Tin mới :

Latest Post

Hiển thị các bài đăng có nhãn Trần Bạch Đằng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trần Bạch Đằng. Hiển thị tất cả bài đăng

Cuộc đời và ký ức (kỳ cuối:) Tôi làm báo

Written By kuxh on 09/08/2010 | 15:20

Đây là một hồi ký về báo chí của cá nhân tôi. Không có gì phải trình bày thêm, bởi tôi đã cố gắng ghi lại nét chính hoạt động báo chí của mình.

Kỳ 1: Tháng ngày trôi dạt
Kỳ 2: Bước vào lò luyện thép
Kỳ 3: Người tù ở bót Catinat 
Kỳ 4: 200 ngày mất tự do

[caption id="attachment_1281" align="aligncenter" width="405" caption="Đồng chí Trần Bạch Đằng và tờ báo Giải Phóng - Ảnh tư liệu"][/caption]

Chưa bao giờ tự cho mình là nhà báo chuyên nghiệp, tôi vẫn xem báo chí là trận địa mà tôi ưa thích và viết báo với tất cả hứng thú sẽ cùng đi với tôi đến khi tôi không còn viết được nữa


Làm chủ bút Nhân Dân Miền Nam

Một ngày cuối năm 1951, tôi được Thường vụ Trung ương Cục gọi đến. Cơ quan tôi - Đoàn Thanh niên cứu quốc Nam bộ - đóng trên kinh Mười Phải, gần Rau Dừa (thuộc Cà Mau), còn Trung ương Cục đóng ở hạ lưu sông Đốc. Anh Nguyễn Văn Kỉnh, thường trực Trung ương Cục, trao cho tôi quyết định thay anh Lưu Quý Kỳ làm chủ bút tờ Nhân Dân Miền Nam, anh Kỳ thay anh Nguyễn Văn Nguyễn làm giám đốc Sở Thông tin, anh Kỉnh - chủ nhiệm tờ báo - chẳng nói thêm với tôi điều gì dù quyết định này hoàn toàn bất ngờ đối với tôi.

- Vậy các công việc mà tôi đang phụ trách thì sao?

- Chú mày kiêm nhiệm!

Anh trả lời dè sẻn như thói quen. Tôi biết anh từ sau ngày Nhật đảo chính Pháp - thoát khỏi khám tử tù, anh tham gia Xứ ủy và trực tiếp phụ trách Thành ủy Sài Gòn thay anh Nguyễn Oanh. Bấy giờ tôi công tác ở Ngã Sáu nên gặp anh; anh rất ít nói.

Trong đầu tôi, việc bố trí công tác cho ổn là rất khó - tôi đang làm xứ đoàn trưởng Thanh niên Cứu quốc Nam bộ do đại hội bầu, vừa làm phó Ban dân vận, phó đoàn kiểm tra Trung ương Cục, phó Ban tuyên huấn. Trong các ngành đó, tôi gần như phải thường trực Đoàn Thanh niên cứu quốc và Ban tuyên huấn.

- Chú cho ra một tờ Tiểu Thuyết Nhân Dân và chịu trách nhiệm tờ Việt Xô...

Anh lạnh lùng ra lệnh.

Biết là không thể cựa được, tôi rời cơ quan Trung ương Cục với bao nhiêu lo lắng, sang chỗ anh Lê Đức Thọ. Bấy giờ, Đại hội Đảng đã họp ở Việt Bắc. Đảng ta ra công khai (sau thời gian “tạm giải tán” cuối năm 1945) với tên Đảng Lao động Việt Nam. Trung ương Cục miền Nam thay cho Xứ ủy, gồm đồng chí Lê Duẩn, bí thư; Lê Đức Thọ, phó bí thư; Phạm Hùng, Ung Văn Khiêm, Hà Huy Giáp, Nguyễn Văn Kỉnh, ủy viên.

Nghe tôi trình bày, anh Thọ bảo: “Công việc thanh niên sẽ do cậu Nguyễn Văn Chí lo, nhưng cậu không được lơ là, còn các việc khác Trung ương Cục đã bàn, không thể thay thế được. Cậu có gặp anh Ba (đồng chí Lê Duẩn) vẫn thế thôi. Cố mà làm!”.

Ra báo thì phải có nhà in. Trung ương Cục đã quyết định đặt nhà in Trần Phú - nhà in lớn nhất vùng giải phóng Nam bộ - dưới quyền sử dụng của tôi (nhưng không trực thuộc tôi về hành chính mà do Ban quản trị Trung ương Cục phụ trách).

Nhà in có cả chục máy to, nhỏ từ Pédale đến Yoda, hàng tấn chữ, có bộ phận cliché, một đội phát hành hùng hậu. Giám đốc nhà in là một đồng chí kỳ cựu - đồng chí Xích Hồng - và các cán bộ năng động. Nhà in Trần Phú tự túc hoàn toàn trong đời sống, vừa làm ruộng vừa chăn nuôi, chài lưới, mức sinh hoạt khá cao. Đã có máy điện cho sản xuất.

Tôi yên tâm được một bề. Còn tòa soạn? Thật gay. Trước đây, Nhân Dân Miền Nam ra hằng tháng, tôi chủ trương ra nhật kỳ. Đồng chí trưởng ban quản trị Trung ương Cục chỉ nói: “Tùy anh, song tôi không bù lỗ...”.

Làm sao đây? Tôi mời đồng chí Tô Hòa, bấy giờ là chánh văn phòng Thanh niên Cứu quốc Nam bộ, đồng chí Việt Hùng (Hùng Lý) bấy giờ là cán bộ trong Ban thiếu nhi của Thanh niên Cứu quốc, đồng chí Tô Dự, cán bộ Đoàn, họa sĩ, Nguyễn Hải Trừng và Nguyễn Văn Mười (học Đại học Mỹ thuật Hà Nội), tập hợp luôn anh Phùng Lượng (Khương Hữu Thành, cán bộ lâu năm của Đảng), Lê Văn Diệu (sinh viên)... cùng trao đổi, có anh Nguyễn Văn Chí và Cao Ngọc Thọ của Đoàn Thanh niên cứu quốc.

Rồi thì ban biên tập báo Nhân Dân Miền Nam cũng hình thành. Nhân Dân Miền Nam ra nửa tháng một kỳ, sau này, mỗi tuần một kỳ.

Tôi chuyên viết xã luận, bình luận.

Báo Nhân Dân Miền Nam kèm phụ san Tiểu Thuyết Nhân Dân. Tây đầu đỏ và Bên rừng Cù lao Dung của Phạm Minh Tày (Sơn Nam), Chiến đấu viên họ Trần của Việt Hùng (Hùng Lý) trong danh sách này. Việt Xô ra vài số, tôi chủ nhiệm, ký tên Trương Chí Công.

Các cán bộ của Nhân Dân Miền Nam rất vất vả. Bài vở xong, họa sĩ trình bày xong, phải chèo xuồng đến nhà in, cách cả ngày đường.

Chúng tôi quyết định “lấy thu bù chi”, hồi đó chưa có khái niệm kinh doanh. Nhân Dân Miền Nam xuất hiện trên các ngã ba sông, bán hẳn hoi. Nhà in phấn khởi và tòa soạn cũng “thơm lây”. Nhà in có đội hỏa tốc, báo ra lò là chèo cật lực đưa tận nơi - vùng giải phóng Tây Nam bộ rất rộng, gồm tỉnh Bạc Liêu (Minh Hải sau này), Sóc Trăng, Rạch Giá, Cần Thơ.

Tôi chủ trương: báo bán chứ không “kính biếu”. Do đó, nhuận bút cho các tác giả đạt mức “cacao, cà phê sữa, thuốc Cotab”! Vì báo tăng kỳ, vòng quay nhanh, phóng viên chạy “toát mồ hôi”.

