Tin mới :

Latest Post

Hiển thị các bài đăng có nhãn Trường Sa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trường Sa. Hiển thị tất cả bài đăng

Phim tài liệu toàn tập về TS Nguyễn Nhã

Written By Hồ Nguyên Đức on 26/03/2012 | 10:50

Năm 1966, Sài Gòn chứng kiến sự ra đời của tập san Sử Địa mà người chủ trương là một chàng thanh niên 26 tuổi vừa tốt nghiệp hai trường đại học: sư phạm và văn khoa. Chín năm sau (20-1-1975), cũng chính người thanh niên ấy tổ chức một triển lãm tại Thư viện quốc gia kỷ niệm một năm ngày biến cố Hoàng Sa, trưng bày tất cả tài liệu, hình ảnh thể hiện chủ quyền Hoàng Sa là của VN.

Và đến 18-1-2003, 29 năm ngày biến cố Hoàng Sa, chàng thanh niên ngày xưa trình trước hội đồng bảo vệ luận án tiến sĩ tại Trường đại học KHXH&NV đề tài "Quá trình xác lập chủ quyền của VN tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa". "Với luận án tiến sĩ này, tôi thách thức các nhà nghiên cứu các nước, kể cả Trung Quốc (TQ), có một đề tài xác lập chủ quyền Hoàng Sa mang tính khoa học được như tôi", người đó là Nguyễn Nhã.

Lý luận của TS Nhã trong luận án của mình chặt chẽ đến mức TS Trần Đức Cường trong bài nhận xét của mình đã viết: "Tác giả đã sử dụng thành công phương pháp lịch sử và logic để nêu lên các luận điểm, luận cứ nhằm chứng minh chủ quyền của VN đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Cách lập luận của tác giả rất có sức thuyết phục. Việc sử dụng nhiều tài liệu của TQ để nêu rõ về chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa là của VN chứ không phải của Trung Quốc tỏ ra có hiệu quả...".

Đối với nghề, ông nhấn mạnh: "Lịch sử rất công minh và nghiêm khắc đối với bất cứ ai, kể cả người viết sử. Người viết sử mà viết sai thì hậu thế sẽ phê phán. Phương pháp của tôi là phê khảo tài liệu. Đây là một bước quan trọng. Phải áp dụng một số phương pháp nghiên cứu sử học để phê khảo tài liệu. Ngay cả những tài liệu của chính sử cũng phải tìm tài liệu cấp I. Người nghiên cứu phải khách quan, không thiên lệch".


Nguồn: Youtube

Trường Sa qua các chỉ dụ của triều đình nhà Nguyễn (kỳ cuối)

