Tin mới :

Latest Post

Hiển thị các bài đăng có nhãn gia đình. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn gia đình. Hiển thị tất cả bài đăng

Nghị lực sống

Written By Hồ Nguyên Đức on 01/08/2012 | 09:51

Cho đến khi tôi gặp em tôi mới thấy mình nhỏ bé trước nghị lực sống và sự hy sinh của em, một cô bé vừa tròn 17. Tuổi vừa trăng tròn mà quãng thời gian sống của mình, em đã chịu những gian nan và vất vả mà có nhiều người tuổi trưởng thành chưa chắc đã phải trải qua. Để duy trì cuộc sống hằng ngày, tôi biết em phải cố gắng, nỗ lực biết chừng nào khi nhìn vào gương mặt đầy lo âu của cái tuổi mới lớn đáng lẽ vô ưu trước mọi sự. Đặt vào hoàn cảnh của mình, nếu là tôi có lẽ tôi đã đầu hàng, đã bỏ cuộc từ lâu rồi.

Đặt vào hoàn cảnh của mình, nếu là tôi có lẽ tôi đã đầu hàng, đã bỏ cuộc từ lâu rồi.
Ảnh: Nguyễn Thị Tuyết Mai
i
Em có cái tên thật đẹp mang lại cho người khác cảm giác thoải mái và dễ chịu biết mấy, Nguyễn Thị Nhung. Em sinh ra ở miền sơn cước thuộc thôn Nghi Xuân, xã Thanh Lâm, huyện Thanh Chương của non xanh nước biếc Nghệ An. Sống cùng với mẹ trong căn nhà nhỏ được nhà nước và bà con lối xóm giúp đỡ cất cách đây vài năm. Nằm ở giữa một khu đất vắng nhà, vắng người, đi bộ mấy chục phút mới thấy có nóc nhà, xung quanh chỉ toàn là cây rừng. Tôi đã thực sự thấy lo lắng khi cả đi xe cả buổi mà chỉ bắt gặp có mấy chú mục đồng, mọi thứ đều thưa thớt, vắng vẻ đến đáng sợ. Chợt lo lắng khi nghĩ đến em, buổi tối ở xóm em chỉ lác đác những ngọn đèn dầu le lói, không biết sẽ có bao nhiêu hiểm nguy rình rập. Mọi vật đều bị chìm trong bóng tối đặc quánh thật đáng sợ. Tôi được nghe những bà cụ trong xóm kể trước kia hai mẹ con em ở trong căn nhà làm từ lá cây, mỗi lần bão về là nó bị lật tung. Hai mẹ con em lại lật đật đi xin hàng xóm cho ở nhờ. Những ngày như thế cuộc sống của hai mẹ con em đã thiếu thốn biết chừng nào.
Nghe em kể về cuộc sống những năm tháng qua của em và mẹ một cách thản nhiên vốn như nó vẫn thế, trong lời nói của em chẳng hề có một câu than vãn hay trách móc. Không hiểu sao khóe mắt tôi cay cay, rồi nước mắt cứ chảy, tôi khóc lúc nào không hay. Khóc vì sự hồn nhiên con trẻ trong em, khóc vì niềm tin sống của em thật đáng ngưỡng mộ và khiến một người như tôi khâm phục. Khóc vì lý do tại sao đất nước chúng ta lại còn những con người như em, những gia đình nghèo khổ như gia đình em. Cuộc sống ngày càng hiện đại, con người ta sống với nhau cũng ít tình cảm đi, thậm chí là vô tâm hơn.
Có nhiều lần, tôi xem ti vi hay đọc báo, thấy người đi qua đi lại thờ ơ với em bé bị ô tô đâm nằm bất tỉnh trên đường. Thấy người ta vì tiền mà coi thường sức khỏe, thậm chí sinh mạng của người khác. Vì tiền mà có thể quay lưng lại với cả bố mẹ, anh chị em… những người thân thiết máu mủ. Tuy biết đó cũng chỉ là mặt trái của xã hội hiện đại, của lối sống nhanh thời buổi kinh tế thị trường.
Nhưng cuộc đời vẫn còn nhiều tấm lòng tốt, họ cũng sống có nhân đức, trách nhiệm, biết yêu thương và quý trọng mọi người. Ví như, có ông bố đã nuôi những đứa con chẳng phải dứt ruột đẻ ra khôn lớn, trưởng thành mà không chẳng cần báo đáp.