Bài viết thay suy nghĩ

Sau 30-4-1975, với trách nhiệm thường trực Ban tuyên huấn Trung ương Cục, tôi liên quan chặt chẽ với báo chí thành phố. Công việc khá bề bộn. Cho Đài Truyền hình phát sóng, đưa Đài phát thanh Giải Phóng thay cho Đài Sài Gòn, Thông tấn xã Giải phóng thay Việt Tấn xã, xuất bản gấp tờ Giải Phóng rồi Sài Gòn Giải Phóng...

Do yêu cầu thúc bách, ngoài việc chỉ đạo tuyên huấn và báo chí ở Sài Gòn và Nam bộ, tôi phải viết hằng ngày cho các báo như Sài Gòn Giải Phóng, Đại Đoàn Kết, Văn Nghệ, Tin Sáng, Công Giáo & Dân Tộc, sau này, thêm Tuổi Trẻ, Công An. Đó là thời kỳ rất bận rộn.

Đầu năm 1977, trung ương điều động tôi ra Hà Nội. Bấy giờ sức khỏe của tôi rất xấu - xấu hơn lần phụ trách Đảng ủy Tiền phương Nam trong trận Mậu Thân mà tôi phải nghỉ gần một năm.

Ra Hà Nội, tôi được trung ương cho đi nghỉ ở Liên Xô, lúc trở về, vào Trường Nguyễn Ái Quốc nghiên cứu bộ Tư bản của Mác tám tháng, lại đi nghỉ kết hợp chữa bệnh ở Hung và Đức.

Những khoảng xen kẽ giữa nghỉ và nghiên cứu này, tôi tranh thủ đi các nơi ở miền Bắc - gần như tôi đã đi hầu hết các huyện ở Bắc bộ, kể cả Mèo Vạc, Điện Biên, Hồ Ba Bể, Bản Trang, nhiều lần đi Vũ Thắng.

Tôi viết một số bài ký đăng trên báo Nhân Dân, một số bài thơ. Đây là cơ hội giúp tôi hiểu đất nước, con người ở một vùng rộng lớn mà từ bé tôi chưa tiếp cận. Đây cũng là cơ hội giúp tôi làm quen với mảng chủ đề quan trọng hàng đầu của nước ta mà trong quá khứ tôi chưa thạo - mảng kinh tế.

Tôi trở lại TP.HCM cuối năm 1978. Lúc này kinh tế nước ta gặp khó khăn gay gắt, thiên tai dồn dập, Pol Pot phá rối biên giới Tây Nam, vụ “nạn kiều” và sau đó chiến tranh xâm lược biên giới phía Bắc cùng chuyện “thuyền nhân” đẩy chúng ta vào chỗ khốn đốn. Tôi liên tục viết trên báo Sài Gòn Giải Phóng và Tin Sáng các bài chống lại kẻ thù, động viên ý chí và tinh thần nhân dân.

Sau đó, tôi được chuyển sang Ban Dân vận trung ương. Công việc lại chẳng nhẹ nhàng. Tuy nhiên, tôi không rời trận địa báo chí. Với trách nhiệm phụ trách thường trực Ban Dân vận trung ương, tôi đi lại nhiều và mỗi chuyến đi tôi ghi thành bài báo, phần lớn đăng trên báo Nhân Dân. Cũng vào thời gian này, tôi viết hai tiểu thuyết, đều in và chuyển thành kịch bản điện ảnh: Ván bài lật ngửa là kịch bản phim truyện dài hơi (8 tập) đầu tiên của điện ảnh nước ta.

Từ năm 1985, tôi không phụ trách, lãnh đạo, quản lý nữa mà chuyên viết và nghiên cứu. Tôi vẫn tiếp tục đi đây đó, bây giờ đi thêm nhiều nước.

Các bài viết của tôi đăng ở các báo trong nước lẫn báo tỉnh thay tôi nói về thực tế hoạt động báo chí và suy nghĩ của tôi.

Trần Bạch Đằng
Nguồn: Tuổi Trẻ

200 ngày đêm mất tự do

Written By kuxh on 26/07/2010 | 00:12

[caption id="attachment_1281" align="alignright" width="200" caption="Họp Khu ủy Sài Gòn - Gia Định chuẩn bị Mậu Thân - Ảnh tư liệu"][/caption]

27 tháng 9 năm 1949: Hơn 100 tù binh, trong đó có anh Quyền, tôi, anh Thìn, anh Sơn... bị giải về Phú Lâm. Nguyên đó là cái đồn, xây dựng từ thời Pháp mới chiếm nước ta. Bây giờ, đồn được phủ đất lên trên nóc, xây lô cốt, chòi canh. Tù binh thì nhốt dưới đồn. Chúng tôi thật sự lọt vào một cái hang giữa lòng đất.

Kỳ 1: Tháng ngày trôi dạt
Kỳ 2: Bước vào lò luyện thép
Kỳ 3: Người tù ở bót Catinat 

Địa ngục hãi hùng


Cảm giác đầu tiên của tôi là ngộp thở. Bốn phía bít bùng, ánh sáng lờ mờ. Một địa huyệt. Xung quanh đồn có hàng rào kẽm, có bãi lựu đạn, có hào rộng. Ngoài đồn là một cánh đồng rộng, cách xóm phía tây và nam gần ba cây số. Ở xóm, theo anh em cho biết, là bàn đạp của kháng chiến. Phía đông và bắc của đồn giáp chợ Phú Lâm và đường quốc lộ.

Tới nơi, tôi hỏi han về tình hình ở đây. Anh em cho biết: Trước đây, quân ta tấn công khám này để mong giải thoát cho tù, nhưng không thành công. Gần đây, có một vụ vượt ngục qui mô, đến 200 người thoát, nhờ sự đồng tình của lính Bắc Phi.

Mới 5 giờ sáng, đã có chuông báo thức. Tất cả tù tập hợp trên nóc đồn để lãnh việc. Một số ít người đau, yếu, ở hẳn lại lo vệ sinh trong khám, còn tất cả phải đi làm phu các cơ sở nhà binh.

Tôi đi làm ở thành Lê Dương. Khuân, vác, cưa, đục, nhổ cỏ... Trưa, tù ăn tại chỗ làm, chiều tối mới về. Ăn cơm gạo lức, khô mục.

21 tháng 10: 100 tù ở khám Phú Lâm được lệnh chuyển xuống căng ở Mỹ Tho, trong đó có tôi. Anh Quyền, ông Nhượng ở lại.

22 tháng 10: Cái lò gạch cũ bên bờ một con rạch tại Châu Thành (Mỹ Tho) được dùng làm trại giam tù binh. Đồng bào gọi đó là khám số 7. Giám đốc trại giam là ách Tuyết. Nhưng, cai sếp Baranger, người Pháp, mới thật sự là giám đốc. Ký là tay chân cật ruột của Baranger. Ký bố trí một lưới gián điệp sâu, rộng trong hai trại nam, nữ ở khám số 7.

Bọn gián điệp theo dõi lời ăn tiếng nói của từng tù binh, hễ ai phản đối Tây là bị hãm hại liền. Cứ vài hôm, một tù binh nửa đêm bị đem đi thủ tiêu. Hành vi giết người đó cứ tiếp tục mãi, từ ngày lập khám số 7 đến giờ. Tù binh còn bị thủ tiêu trắng trợn hơn: Baranger bắn chết tù binh giữa ban ngày với lời kết luận đơn giản: toan vượt ngục.

500 con người sống chung đụng mà tuyệt đối không ai nói chuyện riêng với nhau. Ban đêm, gián điệp đi rình, nghe có ai rù rì không. Hễ ai bị bọn gián điệp mách là “hội nghị” thì nếu không bị chết cũng bị ngủ xà lim cả tháng.

Không khí chẳng khác gì Catinat, nhưng nó còn gớm ghiếc hơn Catinat nữa. Ngoài những âm mưu ám hại tù binh lẻ tẻ, Tây thực hiện thủ đoạn hoàn toàn trái với công pháp tù binh quốc tế: buộc tù binh đi trước trong các trận càn quét. Tôi là một trong những nạn nhân của thủ đoạn đó, sau một lúc vào khám.