Written By kuxh on 02/10/2011 | 05:00

Châu bản triều Nguyễn, Bảo Đại năm thứ 13 (1939) ghi lại chỉ dụ số 10, ngày 29 tháng 2 năm Bảo Đại 13 (1939) về việc chuyển đội hành chính đảo Hoàng Sa “Chiếu chỉ các cù lao Hoàng Sa thuộc về chủ quyền nước Nam đã lâu đời và dưới các tiền triều, các cù lao ấy thuộc về địa hạt tỉnh Nam-Ngãi; đến đời đức Thế Tổ Cao Hoàng Đế vẫn để y như cũ là vì nguyên trước sự giao thông với các cù lao ấy đều do các cửa bể tỉnh Nam-Ngãi. Chiếu chỉ nhờ sự tiến bộ trong việc hàng hải nên giao thông ngày nay có thay đổi, vả lại, viên đại diện chính phủ Nam triều ủy phái ra kinh lý các cù lao ấy cùng quan đại diện chính trị bảo hộ có tâu rằng nên tháp các cù lao Hoàng Sa vào địa hạt tỉnh Thừa Thiên thời được thuận tiện hơn. Dụ (Độc khoản): trước chuẩn tháp nhập các cù lao Hoàng Sa vào địa hạt tỉnh Thừa Thiên; về phương diện hành chính các thù lao ấy thuộc dưới quyền quan tỉnh hiến Tỉnh ấy” (Công báo, số 8, năm 1938).
(Ảnh: minh họa- Nguồn: Internet)
Trên cơ sở đồng thuận với chủ trương Nam triều, ngày 5.6.1938, Toàn quyền Đông Dương Jules Brevie ký nghị định thành lập một đơn vị hành chính tại quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên. Đồng thời, cho dựng bia chủ quyền tại đảo Hoàng Sa, với dòng chữ: “République Francaise – Empire d’ Annam – Archipel des Paracels 1816 – Ile de Pattle 1983”. (Cộng Hòa Pháp – Vương quốc An Nam – Quần đảo Hoàng Sa 1816 – Đảo Hoàng Sa 1938).
Từ năm 1816, liên tục, định kỳ hằng năm, nhà Nguyễn cho đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ thủy quân, việc cắm mốc chủ quyền, dựng bia Trường Sa (thời kỳ này Trường Sa và Hoàng Sa là một).
Nguồn sử liệu về những chỉ dụ của vua và hoạt động của thủy binh nhà Nguyễn được ghi chép tỉ mỉ, rõ ràng trong bộ chính sử Đại Nam thực lục chính biên là chứng cứ không thể phủ nhận về chủ quyền Việt Nam.
Đại Nam thực lục chính biên, quyển 52, phần viết về các đời vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị ghi sự kiện Gia Long chiếm các đảo Hoàng Sa (gồm cả Trường Sa) năm 1816, sự kiện Minh Mệnh cho xây miếu, dựng bia, trồng cây, đo đạc, vẽ bản đồ các đảo này năm 1836.
Chính hoạt động lần đầu tiên của thủy quân nhà Nguyễn đã đánh dấu mốc thời gian rất quan trọng về việc tái xác lập và thực thi chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Dựa vào sự kiện này, những người phương Tây như Chaigneau, Taberd khẳng định vua Gia Long đã chính thức xác lập chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa. Thời nhà Nguyễn, nhất là thời Minh Mạng, hằng năm thủy quân đều ra Hoàng Sa, Trường Sa để vãng thám, đo đạc thủy trình, cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền, và tiến hành các hoạt động khác trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa… Lực lượng thủy quân làm nhiệm vụ xác lập và thực thi chủ quyền này là một “lực lượng đặc nhiệm” gồm kinh phái, tỉnh phái và dân binh địa phương trong đó có dân binh đội Hoàng Sa. Kinh phái- đứng đầu là thủy quân cai đội hay thủy quân chánh đội trưởng chỉ huy – hợp cùng với lực lượng thủy quân lấy trong vệ thủy quân đóng ở kinh thành ở cửa Thuận An (Huế). Ngoài thủy quân kinh phái còn có các viên giám thành trong vệ Giám thành, là những chuyên viên vẽ bản đồ. Tỉnh phái là các viên chức ở tỉnh Quảng Ngãi có nhiệm vụ phối hợp với kinh phái trong công tác hướng dẫn, cung cấp nhân công, lo xây dựng, đồng thời còn điều động dân binh ở tỉnh Quãng Ngãi. Có khi còn cả dân binh tỉnh Bình Định như trong các chuyến công tác năm 1835 và năm 1837. Nhiệm vụ của “lực lượng đặc nhiệm” luôn được Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị theo sát và ra chỉ dụ cụ thể. Điều này cho thấy đương thời các vua triều Nguyễn rất ý thức việc xác lập chủ quyền Việt Nam trên vùng biển đảo Trường Sa.
