi. Bà làm việc suốt ngày không ngơi nghỉ. Hôm nay, khi nghe bà kể về cuộc đời mình, tôi thấy bà là một người mẹ lam lũ, vất vả cả cuộc đời, hy sinh nhiều cho gia đình, cho chồng con. Khi nói về gia đình bà không giấu được niềm tự hào về chồng con, nhưng cũng không khỏi ngậm ngùi, tiếc xót về sự ra đi của chồng con bà.
11h35 tôi kết thúc cuộc trò chuyện với bà K
(Còn tiếp)
26/5/2011
Trần Thị Thùy Trang

Xã hội truyền thống của người Khmer vùng Tây Nam Bộ- kỳ 4

Written By kuxh on 05/09/2011 | 05:00

Các cuộc phỏng vấn người dân tại ấp B.V

Sáng thứ năm, khoảng 8h15, tôi, T, X, Đ cùng nhau đến Chùa Bông Ven để hẹn gặp sư cả và nhờ sư xác định sơ đồ các wện ở chùa, nhưng các sư và sư cả đều đi vắng. T liên lạc với một bác trưởng wện nhưng vì nhà bác xa quá nên chúng tôi không đi được. Khi ra tới cổng chùa, chúng tôi hỏi thăm chị bán bún nước lèo về trưởng ấp gần đó và nhà ông S, người tu thiếp trong chùa thì biết chị chính là con gái của ông S. Để tới được nhà ông S, chúng tôi phải đi qua một đoạn đường hẹp, lầy lội, nằm sát bên chùa. Khi tới nơi, chúng tôi bắt gặp ông đang đào lỗ ở khu đất của chùa và khi chúng tôi hỏi thì ông nói là ông đang làm hàng rào của chùa. Chúng tôi cũng trình bày cho ông về việc chúng tôi tới đây và cần ông giúp cho một vài thông tin. Ông mời chúng tôi vào nhà, lúc này nhà ông có một người con dâu và hai đứa cháu trai đang ở nhà. Chúng tôi vẫn còn ngại vì sau khi hỏi vài câu mà ông không hiểu ý là mấy. Ông cho biết nhà ông có mười mấy công ruộng, sáu người con đã lập gia đình và hiện anh con út đang sống cùng ông. Nhà ông thì trông cũng bình thường. Tuy nhiên, khác ở các nhà người khmer mà tôi thấy, nhà ông có một bộ ngựa trong nhà, hình bác hồ, bàn thờ phật…  Sau khi hỏi được vài câu và ông không hiểu hay có lẻ là ông không biết trả lời bằng tiếng Việt, nên gọi cô con dâu bên nhà để nói chuyện với chúng tôi.
Khoảng 20 phút sau, chúng tôi cảm ơn và xin phép ra về. Đang mò mẫm tìm đường ra về thì chúng tôi hỏi được nhà của chú F. Chú F không có ở nhà mà chỉ có vợ chú là cô H ở nhà. Cô H là người Việt trước ở ấp N.L về làm dâu tại đây. Gia đình cô H có ba người con, đứa lớn nhất học đại học Cần Thơ, một em học lớp 12 và một em học lớp 10. Cô H năm nay 42 tuổi, gia đình cô làm 10 công ruộng (một công=1000m2 ). Cô cho biết gần đây vì nước mặn nên làm ruộng cũng không được mùa. Vụ trước cô H có làm 2,5 công màu (bí đao).Trồng màu vốn đầu tư không cao nhưng nguồn lãi lớn khoảng năm đến sáu triệu vốn, có năm được mùa, được giá, gia đình cô thu về khoảng 40 đến 50 triệu.Trước đây cô H còn đi buôn heo, gà, vịt nhưng nay con cái đi học xa nên không đi buôn nữa.