Em cũng là một tấm lòng nhân hậu mà tôi biết và có một cuộc sống đã kinh qua những bất hạnh của đời người. Mẹ em là bà mẹ đơn thân nên khi sinh ra em bị người ta gọi là “con hoang”. Tuổi thơ của em đầy những khó nhọc, năm em lên 3 tuổi mẹ em bị lao lực nặng rồi bị liệt từ đó. Vì tuổi trẻ mẹ em đã lao động nặng quá nhiều lại không có thời gian nghỉ ngơi. Mẹ em càng ngày càng yếu, hoàn toàn không thể đi lại, việc ăn uống cũng trở nên khó khăn. Mọi gánh nặng gia đình dồn lên đôi vai bé bỏng của em. Hằng ngày em đi cấy thuê, cuốc ruộng, gặt lúa, trồng rau, trồng sắn…làm bất cứ việc gì mà người ta gọi chỉ mong có chút tiền mua thuốc chữa bệnh cho mẹ và có chút gạo nấu cháo cho mẹ ăn. Có khi họ trả cho khoai vụn, lạc lép, may lắm thì được ít gạo, cũng có khi thương tình họ cho 5 ngàn, 10 ngàn. Chỉ thế thôi cũng đủ làm mẹ và em thêm ấm lòng. Buổi tối, em lại dành thời gian chỉ bài cho các mấy bé nhỏ trong xóm, cũng là niềm vui giúp hai mẹ con em bớt cô quạnh trong những ngày tháng khó khăn.
Chẳng nề hà bất cứ việc gì, em làm tất cả mọi việc nhà nông, cố gắng cật lực từ sáng sớm đến tối khuya, không có thời gian nhưng em học vẫn giỏi. Mỗi chiều đi làm thuê em lại mang theo cuốn vở để ôn bài.
Không có tiền mua xe đạp nên hằng ngày em vẫn đi bộ hàng chục cây số đến trường. Tôi lại thấy thật chạnh lòng khi nhìn những đứa trẻ ở thành phố, được sinh ra trong gia đình khá giả có đầy đủ điều kiện. Chúng có cơm ngon để ăn, quần áo đẹp để mặc, rồi chúng sống ích kỷ chỉ biết mình và hình thành lối sống hưởng thụ. Nghĩ đến em mà tôi ứa nước mắt, nhớ rằng mỗi ngày em chỉ ăn khoai với sắn chấm tro. Đắng lòng khi nghe em kể: có được ít gạo em dành để nấu cháo cho mẹ, mẩu khoai thừa người ta cho em dành dụm chỉ dám ăn từng ít một. Em hái rau rừng về ăn, cái thứ rau nấu lên chan chát, thật khó nuốt về luộc lên ăn qua ngày này tháng khác. Vậy mà em khen nó ngon “ngày nào em cũng ăn mà không thấy chán”.
Tôi đã nghĩ bao nhiêu lần rồi tự hỏi mình, hồi nhỏ tôi bỏ cơm nhà đòi hỏi bố mẹ đủ thứ trong khi nhà tôi cũng chẳng khá khẩm gì mấy. Thấy thật khâm phục nghị lực và sức sống của em, trải qua tuổi thơ chẳng dễ dàng gì. Em phải chịu đựng những thiếu thốn về vật chất và những tổn thương về mặt tinh thần. Những ngày đi học em chẳng bao giờ có một đứa bạn thân. Em sống tách biệt với các bạn trong lớp, vì chẳng ai hiểu nên cũng chỉ biết trêu chọc em. Người lớn còn cũng tò mò và muốn biết khuyết điểm, những mảnh tối của người ta để mà dè bỉu người khác. Dù vậy nhưng em vẫn luôn tươi cười luôn mạnh mẽ trước những khó khăn thử thách của cuộc sống. Và tôi vẫn nhận thấy sự trong sáng, ngây thơ của tuổi 17 ẩn chứa ở nơi em.
Có những lúc em muốn bỏ cuộc, muốn lang thang phiêu bạt khắp nơi nhưng thương mẹ, em lại cố gắng dũng cảm, nỗ lực để sống mỗi ngày bình thường như bao nhiêu người khác. Có những lần mẹ em giận vì mình trở thành gánh nặng cho em, rồi tự làm tổn hại bản thân mình nhưng em không cho mẹ làm thế, em không muốn mình côi cút trên cõi đời này. Em ước mong một ngày gia đình được đoàn tụ, em được sống trong vòng tay của cả bố và mẹ. Chưa một lần từ khi sinh ra được nhìn thấy mặt bố, em chỉ ước một ngày em được sống trong sự bao bọc, chở che của người bố. Mong được gọi tiếng “bố” một lần trong đời, em vẫn thầm ngưỡng mộ những người có đầy đủ mẹ cha, đầy đủ tình yêu thương gia đình.
Chỉ mong sao cho “chân cứng đá mềm”, em của tôi có thể bước tiếp con đường tương lai đầy những chông gai và khó khăn. Dù vất vả, cực nhọc bao nhiêu em vẫn cố ráng vượt qua tất cả chỉ với một mơ ước chữa khỏi bệnh cho mẹ, vào đại học và trở thành bác sỹ. Nhưng con đường phía trước có lẽ sẽ rất nhiều thử thách, khó khăn, nhiều chông gai và đầy cạm bẫy, làm sao em đủ sức lo nổi cho cả mẹ và bản thân. Ước mơ vào đại học của em liệu có thể thực hiện được hay không?
Tuyết Mai - Hà Nội