Trong quyển bốn của bộ Việt sử cương giám khảo lược được Nguyễn Thông biên soạn năm 1876, có đoạn viết về Trường Sa: “Vạn lí Trường Sa: Từ đảo Lý Sơn (tục gọi là Ngoại Lao, người  Trung Quốc gọi là Ngoại La tức Cù Lao Ré) đi thuyền về phía Đông, ba ngày ba đêm thì đến. Nước Việt Nam ta ở buổi quốc sơ thường kén những đinh tráng hai hộ An Hải và An Vĩnh mà đặt đội Hoàng Sa để đi kiếm lượm những vật ngoài biển, hằng năm cứ tháng  hai đi, tháng tám về. Bãi cát đăng từ phía đông mà sang phía nam, chỗ nổi lên chỗ chìm xuống, không biết mấy nghìn dặm. Ở trong có vũng sâu, thuyền có thể đậu được… ”.
Nguồn sử liệu khác ghi chép việc nhà Nguyễn đã xác định chủ quyền nhà nước Đại Nam tại vùng lãnh thổ này: Đại Nam nhất thống chí, quyển 6, đã ghi chép rằng trước năm Minh Mạng thứ 16, nhà vua sai quân lính ra dựng bia đá làm dấu đã thấy phía Tây Nam đảo có ngôi cổ miếu, không biết xây dựng vào thời đại nào và bia khắc bốn chữ: “Vạn Lý Ba Đình”. Như thế trước thời Minh Mạng đã có khắc bia, dựng miếu chùa rồi. Sách Đại Nam nhất thống chí, năm 1882, quyển 6, tỉnh Quãng Ngãi, phần Sơn Xuyên ghi: “Ở phía đông Lý đảo, huyện Bình Sơn, từ bờ biển Sa Kỳ chạy ra khơi, thuận gió, ba, bốn ngày đêm có thể đến. Trên đảo nhiều núi la liệt, tất cả hơn 130 ngọn, cách nhau hoặc một ngày đường, hoặc vài trống canh. Giữa đảo có bãi Hoàng Sa (Cát Vàng), bề dài kéo dài không biết mấy ngàn dặm, tục gọi là bãi Vạn lý Trường Sa, trên có giếng nước ngọt, hải điểu tụ tập nhiều, không biết bao nhiêu mà kể. Sản xuất nhiều hải sâm, đồi mồi, ốc hoa…”
Những bộ quốc sử do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn như Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí, Việt sử cương giám khảo lược đã ghi chép tỉ mỉ, chi tiết những chỉ dụ của triều đình đối với việc khảo sát, đo đạc, mô tả, bảo vệ, khai thác Bãi cát vàng (gồm Hoàng Sa và Trường Sa). Triều đình, quan lại, binh lính- những người được triều đình cử đi làm nhiệm vụ “xác lập chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo rất thông hiểu về khí hậu, thủy văn, động thực vật trên quần đảo, chính vì vậy nguồn chính sử mới có những thông tin phong phú cho người đời sau hiểu về hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.
Hiện nay, các nguồn tài liệu chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa rất phong phú, đang đươc lưu giữ tại các trung tâm lưu trữ quốc gia hay thư viện, tư gia của những nhà nghiên cứu, nhưng đông đảo người dân chưa hoặc không có điều kiện tiếp xúc trực tiếp. Việc đưa những tài liệu quý này ra để trưng bày là hình thức thông tin hữu ích đầy ý nghĩa, điều đó góp phần nâng cao nhận thức của nhân dân về chủ quyền lãnh thổ đất nước. Rất cần nhiều cuộc trưng bày về biển đảo Việt Nam. Như thế, nguồn tài liệu này giúp tăng thêm sự hiểu biết về cương vực đất nước và lòng tự hào dân tộc, nhất là cho giới trẻ.
Trần Hạnh Minh Phương
Nguồn:  Kỷ yếu Hội Thảo Khoa học văn hóa biển đảo ở Khánh Hòa