Nhưng sự hãi hùng ở khám số 7 không phải chỉ có bấy nhiêu. Sanh mạng tù binh do ách Tuyết, cai sếp Baranger và cai tù Ký định đoạt. Sanh mạng tù binh lại do chiến cuộc định đoạt. Lúc ở Catinat, tôi nghĩ rằng đi căng là thoát.

Bây giờ, tôi mới hiểu căng chính là lò sát sanh qui mô mà mạng của tù binh mỏng manh như sợi chỉ. Không đêm nào tù ở khám số 7 yên giấc. Nghe tiếng giày sột soạt, tất cả đều bừng dậy. Nhưng không ai dám trở mình, chỉ mở mắt ngó nhau. Ai sẽ chết đây?

Tất nhiên, tù binh muốn trốn lắm. Làm sao trốn đây? Bốn bề canh tuần chặt chẽ, không thể nào lọt qua nổi.

Ban giải phóng tù binh và “bản tuyên bố”

2 tháng 11: Ách Tuyết cho hay một giờ trưa nay, 100 tù sẽ chuyển xuống Gò Công. Tôi ở trong số đó. Xe vừa dừng ngang cửa khám Gò Công, chúng tôi chưa kịp xuống thì từ sau, roi vụt tới tấp. Chúng tôi phải nhảy đại, nhiều anh em trầy tay, lác đầu gối…

Tây lùa chúng tôi vào khám. Lúc đó đã chiều. Thế mà sau khi điểm danh xong, 100 tù mới phải ra mắt chúa ngục Gò Công bằng một công việc đặc biệt: móc dãy ống cống chung quanh khám. Bọn chúa ngục triệt để “hợp lý hóa” sử dụng lao động!

4 tháng 11: Sáng ra, chúa ngục cho hay cần 50 người tình nguyện đi Đồng Sơn.

Tôi xin đi. Số tù cũ e ngại. Sau này, tôi mới rõ là Đồng Sơn nổi tiếng thủ tiêu tù. Nhưng, Đồng Sơn lại gần vùng tự do, có khả năng tìm đường vượt ngục.

Xe chở chúng tôi trở lại đường về Mỹ Tho rồi rẽ qua Đồng Sơn, ngừng trước cửa một lâu đài to lớn, nhà của một viên hội đồng tên tuổi lừng lẫy ở Gò Công.

6 đến 7 tháng 11: Làm cái lô cốt này đến cái lô cốt khác. Nhiều anh em đã nhuốm bệnh. Tương lai mù mịt.

Theo tin nghe được, chúng tôi phải làm 50 cái lô cốt. Và, đã xảy ra một số cuộc chạm súng quanh vùng giữa du kích và bọn Pháp, bọn ngụy. Như tên đại úy chỉ huy trưởng Đồng Sơn cảnh cáo, chưa biết hôm nào chúng tôi bị bắt. Lính Việt cho biết bốn trong tám anh em bị giữ ở Đồng Sơn đã chết “thường mạng” cho hai thằng lính Tây.

Nhiều anh em muốn trốn. Tôi khuyên anh em: Đừng trốn lẻ tẻ; một người trốn thì một người trong anh em bị bắn. Tôi đã nghĩ cách cho toàn thể khám có thể vượt ngục.

Ngày giờ đã có thể chọn: Đêm 11 tháng 11 - Lễ chiến thắng Đức 1918 của Pháp (Fête de la Victoire). Ngày 11 tháng 11 hằng năm, Pháp đều tổ chức duyệt binh, chè chén, sự canh phòng nhất định sơ hở. Tuy có một chút bất tiện, ngày đó trăng mọc hơi sớm. Nhưng, không còn ngày nào tốt hơn.

Tôi đã định hướng được nơi chúng tôi phải đến.

Còn một khó khăn: chúng tôi thiếu dụng cụ đục tường. Tôi dặn anh em tìm xà beng hoặc dao, hoặc thứ gì có thể cạo lớp ximăng, kín đáo mang vào khám.

Tôi giao anh Sơn cùng một tổ nghiên cứu kỹ rào, bãi kẽm gai, chỗ gài lựu đạn và họ phải tìm cách gỡ lựu đạn, cắt rào. Những người trong tổ nguyên là lính trinh sát.

8 tháng 11: Tối nay, tôi họp từng nhóm nhỏ anh em, định kế hoạch vượt ngục. Kế hoạch đại cương đã định xong và một ban giải phóng tù binh được thành lập, tôi làm chủ tịch.

11 tháng 11: Chúng tôi định 11 giờ sẽ ra. Tôi thảo một “bản tuyên bố” để lại. Dưới ánh đèn cầy, tôi viết trên một tờ giấy trắng mấy dòng. Đại khái, chúng tôi cho biết vì chế độ nhà tù hà khắc và vì bổn phận chúng tôi còn phải tiếp tục chiến đấu, nên chúng tôi vượt ngục.

Chúng tôi cám ơn anh em binh sĩ người Việt và “hẹn gặp bọn Tây ở chiến trường”! “Tuyên bố” mang chữ ký của tôi với danh xưng: Chủ tịch Ủy ban giải thoát tù binh khám Vĩnh Lợi.

Gần 11 giờ, tường đã thủng một lỗ nhỏ. Gió mát lùa vào. Ngó ra ngoài, tôi thấy một vòm trời đen đục. Tim chúng tôi đánh mạnh. Trong gang tấc hoặc chết, hoặc tự do. Bỗng có tiếng giày. Anh em giả như ngủ say. Đèn pin bấm vào khám như thường lệ và tiếng giày xa dần rồi im hẳn.

Ngày quang đãng

11 giờ, toán xung kích ra đầu. Toán này có trách nhiệm vẹt rào, cắt kẽm gai, gỡ lựu đạn, dọn đường cho anh em. Mỗi người cột áo lên cổ, nhận nhau qua khẩu hiệu “Ai? Áo cột cổ”. C. và ông già ra tốp đầu. Tôi ra gần sau cùng.

Cái lỗ hơi nhỏ, bụng và lưng tôi trầy trụa. Chúng tôi leo qua công sự, tụt xuống hào nước. Lỗ châu mai đen ngòm của hai lô cốt như chăm chỉ ngó tôi. Tôi hơi ngán. Lúc đó, trăng sắp mọc.

Lối 12 giờ, 42 tù nhân khám Vĩnh Lợi tập họp nghỉ trên bờ tre, cách đồn chừng hai cây số. Tới đây, chúng tôi hoàn toàn tin chắc mình đã thoát. Nhiều anh em ôm tôi, khóc mướt. Tôi tựa lưng vào một gốc cây, rút điếu Golden Club, hút một hơi. Điếu thuốc ngon kỳ lạ. Tôi ra khỏi khám chỉ với cái quần ngắn, áo thun quấn gói thuốc và hộp quẹt cho khỏi ướt khi lặn qua hào nước.

Gà gáy sáng. Chân trời đỏ rực, báo một ngày quang đãng. Tiếng trống vang lên ở đầu xóm: ngày lễ kỷ niệm Liên đoàn Thanh niên dân chủ thế giới.

Chúng tôi không ở Bình Phục Nhứt, đề phòng địch truy kích, mà sang Quơn Long. Và tại đây, mỗi người chọn hướng về đơn vị của mình.

Mấy hôm sau, tôi về đến Tỉnh ủy Mỹ Tho và sau đó về Xứ ủy. Đồng chí Ung Văn Khiêm báo với tôi: Đài Pháp Á đọc “Bản tuyên bố” của chúng tôi.

8 tháng 4 đến 10 tháng 11: Bảy tháng lẻ hai ngày. Từ Vạn Giả, ải địa đầu tiên đến Vĩnh Lợi, chặng chót, tôi đã sống hơn 200 ngày đêm mất tự do.

Tôi ghi vội những trang này khi về đến vùng tự do khu 9. Cách đây mấy hôm, Thường vụ Xứ ủy mừng tôi: đồng chí Lê Duẩn, Ung Văn Khiêm, Nguyễn Văn Kỉnh, Nguyễn Văn Cúc… tại trụ sở Xứ ủy đóng ở Đường Sân (Chắc Băng) thuộc huyện Hồng Dân. Tôi biết, trước mặt tôi, những người anh không chỉ bị tù có 200 ngày.