Anh trai

Written By kuxh on 25/07/2012 | 13:48

Một cộng tác viên ở Hà Nội gửi thư cho BTKUXH chia sẻ:Hôm nay em đã viết một câu chuyện về một người anh trai, đây là câu chuyện có thực! Trong quá trình đi quay chương trình Lục Lạc Vàng em đã biết tới hoàn cảnh của anh này. Anh ấy là Nguyễn Quang Hòe, sinh năm 1983, ở thôn Quần Hội, xã Thanh Lâm, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Bố là một thương binh nặng, mất năm 2005. Tốt nghiệp hết cấp 3, Hòe đi làm thợ hàn cơ khí ở Thành phố Hồ Chí Minh! Sau đó từ năm 2008 đến nay, đôi mắt bỗng dưng mờ hẳn. Đến nay đã mổ đến 4 lần mà tình hình cũng chẳng cải thiện được gì nhiều! Giống như một người em, em xin viết về anh Hòe! Rất mong được người đọc chia sẻ với số phận và hoàn cảnh này!BTKUXH xin trân trọng chia sẻ cùng bạn đọc.

Tôi sinh ra ở thôn Quần Hội, xã Thanh Lâm, thuộc huyện Thanh Chương tỉnh Nghệ An dù thiên nhiên nơi đây non xanh nước biếc, sông núi hữu tình nhưng cuộc sống của người dân quê tôi cũng còn bao nỗi chật vật, khó nhọc lắm. Hẳn ai đã từng đến thăm quê Bác cũng hiểu được “ miền trung đất khô cằn, mùa đông trời buốt giá, mùa hạ nắng cháy da. Ruộng đồng khô nứt nẻ, mưa đi không kịp về” trong lời bài hát Thương về xứ Nghệ. Đồi núi nhiều nên kinh tế chủ yếu phụ thuộc vào trồng sắn, trồng lạc. Thời tiết nắng mưa thất thường, lũ lụt hạn hán thất thường, cộng thêm cả cái nắng gió Lào. Vậy nên từ bé đến lớn lũ trẻ con chúng tôi quen ăn khoai, ăn sắn, và món ngon nhất mà chúng tôi ăn, là món đặc sản “nhút mặn”. 