Trường Sa qua các chỉ dụ của triều đình nhà Nguyễn (kỳ 1)

Written By kuxh on 01/10/2011 | 05:00

Trường Sa qua các chỉ dụ của triều đình nhà Nguyễn là một mảng khá phong phú và hệ thống giúp chúng ta có thể hình dung được vai trò của triều Nguyễn trong việc khẳng định, bảo vệ chủ quyền, khai thác tài nguyên trên quần đảo Trường Sa và sự nguy hiểm của nhiệm vụ bảo vệ Trường Sa.

(Ảnh: minh họa- Nguồn: Internet)
Tờ lệnh của tộc hộ Đặng ở đảo Lý Sơn (tư liệu của TS. Nguyễn Đăng Vũ) được gia đình cất giữ hơn 200 năm. Tờ lệnh của vua Minh Mạng ban vào năm 1834 cử thủy binh Lý Sơn đi thu lượm sản vật ở Hoàng Sa (Trường Sa) và đo đạc, vẽ bản đồ. Trong đó, ghi rõ tên tuổi của những người tham gia chuyến này như Đặng Văn Siểm, Võ Văn Hùng, Võ Văn Công, Dương Văn Định, Ao Văn Trâm… Tờ lệnh cũng ghi rõ cách tổ chức binh thuyền thành hải đội nhiều chiếc, thời gian đi từ mùa biển êm sau tết và nhiệm vụ quan trọng của một số người như Võ Văn Hùng, Đặng Văn Siểm ở Lý Sơn là làm đà công (cầm lái) và dẫn đường.
Văn khao lề thế lính Hoàng Sa năm Tự Đức thứ 20 (1867): đội Hoàng Sa được lập dưới thời Chúa Nguyễn “ với 70 tân binh của hai làng An Vĩnh và An Hải đi bằng năm thuyền câu ra biển. Họ được cấp mỗi người sáu tháng lương và một chiếc chiếu, ba sợi dây mây, bảy nẹp tre và một thẻ bài để ghi danh tánh, để nếu rủi ro có xảy ra và thả xuống biển may ra nếu trôi dạt vào bờ có người vớt chôn và biết tên họ.” Dùng thuyền buồm để tuần tra canh phòng tại vùng biển quần đảo Hoàng Sa, cứ tháng hai âm lịch ra đi đến tháng tám âm lịch lại dong buồm trở về đảo Lý Sơn”. Hàng vạn binh phu đi làm nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc ít người qua được sóng to bão lớn quay về nhà bình yên. Triều đình cho soạn Văn khao lề thế lính Hoàng Sa để tưởng nhớ những binh phu hy sinh tính mạng bảo vệ tổ quốc.
Hiện nay, theo truyền thống, người dân trên đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) tổ chức lễ Văn khao lề thế lính Hoàng Sa, Trường Sa từ 16 đến 20 tháng 3 âm lịch hàng năm để tưởng nhớ, ghi công những người đã hy sinh bản thân mình vì nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc thiêng liêng. Văn khao lề thế lính Hoàng Sa không chỉ là một bằng chứng thể hiện hoạt động bảo vệ lãnh thổ quốc gia của triều đình nhà Nguyễn mà còn có ý nghĩa nhắc nhở hậu thế “uống nước nhớ nguồn”, Tổ quốc ghi công những con người dám xả thân vì tổ quốc. Văn khao lề thế lính Hoàng Sa còn cho thấy sự hy sinh gian khổ của dân tộc Việt Nam trong công cuộc bảo vệ lãnh thổ toàn vẹn quốc gia, bởi:
Hoàng Sa trời nước mênh mông
Người đi thì có mà không thấy về
Hoàng Sa mây ước bốn bề
Tháng hai khao lề thế lính Hoàng Sa.
Dù hiểm nguy, gian khổ, hy sinh mất mát, triều đình nhà Nguyễn và những binh phu Việt Nam (Đại Nam) luôn ý thức về việc bảo vệ vùng biển của tổ quốc.
Trách nhiệm hành xử của quốc gia đã đặt chủ quyền trên đảo được thể hiện trong hai Bản tấu của Thủ ngữ Đà Nẵng về việc cứu hộ thuyền buôn của tài phú Pháp Edouard bị nạn do vướng phải đá ngầm ở Hoàng Sa (đề ngày 27 tháng 6 năm Minh Mạng 11 (1830) “Thuyền buôn của tài phú Pháp Edouard, thuyền trường Đô-ô-chi-li, phái viên Lê Quang Quỳnh cùng thủy thủ đoàn, ngày 20 rời cảng Đà Nẵng đi Lữ tống (Lucon) buôn bán. Giờ Dần ngày 27, Edouard và 11 thủy thủ đi trên chiếc Sam bản lớn cập cảng nói rằng: Canh hai, đêm 21, ở phía Tây Hoàng Sa (xứ Cát Vàng) thuyền đụng đá ngầm bị ngập nước. Thuyền trưởng và phái viên còn đi sau. Cảng đã phái thuyền đem theo nước uống đi cứu hộ, giờ Ngọ đã gặp và đưa họ về cảng.”
Châu bản triều Nguyễn, từ năm 1830-1847 thuộc các triều Minh Mạng (1820-1840) và Thiệu Trị (1840-1847) đề cập trực tiếp đến địa danh Hoàng Sa, thuộc địa phận nước ta. Nội dung các châu bản cho thấy có sự thông tin rất thường xuyên giữa triều đình Nguyễn và quần thần thông qua các văn bản hành chính là dụ (chỉ thị của vua) và tấu (báo cáo của quần thần) về việc vẽ họa đồ, tuần tra, cắm cột mốc quần đảo Trường Sa, các hình thức thưởng, phạt đối với những người hoàn thành và không hoàn thành chức phận của mình.
 Trần Hạnh Minh Phương
Nguồn: Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Văn hóa biển đảo ở Khánh Hòa