Và, dù sao tôi vẫn còn sống. Tôi không nhớ bao nhiêu người cùng ở tù với tôi và mãi mãi không về…

Trần Bạch Đằng



Đây là một hồi ký về báo chí của cá nhân tôi.

Chưa bao giờ tự cho mình là nhà báo chuyên nghiệp, tôi vẫn xem báo chí là trận địa mà tôi ưa thích và viết báo với tất cả hứng thú sẽ cùng đi với tôi đến khi tôi không còn viết được nữa.

Kỳ tới: Tôi làm báo

Nguồn: Tuổi Trẻ

Trần Bạch Đằng – Cuộc đời và ký ức – Kỳ 3: Người tù ở bót Catinat

Written By kuxh on 12/06/2010 | 11:53

Có tất cả bốn tù binh VN bị phỏng vấn ở Phòng Nhì Sài Gòn. Sau đó, chúng tôi bị điệu ra xe camnhông và khoảng 15 phút sau, bốn người chia tay nhau vào nằm trong bốn xà lim của bót Catinat.

Kỳ 1: Tháng ngày trôi dạt
Kỳ 2: Bước vào lò luyện thép


Hà Nội, 1970


Trong lò sát sanh

Ông trời ở Catinat vuông vức, vì tù nhân ngó lên trên, chỉ thấy một khoảng mây xanh vuông. Trời càng trưa, trong khám càng nóng dữ dội. Hơi nóng từ sân ximăng bốc lên hừng hực, 400 con người nép sát vào tường, tìm một miếng bóng mát mỏng manh, ba culoa đen nghẹt. Từ trong hai phòng công cộng 7 và 12, hơi người nồng gắt dội ra. Người ta nằm sấp như cá mòi trong đó, mồ hôi tuôn ra như tắm.

Trời nắng cũng khổ mà trời mưa càng khổ hơn nữa. Sân khám không có nóc, mỗi lần mưa là tù ướt như chuột. Nhất là ban đêm, khi mưa xuống ai cũng ngồi chụm đầu vào nhau mà chịu trận.

Những người khỏe mạnh thì gắng chịu đựng. Nhiều anh chị em còn đang thời kỳ lấy khẩu cung, mình mẩy thương tích lở lói, phải sống vất vả như vậy nên không hôm nào là không có người chết. Thực dân Pháp đã biến bót Catinat thành một lò sát sanh, nơi mà mạng sống con người bị coi như cỏ rác.

Tên Bazin và hệ thống lính kín của y đã giết chết, gây thương tật cho hàng vạn người VN yêu nước. Chừng đó người mà mỗi bữa ăn chỉ có hai cần xé cơm, nửa cần xé rau muống (hay củ cải) và một thùng cá kho hoặc khô mục. Cái thùng đựng xăng sét gỉ, tanh lợm.

Bốn người tù chỉ lãnh được vài nắm cơm. Chẳng có cái gì đựng cơm, họ phải bọc trong khăn tay, trong quần, trong áo, thậm chí phải để dưới nền ximăng đẫm nước. Có nhiều khi để cho mau lẹ, chúa ngục vãi tưới cơm cho tù, mạnh ai nấy hứng như hứng nước mưa. Còn nước cá thì tù thò tay múc nước chan vào cơm vì chẳng có muỗng, gáo chi cả.

Bữa ăn nào cũng kèm theo dùi cui của lũ chúa ngục.

Viết đoạn hồi ký này, tôi tưởng không nên bỏ sót viên chúa ngục Thomas Bocal, người Việt vô dân Tây, sùng đạo Thiên chúa. Khác với bọn chúa ngục khác, Thomas đối xử tử tế với tù. Thomas là người duy nhất gọi tù bằng “anh”, trước cuộc “cách mạng” trong khám. Suốt thời gian ở Catinat, tôi chưa thấy Thomas đánh một người tù nào. Đó là chưa nói ông sốt sắng mang thư từ, tiền bạc, bánh trái của người nhà vào cho tù. Ban đêm lúc mấy chúa ngục khác ngủ, Thomas đi ra căngtin mua thuốc, bánh giùm tù. Tất nhiên, làm những việc đó, Thomas kiếm được một số tiền khá, dù vậy y cũng là người không đến nỗi quá tệ.

Đêm nay, tôi dựa lưng vào tường khám sơn một màu hắc ín đen thui như màu tang.

Tiếng chuông nhà thờ Đức Bà khoan thai báo 10 giờ đêm. Không biết anh bạn tù nào cất giọng ngâm bài thơ của Hồ Hải, tôi còn nhớ, lẩm bẩm:

Catinat, Catinat
Dã man, bỉ ổi, xót xa não nùng
Hỡi ai dạ sắt lòng trung
Đứng lên! Uất hận thấm dòng máu tươi
Ngoài kia dưới ánh mặt trời
Ngoài kia thành phố của người văn minh
Cách nhau một bức tường thành
Mà đây vẽ lấy vạn hình đau thương
Catinat, một khám đường.
Mà sừng sững trước giáo đường Giêsu!


Thường vào giữa đêm, tù đang ngủ, bỗng nhốn nháo thức dậy. Trên bàn giấy của chúa ngục, bọn lính đang dò số, kêu tên. Mỗi lần chừng bốn người. Và, bốn người này có đi mà không có trở lại. Họ từ từ bước ra khỏi khám, vẫy tay chào vĩnh biệt các bạn. Họ đi chết.

Hôm sau, báo sẽ đăng vắn tắt: “Ở cầu An Lạc (hay cầu Bình Lợi, hay cầu Tham Lương...) có bốn xác chết. Nhà chức trách đang mở cuộc điều tra”.

Nhiều trường hợp như vậy quá, báo không đăng xuể.

Người ta khảo, người ta chửi, người ta hành hạ, người ta dụ. Hầu hết tù chính trị Catinat cười lạt. Tôi cảm động và cảm phục vô cùng. Dưới ánh đèn sáng rực, ông đốc phủ dựa lưng vào ông bán trà Huế, ông xích lô gác chân lên bụng ông Cò mi.

Người tù con ông đốc phủ

Giới trí thức, giới tôn giáo và giới kháng chiến không ai không biết anh Nguyễn Ngọc Nhựt, con của đốc phủ Nguyễn Ngọc Tương, giáo chủ phái Cao Đài Chỉnh đạo Bến Tre. Nhựt là một kỹ sư cầu cống, nhiều năm du học ở Pháp, có vợ đầm.

Năm 1947, anh cùng các anh tiến sĩ Hoàng Xuân Nhị, kỹ sư Lê Tâm về nước và ra Đồng Tháp Mười kháng chiến. Anh được ông Tương ủy nhiệm thay mặt phái Cao Đài Chỉnh đạo trong Mặt trận Việt Minh và là ủy viên Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam bộ. Anh ruột của anh, kỹ sư Nguyễn Ngọc Bích, từng là phó khu trưởng Khu 9, bị Pháp bắt và trục xuất sang Paris.

Anh Nhựt rất hoạt động, vui vẻ và được mọi người yêu mến. Thế, tại sao anh lại bị bắt?

Tối đến, tôi kéo anh vào góc culoa để tâm sự, bấy giờ tôi mới biết trường hợp bị bắt của anh.

Ngày 1-6, anh đi dự đám cưới của một người bạn, kỹ sư Phạm Ngọc Thảo tại chợ Cái Bèo trong Đồng Tháp Mười. Sáng hôm sau, Tây nhảy dù và anh chậm chân, phải trốn dưới một đám lục bình. Tây lục soát kỹ, anh bị bắt cùng với một số người nữa.

Tây chở anh lên căn cứ không quân Búng, đưa về Phòng Nhì và hôm nay, đưa về bót Catinat. Tây hoàn toàn không biết gì về tông tích của anh. Anh khai tên là Nguyễn Văn Quyện, giáo viên làng Mỹ Quý. Vì vậy, Tây lơ lửng đối với anh. Anh bàn với tôi, anh sẽ đóng vai tuồng này để Tây sớm cho đi căng (trại tập trung). Tại căng, anh hi vọng trốn thoát, trở về tiếp tục kháng chiến.