Chiều 3h10 tôi cùng N đến nhà bác T là người hôm qua đã phát biểu và giới thiệu về đời sống của người Khmer tại đây. Nhà bác rộng rãi, tôi bước vào thấy khang trang (nhà giàu) xe tay ga, ti vi, đầu đĩa hiện đại, tủ lạnh, tủ trà, tủ đồ, bàn ghế rất tiện nghi. Khi chúng tôi có cả vợ bác đang ở nhà, bác mời chúng tôi vào nhà và sẵn sàng nghe chúng tôi nói.
Sau khi N hỏi một số vấn đề về Nekta thì tôi mới hỏi bác về thiết chế xã hội truyền thống. Bác đã có chín năm tu trong chùa làm acha sau đó đi bộ đội và về làm tại cơ quan nhà nước. Theo bác, người Khmer chỉ có bốn họ là  Thạch, Kiên, Kim, Sơn nên người cùng họ với nhau vẫn có thẻ kết hôn với nhau. Theo phong tục của người Khmer là trước đây bên đàng gái phải bắt rễ, nhưng hiện nay người ta linh hoạt hơn, con gái cũng về ở bên nhà chồng do hai bên thỏa thuận với nhau. Con trai của bác cũng về cư trú bên vợ. Mặc dù bác muốn anh về sống cùng với bác, nhưng do vợ anh là con gái út nên anh phải về ở bên vợ.
Bác nói hai con gái nhà bác cư trú ở bên chồng là do có sự thỏa thuận của hai gia đình, đó là những trường hợp đặc biệt mới thỏa thuận vậy. Theo bác, gia đình hiện nay làm 20 công ruộng nuôi 10 con heo. Do công việc làm không hết nên bác phải thuê hai người làm, mấy người coi nhà máy chà, còn một người trông cháu. Trước đây,  bác làm việc ở xã N.T. Kể từ năm 1987, bác về huyện làm việc. Các chức vụ mà bác đảm nhận khi làm việc ở đây là: trưởng ban giáo dục,  phó chủ tịch xã, chủ tịch xã, phó chủ tịch ủy ban huyện, trưởng ban dân vận tổ quốc mặt trận. Đến ngày 1/4/2005 bác về hưu. Bác cho biết khi về hưu, bác cảm thấy rất nhẹ lắm.

Tôi hỏi bác về phum, sróc thì bác nói: tiếng Khmer Sróc=xóm, phum=ấp, khum=xã. Anh em trong thân tộc ở chung với nhau trong một khu vực thì gọi là nhóm gia đình (Krum trù xa) nhưng cách gọi này không phổ biến.

Khi tôi hỏi bác về thành phần ban quản trị của chùa hiện nay, bác trả lời ban quản trị chùa gồm: chủ tịch, phó chủ tịch, kiêm huấn (a cha), thư ký, kế toán.
Trình độ sư cả hết 12 (lớp giáo lý), sư cả S trước đây vừa đi tu vừa đi học đến lớp chín sau đó học tiếng Paly và bổ túc văn hóa đến lớp 12. Trước đây để làm được sư cả phải là những người tu lâu năm, nhưng nay (sau giải phóng) phải có trình độ và phải có sự đồng ý của hội đoàn kết sư sải yêu nước. Xét về thời gian tu, trình độ, đạo đức, tác phong thì mới được làm sư cả.
Học tiếng Khmer trong chùa.
(Ảnh minh họa, nguồn: Internet)