Biểu tình chống Trung Quốc năm 2011

Written By kuxh on 19/06/2011 | 09:47

Tổng hợp những hình ảnh ấn tượng từ các cuộc biểu tình chống TQ tại Saigon và Hanoi vào các ngày Chủ Nhật 5,12,19 tháng 6/2011

Cuốn sổ lưu niệm của một cô gái ở Trường Sa

Written By kuxh on 03/07/2010 | 12:39

Trong chuyến công tác ra huyện đảo Trường Sa cuối tháng tư đầu tháng năm vừa qua, khi đến thăm trạm ra đa 11 của lực lượng phòng không không quân làm nhiệm vụ trên đảo, chúng tôi đã được một người lính tin cậy trao cho một kỷ vật đặc biệt. Đó là cuốn sổ lưu niệm đã úa mầu. Người lính trẻ đã tình cờ bắt gặp cuốn sổ khi về nhận nhiệm vụ tại đơn vị. Suốt nhiều ngày tháng qua, anh đã gìn giữ nâng niu cuốn sổ như kỉ vật thiêng liêng của chính mình. Anh phải suy nghĩ, cân nhắc rất nhiều trước khi quyết định trao tặng cuốn sổ lại cho chúng tôi, với mong muốn chúng tôi sẽ giúp anh tìm được chủ nhân của cuốn sổ để trao trả lại. Đây cũng là lời hứa của chúng tôi trước khi trở về đất liền.


Mở đầu cuốn sổ là những dòng tâm sự:

"Chiều ngày 20- 12 – 1985. Tôi từ giã gia đình. Tạm biệt bạn bè lên trường - sống cuộc đời học sinh. Từ đây những ngày dài tháng rộng bận rộn với những cuốn vở vui đùa đó là những chuỗi ngày xa nhà buồn nhớ. Cuộc sống tập thể đến với tôi lúc đầu còn bỡ ngỡ sau rồi năm tháng thời gian trôi đi tôi đã làm quen tất cả. Tôi sẽ cố gắng cùng mọi người sống hết 30 tháng trong trường dậy nghề Bộ nội thương I…"

Chiều buồn
Hà thành 10 – 5 – 1986


Nhìn chữ ký, chúng tôi dự đoán chủ nhân của cuốn sổ có tên Hậu, Thu Hậu, Thị Hậu hoặc Thanh Hậu vì chữ kí gồm chữ Th và Hau. Lật giở tiếp cuốn sổ Lưu Niệm, đến trang 30 chúng tôi bắt gặp dòng chữ “Thanh Hậu - Đừng vội bạn ơi”. Do đó suy đoán về tên chủ nhân của cuốn sổ có phần ngả theo hướng Thanh Hậu.