Tôi xin dành mấy dòng để nói thêm về anh Nguyễn Ngọc Nhựt. Anh rất khỏe, người vạm vỡ, giỏi võ Anh, judo, giỏi cả võ ta. Tính anh hơi nóng. Lúc nào anh cũng đeo kính đen - có lẽ vì thần kinh anh không được tốt. Lúc đóng vai Quyện, thầy giáo làng, anh Nhựt hay xông xáo can thiệp nhiều vụ ở Catinat và thường hễ đụng độ với anh thì đối thủ - tất cả là thường phạm - đều bị anh nhanh chóng cho “đo ván”. Lên khám Thủ Đức, địch mua chuộc anh không được nên tổ chức khiêu khích, lăng mạ kháng chiến, anh đánh chúng, chúng đông hơn, vũ trang gậy gộc nên cuối cùng anh bị đánh chết.

Theo tôi, Nguyễn Ngọc Nhựt là một anh hùng, một tấm gương tiêu biểu lớn mà tất cả thế hệ phải nhớ, phải biết ơn.

Bệnh quai bị... đã hết

Đầu tháng 7. Một số anh em trao đổi với nhau về cách thoát.

Đột nhiên, một số tù mang bệnh ngặt. Anh Kiểm ho ra máu. Anh Tỏ phù thủng. Anh Thạnh ghẻ hòm. Tôi quai bị. Ho ra máu: ăn củ hành tàu với số lượng cao - ba bốn củ - và uống kèm sữa đặc. Phù thủng: bó bã đậu vào chân. Ghẻ hòm: bôi nước tím (pécmăngganát) đông đặc vào vài chỗ da non, chịu đau, thịt sẽ lở loét. Quai bị - loại bệnh mà Tây y cho là truyền nhiễm, phải cách ly 26 ngày: ngậm nước, phùng bên má, xát xà phòng lên, vỗ mạnh trong vài ngày, cổ sẽ ửng đỏ, sưng lên.

Lần lượt, chúng tôi được chuyển vào Bệnh viện Chợ Quán, nơi dành trị cho tù. Khu dành cho tù giống hệt khám, cũng song sắt, cũng lính tuần tra nghiêm ngặt.

Trước khi vào bệnh viện, qua Thomas Bocal, tôi nhắn tin ra ngoài cho một người tốt - đốc học Trần Thanh Phát, ông được tự do sau một thời gian bị giữ ở Catinat. Một số anh em khác cũng biết tin tôi, như anh Mai Văn Bộ.

Vào bệnh viện được vài hôm, tôi nhận được áo quần, thuốc men, thức ăn. Cứ một tuần hai lần, bên ngoài tiếp tế cho tôi - ai tiếp tế thì tôi không biết cụ thể, song chắc chắn đặc khu ủy bố trí.

Một hôm, trong ổ bánh mì tiếp tế có một cưa sắt. Thế là bên ngoài gợi ý cho tôi vượt ngục.

Tôi trao đổi với số ở chung và phác ra kế hoạch. Phải cưa đứt một song sắt và chỉ cần một song sắt đứt, kéo nó quẹo sang bên, chúng tôi có thể thoát. Điều phức tạp là lính canh đi lại dọc hành lang suốt đêm. Hành lang dài, chúng đi một vòng mất chừng hai hoặc ba phút.

Tôi bày mẹo xin phép đánh bài giải trí. Bốn người đánh cáctê ở phòng đầu. Cưa song sắt ở phòng cuối. Hễ người đánh bài hô: ách hoặc già, tức lính quay lại, phải ngừng cưa, thổi bột sắt và nằm yên trên giường. Cứ thế, chúng tôi thay nhau, từ bảy giờ đến mười giờ đêm là giờ tù bắt buộc phải ngủ. Từng chút một, song sắt bị cưa, đã sắp đứt tiện.

Chúng tôi quyết định sẽ vượt ngục đêm 19-9.

Coi như chắc ăn trăm phần trăm.

Bốn giờ chiều, bỗng có xe ở Catinat tới. Chúng tôi ngó nhau: lộ rồi chăng?

Nhưng, lệnh áp giải mỗi tôi về Catinat, lý do bệnh quai bị đã hết. Tôi nài nỉ, song tên cò lắc đầu. Bác sĩ cũng xác nhận tôi đã có thể ra khỏi bệnh viện.

Thật tức tối! Leo lên xe mà đầu óc tôi căng thẳng, muốn khóc lên.
Lát sau, tôi về đến Catinat. Số tù quen hỏi han, tôi trả lời lấy lệ, tìm chỗ ngồi. Chiều đó, tôi bỏ cơm.

Trần Bạch Đằng



500 con người sống chung đụng mà tuyệt đối không ai nói chuyện riêng với nhau. Hễ ai bị bọn gián điệp mách là "hội nghị" thì nếu không bị chết cũng bị ngủ xà lim cả tháng.

Qua mười cửa ngục, dù sao tôi vẫn còn sống. Tôi không nhớ bao nhiêu người cùng ở tù với tôi và mãi mãi không về...

Kỳ tới: 200 ngày đêm mất tự do

Trần Bạch Đằng – cuộc đời và ký ức (Kỳ 2): Bước vào lò luyện thép

Written By kuxh on 06/05/2010 | 01:01

Năm 1943, ông Trần Bạch Đằng gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1945, ông là bí thư khu Ngã sáu Chợ Lớn kiêm ủy viên BCH Tổng công đoàn Nam bộ; 20 tuổi, năm 1946 là ủy viên thường vụ Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn...

Kỳ 1: Trần Bạch Đằng - cuộc đời và ký ức: Tháng ngày trôi dạt


Đồng chí Trần Bạch Đằng (thứ hai từ trái sang) tại chiến khu Lộc Ninh (1972) Ảnh tư liệu


Đầu năm 1949, tôi được Đảng bộ Nam bộ cử vào đoàn đại biểu dự Đại hội Đảng toàn quốc lần II tổ chức ở Việt Bắc, cùng với đồng chí Phạm Hùng và Hà Huy Giáp. Đến Nha Trang, hai đồng chí Phạm Hùng và Hà Huy Giáp chuyển sang đi đường biển, tôi tiếp tục theo đường bộ với một đoàn cán bộ quân sự và thanh niên.

Tôi bị bắt

8 tháng 4 năm 1949: chúng tôi rút vào núi hơn một tuần lễ rồi. Phải giữ bí mật triệt để. Ban ngày, tuyệt đối không nấu nướng gì hết, sợ có khói, dễ làm mục tiêu cho phi cơ và đồn bót địch. Chỉ được nấu ban đêm và phải che kín đáo, không để ánh sáng lọt ra ngoài.

Chúng tôi từ Hòn Hèo, vượt quốc lộ sang đây, thuộc dãy Trường Sơn, nơi giáp giới Khu 6 và Khu 5. Theo liên lạc thông báo, chúng tôi còn ở đất Khánh Hòa, vùng tạm chiếm và chỉ một ngày đường nữa là đến vùng tự do Khu 5, sau khi vượt qua Đại Lãnh - mà chỗ chúng tôi sắp vượt gọi là Dốc Mỏ.

Chúng tôi đi hàng một, hướng về phía Đại Lãnh. Tin truyền miệng từ đằng trước: gần đến suối. À, tới suối này mà rửa mặt một cái, khoái chí tử! Phải chi còn gạo tới đây làm ba hột, dầu leo mấy cái núi cũng không ngán.

Tôi đi vào tốp cuối cùng. Đôi giày bỗng đứt dây. Tôi đứng lại và cột giày. Cả đoàn bỏ tôi lối 30 thước. Cột xong giày, tôi bươn bả chạy theo đoàn.