Gia đình tôi cũng như bao nhiêu gia đình khác ở đây, bố đi bộ đội từ chiến trường Tây Nam về từ năm 1982 rồi cưới mẹ. Bố tôi là thương binh nặng, sức khỏe yếu nên chỉ giúp mẹ những việc trong nhà. Rồi suốt cuộc đời còn lại gắn với chiếc xe lăn, cũng chẳng vì thế mà bố tôi nản chí. Bố vẫn yêu thương, chăm sóc mấy anh em chúng tôi. Nhiều khi cao hứng, bố còn làm thơ, mà bố làm thơ cũng rất hay, có nhiều bài đã được đăng báo. 

Anh Nguyễn Quang Hèo, ảnh: Nguyễn Thị Tuyết Mai
Bốn chúng tôi lần lượt chào đời, nhà nghèo nên trong kí ức tuổi thơ tôi là những ngày chăn trâu cắt cỏ. Nhưng vì là em nên tôi còn thấy mình sướng nhiều so với anh trai của tôi là Nguyễn Quang Hòe, năm nay tròn 29 tuổi, hơn tôi 12 tuổi. Anh Hòe, là con cả nên anh dành làm tất cả mọi việc cho mấy đứa chúng tôi có thể được học hành, được đến trường như bao bạn bè cùng trang lứa khác. Nhà có 3 sào ruộng mà toàn vùng trũng nên mỗi năm cũng chỉ cấy được một vụ lúa, để kiếm thêm tiền trang trải sinh hoạt mẹ tôi phải đi cấy thuê, anh trai tôi thương mẹ cũng theo đi cùng. Ai đời con trai mà thạo việc cấy hái như đám con gái, đôi bàn tôi thoăn thoắt. Từ bé đến lớn, quanh năm anh tôi bẹo nắng theo mẹ ra đồng, hết chăn trâu cắt cỏ đến cấy lúa, cuốc ruộng. Cái nắng xứ Nghệ như muốn cháy da, thế nhưng anh trai tôi vẫn cứ trắng như trứng gà bóc, đôi bàn tay thẳng với những ngón tay thon dài như tay con gái. Người làng bảo anh tôi nếu mà được sinh ra trong gia đình có điều kiện thì có khi anh ấy có khi sẽ trở thành minh tinh màn bạc cũng nên. 
Anh thay bố làm trụ cột gia đình, kiếm tiền nuôi chúng tôi ăn học.  
Nguồn ảnh: internet
Anh trai tôi tốt nghiệp cấp 3 nhưng vì thương mẹ vất vả, nhà lại quá nghèo nên chẳng thể học cao hơn, anh quyết định đi làm phụ đỡ kinh tế gia đình. Năm 2005, bố tôi qua đời vì bệnh nặng. Mẹ tôi khi đó vẫn đang ở trong độ tuổi lao động nên gia đình tôi không được hưởng chế độ chính sách. Tất cả mọi gánh nặng gia đình đều dồn lên đôi vai của anh trai tôi. Anh thay bố làm trụ cột gia đình, kiếm tiền nuôi chúng tôi ăn học. 

Anh Hòe đi làm thợ hàn cơ khí ở thành phố Hồ Chí Minh hơn 2 năm, rồi chẳng hiểu sao từ đó mắt anh trai tôi cứ mờ dần mờ dần. Đi khám thì Bác sỹ nói anh ấy bị xuất huyết võng mạc. Năm 2008, anh ấy giấu mẹ tôi để đi mổ mắt ở Bệnh viện Mắt Trung ương tại Hà Nội. Những tưởng mắt sẽ sáng lại nhưng chẳng ai ngờ đôi mắt của anh ấy không đỡ hơn, đến giờ thì không còn khả năng nhìn thấy gì nữa. 

Đến nay, anh Hòe đã đi mổ lần thứ tư nhưng tình hình cũng chẳng thể cải thiện được gì. Mỗi khi rảnh rỗi, mấy anh em chúng tôi ngồi nói chuyện với nhau, dù nói chuyện rôm rả, cười nói luyên huyên suốt nhưng tôi biết anh đang đau khổ biết chừng nào. Tôi nhớ có một lần anh bước rồi va vào bậc cửa, chưa bao giờ tôi thấy anh tức giận như thế, anh dùng tay đấm liên tiếp lên cánh cửa, nước mắt cứ chảy dòng dã. Dù không nói lên lời, dù gương mặt luôn tươi tỉnh, nhưng bên trong nội tâm lại chất chứa những ưu tư, trăn trở và cả nỗi khổ đau, tuyệt vọng âm thầm, bởi anh trai của tôi còn rất trẻ, mà tương lai thì không biết sẽ ra sao? Nỗi đau của người trai, đáng lẽ là trụ cột gia đình nhưng giờ lại như đứa trẻ lên ba, mọi sinh hoạt hằng ngày đều phải nhờ đến sự giúp đỡ của người khác. 