Cũng ở phần đầu cuốn sổ có ghi địa chỉ của 10 người, bao gồm:

Nguyễn Thị Tuyết Anh: Kính gửi chị Nguyễn Thị Bình, Lớp đại học chuyên tu khoá I, trường trung học công nghiệp nhẹ Hà Nam Ninh.

Bùi Thị Hồng Mai: Số nhà 13, tổ 10, phố Minh Khai, Thị xã Phủ Lý, Hà Nam Ninh.

Trần Thị Thu Hương: số nhà 25 A, Phù Long A, phường Trần Tế Xương, thành phố Nam Định.

Phạm Thị Thoa: số nhà 28 Phố Mới Ga phường Trần Đăng Ninh, thành phố Nam Định.

Đinh Thị Thắm: Kính gửi bố Đinh Văn Hùng, đội 6, khu 2, xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng, Hà Nam Ninh.

Trần Thị Hường: Đội 1 xã Nghĩa Thành, huyện Nghĩa Hưng, Hà Nam Ninh.

Nguyễn Thị Nhàn: thông Nguyên Ngoại, xã Ninh Nhất, huyện Hoa Lư.

Bùi Thị Liễu: xóm 5, thôn Phụng Công, xã Khánh Cuống, huyện Kim Sơn, Hà Nam Ninh.

Trần Thị Tho: Sơn Tiến, xã Trực Tĩnh, huyện Nam Ninh.

Nguyễn Thị Hoa: số nhà 51 A, khu tập thể Phù Long A, Phường Trần Tế Xương, Nam Định.

Theo danh sách địa chỉ trên, phần lớn đều ở Nam Định. Vậy liệu có phải chủ nhân của cuốn sổ cũng là người Nam Định? Địa chỉ 10 người có tên trên có phải là những người bạn học, hoặc bạn thân nhất của chị Thanh Hậu - chủ nhân cuốn sổ lưu niệm bị lưu lạc bấy lâu nay ở Trường Sa?

Lần giở theo cuốn sổ, tôi bắt gặp những cái tên Kim Cúc (địa chỉ bố: Đoàn Văn Mạo, Ban thanh tra - Sở nông nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc); Đặng Hồng Lan- đội 13 Cường Thắng, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá; Phùng Thị Thuỳ - thôn Khôn Pinh, xã Hoàng Việt, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.

Cuốn sổ lưu giữ nhiều mầu mực và nhiều nét bút khác nhau. Phần lớn đó là những bài thơ bạn bè sưu tầm và chép tặng nhau, hoặc những bài thơ tự sáng tác. Bởi vậy những câu chữ chân chất, mộc mạc và nhiều chỗ còn khá vụng về nhưng ấm áp tình cảm.

Đọc nhiều bài thơ mà chị Hậu chép trong cuốn sổ của mình, tôi có linh cảm người con gái này có một mối tình với  lính. Bài thơ Suy nghĩ yêu lính (trang 48) chị viết: “Tôi sẽ yêu một người lính bình thường nhất”.

Trang 50 của cuốn sổ có bài thơ Đêm mầu xanh, với những câu chữ đơn sơ mà rưng rưng cảm xúc:

"Đêm mầu xanh anh hành quân ra trận
Dưới tán lá rừng anh lại nhớ thương em

Trang 64, bài thơ Hứa hẹn chị viết:

"Một ngày sum họp hẹn mai sau
Em vẫn nguyện là cây xanh trên bãi cát
Đợi anh về hóng mát bóng cây xanh
Đợi anh về em nhé. Đợi anh về nghe em

Thời gian cuối cùng còn lưu lại trên cuốn sổ lưu niệm là năm 1988.