Từ bờ suối, phía tay mặt, một loạt súng máy nổ rền, tiếp theo các loạt súng khác nhả đạn dồn dập. Trong nháy mắt, cả đoàn lẩn vào bụi cây. Tôi cũng vội vã tách mình. Nhưng, vừa qua khỏi gò mối, hàng chục họng súng chĩa vào tôi, chặn đường tiến thoái, tôi chưa kịp rút khẩu súng ngắn ra khỏi bao.

Tôi bị bắt - tôi là người duy nhất trong đoàn bị bắt, tôi biết điều đó sau này.

Tức thì, lính trói tôi lại, lục soát balô và chúng chia nhau tất cả những thứ tôi có, chỉ chừa cho tôi cái quần xà lỏn và cái áo thun mỏng trong mình.

Hai lính thân binh dẫn tôi đến trước một tên trung tá người Pháp.

Tên trung tá bảo tôi ngồi xuống. Vẻ mặt lạnh như tiền. Trong lúc đó, mấy tên lính Pháp bứt dây thắt vòng mà tôi đoán là để treo cổ tôi. Mấy lần tôi dợm chạy, biết ý, tên trung tá bảo người thông ngôn: “Mày nói với nó chớ chạy - chẳng khỏi đâu - tao bắn cácbin như thế này”. Và hắn cho nổ một phát cácbin vào chãng ba cây, cách chỗ hắn lối 40 thước, trúng phóc!

Một lính Phi châu mặt gạch dẫn tôi đi. Hắn cẩn thận đến nỗi dùng một sợi dây dài, một đầu tròng vào cổ tôi, một đầu cột vào tay hắn, súng chĩa vào lưng tôi.

Nắng còn gắt. Chân tôi giẫm lên con đường tráng nhựa nóng rát và chiếc xe camnhông đang chờ tôi. Mười phút sau, xe ngừng. Tôi ở trước cửa một dãy đồn kiên cố: đồn Vạn Giã.

Trận đòn đầu tiên

Tên lính Phi châu hầm hừ xô tôi vào một căn nhà lụp xụp. Tên trung tá hồi nãy ngồi đó tự bao giờ. Có thêm hai sĩ quan Pháp và một thông ngôn. Hai tên sĩ quan - một đại úy và một trung úy - chăm chú đọc các giấy tờ bắt được trong người tôi.

Nửa giờ sau, cuộc thẩm vấn bắt đầu. Và, các dụng cụ tra tấn bày ra.

- Mày tên gì?

- Nguyễn Văn Hai.

- Nói láo! Giấy ghi: Trần Bạch Đằng! - tên trung tá quát.

- Tôi là cần vụ, mang giấy tờ của chỉ huy.

- Thế giấy tờ của mày đâu?

- Tôi là cần vụ, không có giấy tờ!

- Mày nói láo... Công văn này do Phạm Hùng, phó giám đốc Sở Công an Nam bộ của Việt Minh, giới thiệu mày là xứ đoàn phó Thanh niên Cứu quốc Nam bộ, tổng thư ký Kỳ bộ Việt Minh Nam bộ, đại biểu Nam bộ ra Bắc dự đại hội Đảng Cộng sản... Công văn yêu cầu Việt Minh các nơi phải lo cho mày tử tế... Mày đeo súng ngắn, balô nhẹ vì mày có cần vụ...

- Tôi là cần vụ!

- Tao nói để cho mày khỏi chối: xét nghiệm dấu lăn tay trên giấy của mày thì mày thêm tội khai láo... Nhưng, trước hết, mày hãy làm quen với tụi tao...

Một tên sĩ quan Pháp, thân xác to lớn như trâu, cởi trần, lòi bộ ngực lông lá. Hắn mở trói cho tôi, cột hai ngón tay cái của tôi vào hai sợi dây điện. Rồi hắn quay một đinamô. Tôi bị điện giật, té ngửa, toàn thân run bần bật, tim như muốn ngừng đập. Tôi phải chịu cách tra khảo này khá lâu. Sau đó, tên sĩ quan bảo: “Bây giờ tao cho mày đi tàu lặn”...

Có lẽ đã chiều rồi. Ngoài cửa sổ, ánh nắng đổi màu làn lạt. Chúng nó ngừng cuộc tra khảo, trói thúc ké tôi lại và cột rút lên cao, treo toòng teng giữa nhà. Chúng bỏ đi, đóng cửa lại.

Gần hai giờ đồng hồ sau, bọn chúng trở vô, bật đèn, mặt mũi tên nào cũng đỏ ké, mùi rượu nồng nực. Cuộc tra khảo bắt đầu bằng hình thức khác: đánh chày vồ.

Chúng trói thúc ké tôi, bắt tôi quì xuống, kê ngực vào mép ghế đẩu, rồi dùng chày tay đánh trên lưng tôi. Mỗi tiếng “thình” vang lên, ngực tôi cấn vào cạnh ghế, xương ngực như bị dập. Tôi hự, máu tuôn theo khóe miệng. Sức chịu đựng của tôi đã kiệt, tôi bất tỉnh.

Em Kiết 15 tuổi...

9 tháng 4: Tôi bừng dậy, thấy mình nằm trong một căn hầm hẹp té, bề dài lối một thước rưỡi, bề ngang chừng bảy tấc, tường xây đá xanh, nền cũng lót đá, nóc bằng đá. Có một cái lỗ nhỏ trên cao, chằng chịt song sắt và dây kẽm gai. Qua lỗ nhỏ đó, tôi biết bây giờ là ban ngày.

Bỗng có tiếng người đi vào, rồi ổ khóa kêu lách cách: tên lính Phi châu hôm qua gọi tôi lên phòng điều tra.

9, 10, 11, 12 tháng 4: Bốn ngày ròng rã tôi làm bia cho đủ thứ cực hình, mới có, cũ có: châm điện, đổ nước, lộn mề gà, đi máy bay, đánh chày vồ, đánh tứ trụ. Người tôi tan nát, mắt sưng húp. Tôi chết đi sống lại có đến cả chục lần. Trong các loại tra tấn, kiểu đánh vào đầu, theo tôi, nguy hiểm nhất. Tôi quên kể: vừa bị bắt, chúng cạo trọc đầu tôi. Mấy tên thay nhau dùng dùi cui gõ khắp đầu tôi, gõ nhẹ thôi, song giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác, đầu tôi sưng vù, mềm nhũn, tím bầm, tựa như quả mít ướt chín rục, ê ẩm, thậm chí đôi lúc trí nhớ đứt đoạn.

Tôi sẽ chết vì không thể chịu đựng nổi nếu không có em Kiết.

Em Kiết, 15 tuổi, thân thể khỏe mạnh, cao lớn dềnh dàng. Trước em làm liên lạc cho kháng chiến. Trong một cuộc giao phong, em bị bắt và từ đó em làm bồi cho tên trung tá, trưởng đồn Vạn Giã.

Trưa ngày 12, sau khi bị một trận đòn cực kỳ đau đớn, tôi mê sảng luôn. Lúc tỉnh dậy, tôi thấy em Kiết ngồi bên cạnh, đang bóp muối các vết thương của tôi.

Thấy tôi tỉnh, em cười, đưa cho tôi một tô nước muối bảo uống.

Chiều hôm đó, khi tên lính Phi châu kéo lết tôi về khám thì em Kiết lẽo đẽo theo sau. Em điều đình với tên chúa ngục mang cho tôi một hộp cơm, chai nước và em tiếp tục như vậy cho đến ngày việc tra khảo tôi chấm dứt…

13 tháng 4: Từ hôm nay, tôi không còn bị tra tấn nữa. Em Kiết cũng không vào khám được.

Chế độ trại giam ở đây chỉ cho tù mỗi ngày ăn một bữa cơm với muối cục. Tất nhiên là cơm gạo lức và gạo ẩm, bốc mùi hôi.

Khi tên chúa ngục mở cửa, một người lính già mang lon cơm vào, tôi không buồn rờ tới.

Nhưng, đã trưa rồi, bụng đói. Tôi cầm lon cơm lên ngửi: lạ quá, không có mùi ẩm. Tôi ăn, rất ngon, hết lớp cơm trên, cả một khứa cá ngừ kho thơm phức ở dưới.