Để được làm a cha phải học hết chương trình sư phạm của hội (ba năm) cấp trung học có tại huyện và tỉnh cùng với học bổ túc văn hóa đại học phật học có trụ sở tại Cần thơ. Giờ các sư đi du học nhiều ở các nước Thái Lan, Ấn Độ, Xrilan, có cả ở Mỹ, ngày xưa các sư học ở Campuchia nhưng nay không còn vì Campuchia nghèo lắm. Chùa Bông Ven có một a cha dạy tiếng Khmer, Pali và giáo lý. Người đứng đầu ấp là có khi trưởng wện, có khi là những người già có kinh nghiệm. Ngày xưa để được làm trưởng wện người ta phân chia luân phiên, một năm hai người làm và không cần phải có trình độ theo hình thức bỏ thăm bắt phiếu. Bây giờ, trong cơ cấu wện còn có thêm ông phó wện, ngày xưa do bổn dạo của chùa bầu lên, nhưng bây giờ là do hội (ĐKSS) duyệt. Hội cũng bầu cả ban quản trị chùa, bầu ba người là chủ tịch, phó chủ tịch và thư ký còn những ông khác là do ba ông này chọn. Sau khi chúng tôi tới đây được khoảng 10 phút thì có thêm 4 bạn khác cũng tới nhà bac Khúte để hỏi bác về những vấn đề có liên quan khác. Khi M hỏi bác về  tín ngưỡng Arắc thì bác hai giải thích nó là đồng bóng, hiện nay không còn nữa. Lúc nhỏ, bác chỉ thấy một đến hai lần mà cũng không dám vào xem . Khi gia đình người ta có sự việc gì trong gia đình thì làm Arắc. Người ta vẽ mặt, đánh trống, đánh mõ, thắp đuốc để đuổi ma, có cả các sư đi theo nhiều lắm. Trời vừa tối sụp, người ta đã đi nhưng việc này không phải ấp nào cũng làm đồng loạt mà thường chỉ có ấp N.L là hay làm. Nhưng hiện nay người ta mời ông Lục về tụng kinh và vận động bà con bỏ việc làm này vì nó gây mất trật tự trị an.
N  hỏi về các loại Nektà thì bác có trả lời về hai loại: một là Nektà phnu và hai là Nektà phnô.Việc cúng Nektà là hình thức thờ một vị thần nông cúng thần ngoài đồng, gồm gà, vịt, và bắt buộc phải có đầu heo. Người đứng ra tổ chức là trưởng wện hoặc có khi là người già có kinh nghiệm.
(Còn tiếp)
25/05/2011
Trần Thị Thuỳ Trang


Xã hội truyền thống của người Khmer vùng Tây Nam Bộ - kỳ 3

Written By kuxh on 04/09/2011 | 05:00

Khảo sát địa bàn chùa B.V
Sau khi đưa chúng tôi đi một vòng quanh chùa chú F mời chúng tôi vào chùa: bước lên một cầu thang, chúng tôi tới một gian phòng rộng rãi, sàn nhà làm bằng những thanh gỗ, ở đó có các sư đang ăn cơm. Các sư ngồi trên các sạp cao, có rất nhiều cơm và thức ăn trước mặt các sư. Bên dưới, mọi người ngồi riêng nam nữ, không khí ở đây không mấy ồn ào. Khi chúng tôi bước vào, mọi người ở đây nhìn chúng tôi với ánh mắt rất hiếu kỳ. Tôi cũng theo mọi người vào trong và ngồi bên cạnh một em gái tên L, 17 tuổi đang học lớp 11 tại tỉnh Trà Vinh. Ba má L làm ruộng. Tôi bắt chuyện với em và khi tôi thấy một nhóm người già mặt đồ trắng có cả nam lẫn nữ, đều cạo trọc đầu, tôi hỏi bé L đó là ai thì bé trả lời đó là  những người tu thiếp, đàn bà gọi là lục day, đàn ông là lục tà. Trước mặt họ là một bàn thờ nhỏ với một cây nến trắng một cây nhang đang được thắp, hai hàng hoa vạn thọ ảnh phật và có cả bàn thờ không có ảnh phật nhưng có m ột hàng thuốc lá. Trong phòng có hai bàn thờ: một bàn thờ Phật và một bàn thờ những vị sư có chức cao và có cống hiến lớn cho chùa. Bàn thờ này có đèn điện chớp các tháp đồng lớn nhỏ khác nhau, người ta cũng đặt  hình ảnh các vị sư và những hàng chữ Khmer. Đang lúc nói chuyện thì có nguời nói trong micaro thứ tiếng khmer và L cùng mọi người vội chắp tay nghiêm túc. Khoảng một phút sau, mọi người lại thư giản bình thường, một lúc sau nữa thì có người đàn ông đứng tuổi phát biểu bằng tiếng Khmer, sau khi hỏi L thì tôi biết ông đang nói về những hoạt động của chùa trong tuần qua. Sau đó, chú F có giới thiệu chúng tôi cho người đàn ông này; cô D phát biểu, có người thông dịch sau đó, mọi người tỏ ra rất thân thiện và cười nói vui vẻ với nhau.
Người đàn ông này tên là K.K. Bác nói với chúng tôi về vấn đề đời sống và phong tục tập quán của người Khmer:“Trước năm 2000, đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn về vật chất cũng như tinh thần. Từ khi được sự hổ trợ của các chính sách 134,135,141 đồng bào Khmer có sự phát triển khá, thể hiện ở việc hộ nghèo giảm. Người dân sống chủ yếu là nghề nông. Trước đây, việc ứng dụng khoa học kĩ thuật thấp dẫn đến mức thu nhập thấp, nhưng từ năm 2000, nhờ việc ứng dụng khoa học tốt đã làm cho nắng suất khá và mức thu nhập tăng lên. Năm nay, người dân trúng mùa cộng với trúng giá, cộng thêm được đầu tư vào mua bán nên đầu ra tăng, dẫn đến đời sống một bộ phận người dân được nâng lên. Ý thức đoàn kết giữa lương và giáo, giữa người Khmer – Hoa – Kinh tốt. Phong tục của người Khmer liên quan đến tôn giáo, người Khmer chỉ có một tôn giáo là Phật giáo. Người khmer rất tôn trọng là Phật giáo, thể hiện rõ  nhất  là vào ngày vô năm ( Chuôn thnăm thmây ). Vào  ngày  này, mọi người tập trung về chùa cúng bái, vui hội lễ năm mới.”
Người dân Khmer dâng cơm cho sư.
(Ảnh minh họa- Nguồn: Internet).