Vì sao cuốn sổ của một cô gái đất liền lại lưu lạc ra Trường Sa? Chủ nhân của cuốn sổ liệu có phải là Thanh Hậu như phỏng đoán của chúng tôi? Hơn hai mươi năm đã trôi qua, chị Hậu hiện đang sống và làm việc ở đâu? Ai có thông tin về chủ nhân của cuốn sổ trên xin vui lòng liên lạc về địa chỉ: toà soạn báo Tiền phong cuối tuần, 15 Hồ Xuân Hương, Hà Nội hoặc e-mail: tpcn06@gmail.com.

Phong Điệp
Nguồn: Tiền Phong cuối tuần, 15/5/2010

Cuốn sổ lưu niệm của một cô gái ở Trường Sa

Trong chuyến công tác ra huyện đảo Trường Sa cuối tháng tư đầu tháng năm vừa qua, khi đến thăm trạm ra đa 11 của lực lượng phòng không không quân làm nhiệm vụ trên đảo, chúng tôi đã được một người lính tin cậy trao cho một kỷ vật đặc biệt. Đó là cuốn sổ lưu niệm đã úa mầu. Người lính trẻ đã tình cờ bắt gặp cuốn sổ khi về nhận nhiệm vụ tại đơn vị. Suốt nhiều ngày tháng qua, anh đã gìn giữ nâng niu cuốn sổ như kỉ vật thiêng liêng của chính mình. Anh phải suy nghĩ, cân nhắc rất nhiều trước khi quyết định trao tặng cuốn sổ lại cho chúng tôi, với mong muốn chúng tôi sẽ giúp anh tìm được chủ nhân của cuốn sổ để trao trả lại. Đây cũng là lời hứa của chúng tôi trước khi trở về đất liền.


Mở đầu cuốn sổ là những dòng tâm sự:

"Chiều ngày 20- 12 – 1985. Tôi từ giã gia đình. Tạm biệt bạn bè lên trường - sống cuộc đời học sinh. Từ đây những ngày dài tháng rộng bận rộn với những cuốn vở vui đùa đó là những chuỗi ngày xa nhà buồn nhớ. Cuộc sống tập thể đến với tôi lúc đầu còn bỡ ngỡ sau rồi năm tháng thời gian trôi đi tôi đã làm quen tất cả. Tôi sẽ cố gắng cùng mọi người sống hết 30 tháng trong trường dậy nghề Bộ nội thương I…"

Chiều buồn
Hà thành 10 – 5 – 1986


Nhìn chữ ký, chúng tôi dự đoán chủ nhân của cuốn sổ có tên Hậu, Thu Hậu, Thị Hậu hoặc Thanh Hậu vì chữ kí gồm chữ Th và Hau. Lật giở tiếp cuốn sổ Lưu Niệm, đến trang 30 chúng tôi bắt gặp dòng chữ “Thanh Hậu - Đừng vội bạn ơi”. Do đó suy đoán về tên chủ nhân của cuốn sổ có phần ngả theo hướng Thanh Hậu.

Cũng ở phần đầu cuốn sổ có ghi địa chỉ của 10 người, bao gồm:

Nguyễn Thị Tuyết Anh: Kính gửi chị Nguyễn Thị Bình, Lớp đại học chuyên tu khoá I, trường trung học công nghiệp nhẹ Hà Nam Ninh.

Bùi Thị Hồng Mai: Số nhà 13, tổ 10, phố Minh Khai, Thị xã Phủ Lý, Hà Nam Ninh.

Trần Thị Thu Hương: số nhà 25 A, Phù Long A, phường Trần Tế Xương, thành phố Nam Định.

Phạm Thị Thoa: số nhà 28 Phố Mới Ga phường Trần Đăng Ninh, thành phố Nam Định.

Đinh Thị Thắm: Kính gửi bố Đinh Văn Hùng, đội 6, khu 2, xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng, Hà Nam Ninh.