14 tháng 4: Như thường lệ, ông lính già đưa cơm nước vào. Tôi nói lẹ với ông: “Xin cám ơn ông”. Ông lính già, người Quảng Nam, mỉm cười đáp: “Không có chi, ông nên cám ơn thằng Kiết”. Sau, tôi mới biết là em Kiết đã vận động nhà bếp mỗi bữa cho tôi ăn cơm gạo tốt, có cá. Tôi bồi hồi cảm động. Hình ảnh em Kiết hiện ra - trong khi ngồi viết những dòng hồi ký này tôi vẫn như thấy rõ em trước mắt: da đen, răng hô, đầu hớt móng ngựa.

15 tháng 4: Tôi lại phải lên phòng điều tra lần nữa. Nhưng lần này, tên sĩ quan chỉ hỏi qua loa vài câu rồi cho xuống khám.

Ra cửa, tôi gặp em Kiết. Em đi cặp kè với tôi về phía khám.

Sau đó, em Kiết sắp đặt chương trình giải thoát tôi, nhưng không thành, vì sự toan tính giữa tôi và em Kiết đã lọt vào tai một người tù nữa - tên Quyên...

Trần Bạch Đằng


__________________________
Quyên đã khai báo với viên sĩ quan Pháp để tâng công. Kế hoạch bại lộ, ngày 19-4, chàng thanh niên 23 tuổi bị áp giải về đồn Ninh Hòa, rồi về khám phòng nhì Nha Trang.

Ngày 2-5-1949, anh trở về Sài Gòn trên chuyến xe lửa bít bùng, chân và tay bị còng...

Kỳ tới: Người tù ở bót Catinat

Nguồn: Tuổi Trẻ

Trần Bạch Đằng – cuộc đời và ký ức (Kỳ 1): Tháng ngày trôi dạt

Written By kuxh on 05/05/2010 | 05:28

Ba mẹ tôi sinh tất thảy bảy người con, song hầu hết anh chị tôi mất sớm, còn lại người chị thứ ba và tôi là út. Vì lý do chính trị - cha tôi thuộc xu hướng dân tộc chủ nghĩa, từng ở tù vì xu hướng ấy, mặc dù, theo tôi hiểu sau này, ông rất ôn hòa - chính quyền thực dân cho phép gia đình chúng tôi định cư mỗi tỉnh không quá năm năm, vì lý do sinh sống, chúng tôi trôi dạt khắp Nam bộ.


Giấc mơ “an cư” của mẹ

Ở Bến Bạ (quận Giồng Riềng, tỉnh Rạch Giá), mẹ tôi nấu rượu bán cho người Miên hoặc cho chú Phồi, một Hoa kiều quanh năm chỉ mặc chiếc quần lỡ gối lưng vận, ở trần, chủ tiệm chạp phô ngay đầu xóm. Tôi nhớ nồi rượu vì hai lẽ. Mỗi khi nấu xong, mẹ tôi thưởng tôi một tô hèm trộn chuối chát và đường tán. Bây giờ thì tôi không ăn được món ấy, nhưng khi tôi bằng tuổi cháu ngoại tôi hiện nay thì đó là món ăn ngon.

Lẽ thứ hai, phức tạp hơn: một hôm, giữa lúc mẹ tôi đang canh nồi rượu, tôi ngồi cạnh bà, nhìn giọt rượu chảy vào chai để chờ được tô hèm thì một người Miên - vẫn thường mua chịu rượu - hớt hải chạy đến báo tin: tào cáo sắp vào khám... Tôi chưa đánh giá hết độ nguy hiểm của “tào cáo” - miền Bắc gọi là Tây đoan. Còn mẹ tôi, bà quýnh quáng dụi lửa, bưng cả nồi, ống trấm quăng xuống xẻo. Ông người Miên giúp mẹ tôi chuyển nguyên cái khạp đựng men, long qua xẻo, giấu dưới biền. Tôi khóc đòi ăn hèm. Nhưng, tôi nín liền, nép vào mẹ tôi: lão Tây tào cáo lỗ mũi đỏ lưỡng đã sục vào nhà, cùng một số người nữa dùng chiếc batoong chọc vào lu hũ, thúng gạo và xì xồ khá lâu trước bếp lửa tuy đã dụi mà vẫn còn rất nóng.

Tôi soát lại trí nhớ và rõ là mẹ tôi chưa một lần dạy tôi yêu nước. Chưa một lần bà nói cái gì thuộc về chính trị với tôi. Thỉnh thoảng, bà kể cho tôi nghe về gia tộc tôi - ông cố tôi, ông nội tôi, ông chú tôi, những người cho bà niềm hãnh diện: ông cố tôi làm phó tướng cho Nguyễn Tri Phương, ông nội tôi là tri phủ Nam triều “treo ấn từ quan”, ông chú tôi là nghè. Bà làm dâu trong một gia đình như thế - chưa bao giờ dám ngồi đối mặt với cha chồng - nhưng bà không phàn nàn một câu. Tất nhiên, bà hãnh diện vì cha tôi: một người giỏi chữ Nho, không chịu làm việc cho “nhà nước Pháp”, cắp cây dù và cuốc bộ, trong chiếc áo dài đen đến tiệm thuốc Bắc coi mạch cho toa, đôi khi xa nhà hàng chục cây số.

Năm 1942, bà phát hiện những lần vắng nhà bất thường của tôi, những cuộc gặp gỡ của tôi với bạn bè. Bà không một lời ngăn cản mặc dù tình cờ tôi vẫn bắt gặp bà thở dài...

Tôi rời nhà năm 1942. Lần đó, tôi không còn trở lại sống cạnh mẹ tôi nữa - lâu lâu tạt về thăm bà, chỉ có thể ở nhà vài hôm thôi. Trước khi đi, tôi trồng một gốc ổi cạnh giếng - chiết từ một cây ổi ngon ở nhà thằng bạn. Mẹ tôi tiễn tôi bằng cặp mắt lo âu và lời dặn dò: “Coi chừng coi đỗi nghe con!”. Dẫu sao, tôi chưa quá tuổi vị thành niên - vừa 16. Tháng 3-1945, tôi ghé nhà, đó là lần ghé nhà chót của tôi: bà hái mấy quả ổi, tự tay xẻ, ngồi nhìn tôi ăn. Suốt đời, không bao giờ tôi quên được cái nhìn của mẹ.

Năm 1949, tôi rơi vào tay giặc. Mẹ tôi tìm tôi qua các khám giam mà không sao tận mặt tôi. Tháng 11 năm đó, bà đến chợ Giồng (Gò Công) tìm tôi, đúng vào hôm sau ngày chúng tôi vượt ngục.

Ba năm sau, chúng tôi - tôi và vợ tôi - gặp lại bà. Bà đã về Giồng Riềng ở với chị tôi. Chúng tôi mang cho bà đứa cháu nội mà bà ao ước.

Năm 1954, hòa bình chỉ thoáng qua. Tôi ra chiến khu. Vợ tôi cũng vậy. Hoàn cảnh bí mật không cho phép chúng tôi sống chung với mẹ. Ngay việc gửi gắm con tôi, chúng tôi cũng giấu bà. Một lần, bà đến thăm hai cháu, chúng đã được tổ chức đưa đi xa, rất xa. Bà khóc tắt tiếng. Và từ đó, vĩnh viễn mẹ tôi không nhìn được con trai, dâu và cháu nội lần nào nữa, dù mẹ tôi cố sống đến tận năm Mậu Thân.

Tôi nhớ mẹ tôi có một ao ước: được ở yên nơi nào đó. Cho đến khi mất, ao ước đơn giản của bà không đạt được.

Biên Hòa: kỷ niệm vào đời

Năm 1931, nếu tôi nhớ không lầm, chúng tôi đến Biên Hòa. Chúng tôi: ba tôi, một nhà nho; mẹ tôi, một phụ nữ lao động; và tôi, chú bé 5 tuổi đầu. Ba tôi thuộc xu hướng Thiên địa hội - sau này tôi mới biết. Khi gia đình tôi chuyển lên Biên Hòa, ba tôi nổi tiếng khắp quận vì ông “tẩy chay” các phương tiện đi lại, chuyên đi bộ từ làng Tân Phú xuống tận Sài Gòn và trở về, trong chiếc áo the đen...