Lễ hội (okombók) tổ chức phổ biến trong cả nước ở những nơi có nhiều người Khmer ở. Lễ hội này tổ chức hàng năm vào rằm tháng 10. Ở Trà Vinh, người ta tổ chức nhiều trò chơi nhân gian như đua ghe ngo, đá bóng, bóng chuyền, lễ Ka thăm tha tiêng là lễ dâng bông, cúng áo cà xa cho sư trong chùa và một số lễ khác như lễ giỗ.
Chùa B.V xây dựng năm 1642 ( theo bác Kh thì thông tin này có do ban quản trị chùa và hội sư sải đoàn kết yêu nước nghiên cứu). Người Khmer rất tin tưởng và tôn trọng các sư. Họ tin và coi các sư như là người giữ vững văn hóa Khmer thông qua chữ viết, tiếng nói và tất cả phong tục của người Khmer. Trước đây, con trai Khmer 12 tuổi là vào chùa tu để đền ơn cha mẹ. Tu sa di là tu nhỏ để đền ơn mẹ, tì khưu đền ơn cha, tu xong ti khưu thì mới xuất ra để lập gia đình. Trong đây, chùa thuộc hai ấp B. V và N.L nhưng chỉ có mấy người đi tu.
Các ông bà đi thiếp xong mỗi tháng vào chùa bốn ngày 8; 15; 23; 30. Vào những ngày này, người dân tranh thủ đến chùa, nếu không đến  được thì họ ở nhà lo cho gia đình. Người dân dâng cơm cho sư với ý nghĩa là nhằm cầu siêu cho các linh hồn đã khuất. Trước đây, khi ông Lục đi khất thực chỉ có người Khmer dâng cơm, nhưng hiện nay có cả người Kinh cũng dâng cơm. Người Khmer và người kinh ngày giỗ cũng mời nhau.
Trước đây, ý thức người dân rất kém về việc học tập. Trước giải phóng, người Khmer được còn xã vận động đến trường nhưng họ cũng tìm cách trốn từ từ. Nhưng đến nay trẻ em đến tuổi đều được đi học. Học sinh cấp I được nhà nước đầu tư tất cả sách vở, tiền học phí. Các thành phần giáo viên, kỹ sư, bác sĩ trong huyện tăng lên đáng kể. Nói chung, người Khmer luôn được vận động giữ vững bản sắc. Tuy nhiên, trên thực tế thì có cái giữ rất tốt và có cái không tốt, ví dụ như người dân đi chùa phải mặc đồ truyền thống của người Khmer nhưng hiện nay mặc đồ như người kinh là phổ biển, chỉ có lễ dâng bông người dân mới mặc đồ Khmer. Về y tế, trước đây khi gia đình có chuyện gì thì người ta thường mời thầy lang, đồng bóng nhưng hiện nay người dân đã đi đến y bác sĩ để được chữa trị.”
Khoảng 8h30 các sư ăn cơm xong, một nhóm phụ nữ bưng thức ăn còn lại của các sư, trái cây và các loại bánh để lại hội trường và chúng tôi được mời ăn. Các loại bánh trái ở đây cũng dễ ăn như: bánh bò, xôi, bánh hỏi, chuối, xoài. Lúc này, chỉ có chúng tôi và những người đàn ông ngồi ăn bánh, uống trà. Cơm được dọn xuống gian nhà bên cạnh (trải chiếu) bày đồ ăn và chúng tôi được mời xuống ăn. Một bên là những ông bà tu thiếp dùng cơm với một không khí thinh lặng. Nhóm chúng tôi ngồi thành hai để ăn cơm, và