Trần Thị Hường: Đội 1 xã Nghĩa Thành, huyện Nghĩa Hưng, Hà Nam Ninh.

Nguyễn Thị Nhàn: thông Nguyên Ngoại, xã Ninh Nhất, huyện Hoa Lư.

Bùi Thị Liễu: xóm 5, thôn Phụng Công, xã Khánh Cuống, huyện Kim Sơn, Hà Nam Ninh.

Trần Thị Tho: Sơn Tiến, xã Trực Tĩnh, huyện Nam Ninh.

Nguyễn Thị Hoa: số nhà 51 A, khu tập thể Phù Long A, Phường Trần Tế Xương, Nam Định.

Theo danh sách địa chỉ trên, phần lớn đều ở Nam Định. Vậy liệu có phải chủ nhân của cuốn sổ cũng là người Nam Định? Địa chỉ 10 người có tên trên có phải là những người bạn học, hoặc bạn thân nhất của chị Thanh Hậu - chủ nhân cuốn sổ lưu niệm bị lưu lạc bấy lâu nay ở Trường Sa?

Lần giở theo cuốn sổ, tôi bắt gặp những cái tên Kim Cúc (địa chỉ bố: Đoàn Văn Mạo, Ban thanh tra - Sở nông nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc); Đặng Hồng Lan- đội 13 Cường Thắng, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá; Phùng Thị Thuỳ - thôn Khôn Pinh, xã Hoàng Việt, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.

Cuốn sổ lưu giữ nhiều mầu mực và nhiều nét bút khác nhau. Phần lớn đó là những bài thơ bạn bè sưu tầm và chép tặng nhau, hoặc những bài thơ tự sáng tác. Bởi vậy những câu chữ chân chất, mộc mạc và nhiều chỗ còn khá vụng về nhưng ấm áp tình cảm.

Đọc nhiều bài thơ mà chị Hậu chép trong cuốn sổ của mình, tôi có linh cảm người con gái này có một mối tình với  lính. Bài thơ Suy nghĩ yêu lính (trang 48) chị viết: “Tôi sẽ yêu một người lính bình thường nhất”.

Trang 50 của cuốn sổ có bài thơ Đêm mầu xanh, với những câu chữ đơn sơ mà rưng rưng cảm xúc:

"Đêm mầu xanh anh hành quân ra trận
Dưới tán lá rừng anh lại nhớ thương em

Trang 64, bài thơ Hứa hẹn chị viết:

"Một ngày sum họp hẹn mai sau
Em vẫn nguyện là cây xanh trên bãi cát
Đợi anh về hóng mát bóng cây xanh
Đợi anh về em nhé. Đợi anh về nghe em

Thời gian cuối cùng còn lưu lại trên cuốn sổ lưu niệm là năm 1988.

Vì sao cuốn sổ của một cô gái đất liền lại lưu lạc ra Trường Sa? Chủ nhân của cuốn sổ liệu có phải là Thanh Hậu như phỏng đoán của chúng tôi? Hơn hai mươi năm đã trôi qua, chị Hậu hiện đang sống và làm việc ở đâu? Ai có thông tin về chủ nhân của cuốn sổ trên xin vui lòng liên lạc về địa chỉ: toà soạn báo Tiền phong cuối tuần, 15 Hồ Xuân Hương, Hà Nội hoặc e-mail: tpcn06@gmail.com.

Phong Điệp
Nguồn: Tiền Phong cuối tuần, 15/5/2010

Những hình ảnh mới nhất về cuộc biểu tình chống Trung Quốc

Written By kuxh on 09/12/2007 | 09:40


TỪ HÀ NỘI…
…ĐẾN TP.HCM
NHỮNG HÌNH ẢNH ĐỌNG LẠI
(CườngDog sưu tầm)
 
Support : Creating Website | Johny Template | Mas Template
Copyright © 2011. Bảo tàng Ký ức Xã hội - All Rights Reserved
Template Created by Nhật Nguyên Published by Nhật Nguyên
Proudly powered by Nguyễn Đức Lộc