Ông bị thực dân kết án “tù biệt xứ” - không được ở một chỗ. Chúng tôi rời cái xẻo heo hút của tỉnh Rạch Giá chính vì đã đến hạn ba tôi phải chuyển đến chỗ khác.

Chúng tôi trú ngụ trong một ngôi chùa nhỏ ngó ra sông Đồng Nai. Ba mẹ tôi làm mướn cho chủ chùa - một ông thầy cúng, theo cách nói phổ thông. Ông thầy cúng từ đâu đó xiêu dạt tới đây, lấy vợ sinh con và hành nghề tụng kinh cho các đám ma, đám kỵ kèm luôn nghề bán nhang. Công việc của ba mẹ tôi không nhẹ nhàng: hằng ngày hai người phải thay nhau dùng chân cật lực kéo đẩy một dao cầu bằng sắt trên một chiếc thuyền tán cũng bằng sắt, nghiền nát những thỏi trầm hương và mạt cưa để cho ra bột nhang.

Đời sống chúng tôi vất vả. Tôi cảm thụ cái đó qua bữa cơm; thường tôi ăn chưa no.

Cám cảnh khổ của chúng tôi đồng thời phục ba tôi là “người làm quốc sự”, bà Sáu Thiếp bảo gia đình tôi dọn về nhà bà, một ngôi nhà ngói ba căn hai chái, nền đúc, có vẻ gia tài của cha ông để lại cho bà.

Về chỗ mới, mẹ tôi in ngói mướn. In ngói tức là nhồi đất sét, ôm cục đất khá nặng đập vào cái khuôn gỗ đã rải một lớp tro, dùng chân đạp tém các mí đất, dùng cần cung dây thép cắt đất, trút viên ngói ra sân. Mẹ tôi bắt đầu in khi mặt trời lặn và độ 9, 10 giờ đêm thì xong phần khoán, lối 200 viên. Bà lại tranh thủ nấu một nồi xôi để sáng hôm sau gánh đi bán. Từ đó, người trong làng gọi mẹ tôi là bà Ba Xôi và tôi là con bà Ba Xôi. Ba tôi làm một nghề “trí thức” hơn: viết liễn. Ông có hoa tay và viết đại tự rất đẹp.

Tôi học lớp đồng ấu ở Trường Tân Phong, cũng nhờ bác Bảy: tôi không có khai sinh, bác cho mượn khai sinh của thằng Hổ. Nếu học bạ Trường Tân Phong niên học 1934 - 1935 mà còn, có tên tôi: Phạm Văn Hổ. Thầy giáo - thầy Giá - tuy mặc Âu phục trắng song đi dạy bằng chiếc xe song mã, tự thầy cầm cương.

Tôi học không đến nỗi tồi, nhưng phải rời Trường Tân Phong bởi một “sự cố” buồn cười. Giờ ra chơi, tôi cầm một cái “yoyo”, thích thú biểu diễn trước bạn bè. Con thầy giáo, cùng lớp với tôi, giật cái “yoyo” và từ trên thềm nó vụt mạnh vào đầu tôi. Không nhịn, tôi chụp cái “yoyo” và cũng vụt mạnh vào trán nó. Điều nguy hiểm cho tôi là đầu tôi tuy u song được mái tóc che, còn trán của thằng con ông thầy lại có một cục bầm to tướng.

Thầy giáo chẳng hỏi chẳng rằng, khi tôi ngồi vào bàn, hầm hầm xông tới, thẳng cánh tát tôi. Để tự vệ, tôi thụp tránh, thầy tát trật tôi nhưng lại trúng bình mực, mực nhuộm lem bộ quần áo Tây của thầy. Càng nổi nóng hơn, thầy chụp cây thước bảng và tôi khôn vong, co giò phóng ra khỏi trường, phóng một mạch về nhà… Tôi bị đuổi. Tên Phạm Văn Hổ không còn được học Trường Tân Phong nữa.

Ba tôi “chuộc” khai sinh cho tôi. Một tên Tiệu chết trẻ không khai tử, cùng lứa tuổi mà cũng trùng họ với tôi được gán cho tôi và tôi mang tên đó cho đến hết bậc sơ học.

Trong ký ức, cái hiện lên rõ, dù đã gần nửa thế kỷ qua, là những buổi diễn thuyết của các chiến sĩ đệ tam quốc tế tại Gò Dê. Mỗi ngày tôi phải lội bộ chừng năm cây số từ nhà đến Trường Bến Cá, mang theo mo cơm nhồi của mẹ, bữa ăn trưa của tôi. Thường chúng tôi đi thành bộ ba: Quảng (Nam Phòng), Huệ và tôi. Con đường đá rợp bóng sao cao vút, trước khi đến ngã ba Bình Ý thì có một lối mòn băng tắt qua Cái Gò - rừng chồi, mả lạng, nơi người ta thả dê ăn.

Tại “tam kỳ lộ” đó, đảng bộ cộng sản vùng Phước Vĩnh Hạ dựng một giàn cao, treo băng cờ. Các cuộc mittinh diễn ra tại đây khá thường, khi thì người tại chỗ nói, khi thì rước các anh dưới Sài Gòn lên. Dân chúng đứng nghe chật cả gò. Thỉnh thoảng, chúng tôi chen vào nhìn, chủ yếu là vì thấy lạ. Quảng hiểu hơn tôi và Huệ - mãi sau này tôi mới biết ông già của Quảng là đảng viên.

Tôi học lớp nhất, Khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ. Phong trào vùng Phước Vinh Hạ không mạnh, tuy cũng trống mõ, cũng cướp nhà làng Tân Phú, Thiên Tân trong đêm.

Mấy hôm sau, làng lính kéo về khủng bố. Ba của Quảng bị bắt. Nhiều người khác cũng hoặc bị bắt hoặc phải lánh mặt. Thầy Thời gọi tôi lên bàn viết, nói thật nhỏ:

- Em đốt tập vở của em đi!

Đó là tập vở 100 trang gồm các bài viết “quốc sự” - thật ra là các bài văn thơ yêu nước chung chung của nhóm học sinh chúng tôi mà do khiếu về văn và sử, tôi được anh em đề cử như cái mà bây giờ chúng ta gọi là tổng biên tập! Tôi mang tập vở ra sau vườn đốt, đốt và tiếc hùi hụi.

Bài học vỡ lòng bao giờ cũng sống dai dẳng trong chúng ta, nó quyết định hướng đi cho cả cuộc đời. Biên Hòa giữ vai trò như vậy trong tôi. Cho nên không ngẫu nhiên khi tập thơ đầu tay của tôi mang tên Theo sóng Đồng Nai và quyển tiểu thuyết đầu tay của tôi - Chân dung một quản đốc - lấy bối cảnh chính ở Biên Hòa.

Trần Bạch Đằng
Nguồn: Tuổi Trẻ


--------------------

(*) Trích Trần Bạch Đằng - cuộc đời và ký ức (NXB Trẻ). Tựa lớn và tựa nhỏ trong loạt bài do Tuổi Trẻ đặt.
“Tôi yêu thế hệ trẻ vì tôi yêu tuổi trẻ của chính tôi” - ông viết vậy khi nhớ lại cái thuở ban đầu hồn nhiên và vụng dại của chính mình. Lý do hoạt động cách mạng sớm của ông cũng “thô sơ”: lớn lên vào buổi mất nước, “gia đình tôi như thế, tôi phải như thế, không khác được...”.

Kỳ tới: Bước vào lò luyện thép
 
Support : Creating Website | Johny Template | Mas Template
Copyright © 2011. Bảo tàng Ký ức Xã hội - All Rights Reserved
Template Created by Nhật Nguyên Published by Nhật Nguyên
Proudly powered by Nguyễn Đức Lộc