trong bữa cơm này có rất nhiều các loại thức ăn như: trứng, thịt gà, cua biển, cá nhỏ… được dồn chung vào một chỗ. Chúng tôi được mọi người mời ăn rất nhiệt tình, khi chúng tôi ăn xong. Trong lúc ăn, cô Dung có hỏi về thời gian sư ăn thì có mt phụ nữ trả lời: Sư chỉ dùng cơm m t ngày hai bữa. Từ 13h trở đi các sư vẫn được dùng đường, sữa miễn là không phải cơm. Sau khi ăn cơm xong, chúng tôi được mời lên lại hội trường để uống nước, những người tu thiếp cũng ăn xong thì để nguyên mà không dọn, họ đi lên hội trường ngồi nghĩ. Các bạn trong đoàn chúng tôi và cả các thầy cô cũng tranh thủ đi hỏi các thông tin từ những người trong ban quản trị và những người tu thiếp này.
Khoảng 9h30 tôi và T, Đ được chú P dẫn đến gặp sư cả. Sư cho biết thông tin về sư:  sư tên là S.T, 30 tuổi, làm sư cả tại chùa B.V được hai năm. Sư T đi tu từ năm 20 tuổi. Sư T trông rất trẻ, người hơi mập, trắng trẻo, mặc cà sa quấn màu vàng nghệ. Chúng tôi chào hỏi sư và trình bày cho sư về mục đích chúng tôi muốn gặp sư là mong được sư cung cấp những thông tin có liên hệ với thiết chế xã hội truyền thống của người Khmer.
Các sư trong chùa đi lấy bát hằng ngày, trừ bốn ngày trong tháng người dâng cơm vào chùa nên không đi, thời gian khoảng 9h30, các sư được chia theo tổ để đi lấy bát. Chùa có 28 vị sư hiện nay còn 11 sư ở lại chùa, 17 sư khác đi học ở nơi khác.  Chùa có 12 tì khưu còn lại 16 là sa di. Trong tổ chia ra hai sư đi một tuần, lúc sư nhiều thì đi hết bảy wện,  nhưng sư ít thì đi hai wện  là wện ba và wện bn thôi vì 2 wện này gần chùa. Xa di đi lấy bát từ tổ hai đến tổ sáu, tì khưu đi ngược lại bắt đầu từ tổ sáu (tổ=wện).
Ban quảng trị là người bầu trưởng wện, cũng như ban quản trị, các trưởng wện có nhiệm kỳ ba năm nhưng có thể linh hoạt về thời gian. Trưởng wện là những người có công lo lắng cho chùa, cho sư và không cần thiết phải là người lớn tuổi. Vào dịp cúng ông Tà, ở mỗi wện hàng năm, người ta đều cầu bình an mưa thuận gió hòa, tránh bệnh hoạn. Thông thường, lễ này được làm vào mùa mưa. Trong dịp này, người dân cũng bầu luôn trưởng wện.
T  thắc mắc không biết kinh mà vừa nãy các sư đọc khi ăn cơm xong là tiếng gì? Thì sư T trả lời, kinh mà các sư tụng bắng tiếng Ba Ly. Lúc cầu kinh, khi các sư ăn cơm những người tu thiếp đổ nước xuống sàn có ý nghĩa gì? T lại thắc mắc. Sư T trả lời: nhằm thể hiện một điều mà mình nguyện ước. Chúng tôi hỏi thầy về hai bàn thờ trong chùa thì được sư trả lời: đây là bàn thờ những người xây dựng chùa, tháp cốt được xây dựng bên chánh điện là của các sư này, còn các tháp lớn nhỏ trên bàn thờ là chỉ tượng trưng thôi.
Buổi chiều, chúng tôi tới chùa B.S, thuộc ấp B.S dự lễ khánh thành sala. Khoảng 2h30 chúng tôi có mặt tại chùa, không khí ở nơi đây rất rộn ràng, có liên hoan, ăn cơm, văn nghệ, giới thiệu rất nhiệt tình. Ngoài sala được xây mới, thì các cơ sở còn lại của chùa đã cũ rồi. Trong chùa Ba So có hai cái tháp, các tình tiết hoa văn trong chùa rất đặc sắc, cầu kỳ. Ngôi sala mới xây được sơn màu vàng kim rất đẹp và rộng. Có hai hàng người gồm nam nữ thanh niên đứng đón khách từ ngoài cổng. Riêng các sư nơi chùa khác đến được đón tiếp rất long trọng. Các sư được hai sư che lọng và hai phụ nữ bê hoa rước vào trong sala. Đồng thời, người ta cũng mở những hồi nhạc rất trang trọng.
Vào trong ngôi sala, chúng tôi được tiếp nước uống, khách khứa đến dự rất đông và cơm được dọn ra để tiếp hết đoàn này đến đoàn khác.
Chúng tôi ra về khoảng 4h30 khi đã được dùng cơm chùa. Khoảng 6h tối, tôi đang tranh thủ viết nhật ký điền dã thì con út của bà K lên chơi, tôi nói chuyện với chị và chơi với em bé. Lúc đó, bà K cũng lên chơi. Bà K năm nay 72 tuổi có 11 người con, bốn người đã qua đời, chồng bà cũng đã qua đời. Những người con còn lại ai cũng có gia đình. Bà là một phụ nữ có mái tóc bạc ngắn, bà luôn mặc bộ đồ đen ngắn tay. Ở đây mấy ngày, tôi thấy bà làm việc suốt ngày, bà ít khi ngồi nghỉ trong nhà, và tôi cũng chưa thấy bà ngủ trưa bao giờ, bà chỉ ngồi bên bộ bàn ghế đá trong nhà và nhìn ra ngoài, hai hôm nay bà đều vậy. Bà là người lớn tuổi nhất trong dòng họ hiện nay và là trưởng phum hiện tại nhưng bà cho biết là khi hỏi về phum, dòng họ thì chị Út có nhắc bà. Chị con thứ bảy của bà tên là L. Hiện nay, chị đã có gia đình, hai con gái sinh đôi và là chủ tịch hội phụ nữ xã N.T. Chị cho biết số thông tin như: đất ăn chung (si chuôn khuê) là đất đai của dòng họ. Họ của ba chị là họ Kim, mẹ chị cư trú bên chồng vì trước đây ông nội mất không có ai coi nhà nên mới về đây.
Chị Lương 31 tuổi, ngoài là một chủ tịch hội phụ nữ xã với mức thu nhập 1,7 triệu / tháng chị còn là nghề kháp rượu. Một ngày, chị kháp 15 lít gạo (balon sữa bò gạo) cho ra 15 lít rượu với thời gian bốn-năm giờ, tiền lãi 40-50 ngàn (1lít= 10.000đ), chị Lương cho biết người Khmer không trọng nam khinh nữ như người Kinh, con gì cũng được hết. Câu chuyện đang dở dang thì tới giờ ăn cơm tối nên tôi tạm dừng lúc 6h45’.
(Còn tiếp)

25/05/2011
Trần Thị Thuỳ Trang
 
Support : Creating Website | Johny Template | Mas Template
Copyright © 2011. Bảo tàng Ký ức Xã hội - All Rights Reserved
Template Created by Nhật Nguyên Published by Nhật Nguyên
Proudly powered by Nguyễn Đức Lộc