Hàng tháng, anh tôi lại đến Bệnh viện Mắt Trung ương Hà Nội để khám và mua thuốc, rất tốn kém, kinh tế gia đình tôi thì chỉ phụ thuộc vào mấy sào ruộng, rất khó khăn. Giờ đây chỉ một mình mẹ tôi phải lo liệu tất cả mọi việc lớn nhỏ trong nhà, từ tiền chữa mắt cho anh Hòe, từ tiền nuôi tôi ăn học thêm khoản tiền nợ từ trước không biết mẹ sẽ trang trải ra sao. Hai chị gái lớn của tôi thì một đã lấy chồng, một thì đi làm ở xa cũng chẳng có điều kiện mà phụ giúp mẹ. 

Nhiều lúc nghĩ mà tôi muốn nghỉ học để đi làm phụ mẹ, nhưng mỗi lần tôi định nghỉ học, anh trai tôi lại an ủi động viên. Nhìn anh mà lúc nào tôi cũng muốn ứa nước mắt, anh là một người có ước mơ, hoài bão và lý tưởng, anh đang đi làm ở khách sạn Sofitel, được cấp trên rất thương quý. Anh Hòe có ý định học và củng cố thêm tiếng Anh để có thể được làm ở vị trí cao hơn. Thế mà giờ… Nhiều khi tôi đã muốn thầm trách ông trời tại sao lại bắt anh tôi phải chịu đựng nỗi đau khổ như vậy. Đôi mắt của anh tôi cứ mờ dần mà chẳng biết phải làm sao? Ngày trước, đôi mắt của anh trai tôi đen láy mà lúc nào long lanh, ai cũng nói đôi mắt đẹp khiến người khác cứ muốn nhìn mãi. Thế mà giờ phải làm sao, làm sao để đôi mắt anh ấy sáng trở lại, việc điều trị rất tốn kém mà nhà tôi thì nghèo.
tháng 7/2012
Nguyễn Thị Tuyết Mai
Học viện Báo chí - Tuyên truyền, Hà Nội

Tìm bác...

Written By kuxh on 16/07/2012 | 08:11

Bác Chiểu là anh ruột của bố. Ký ức của mình về bác chẳng có chút hệ thống nào rành mạch, chỉ là những mảnh ghép ký ức rất nhỏ từ thời thơ ấu. 

Ông nội kể, bác đẹp giai nhất nhà, thổi sáo hay và chữ viết đẹp. 17 tuổi, bác trốn ông bà, khai tăng tuổi để đi bộ đội. Đơn vị của bác vào tận Tây Ninh, rồi sang Campuchia. Thương bố mẹ ở quê nghèo, đông em, có chiếc áo nào được cấp mới, bác cũng đều dành dụm chờ gửi về cho nhà.

Năm 1971, bác hi sinh, nhưng cho đến giờ, ông bà vẫn sống một phần bằng "lương" của bác. Bố kê hồi nhỏ, chữ bác Chiểu rất đẹp nên cả nhà ai đi học cũng nhờ bác viết nhãn vở. 

Có lần, bác trêu viết tên bố là "Mộng Hải", bố giận bác cả tuần. Lớn lên, bố được đi tu nghệp sinh ở Đức 5 năm theo suất liệt sĩ của bác. Bà nội nhắc nhều về bác nhất. Bác đi bộ đội cũng dấu bà. Ngày ông nhận giấy báo tử của bác, ông dấu bà cho đến tận ngày giải phóng. Bà yếu vì sinh nhiều con và vất vả nên ông lo ngại... Bà thương chú út nhất nhà có lẽ cũng 1 phần vì chú giống bác Chiểu nhiều! Thành lệ của gia đình, ngày 27-7 nào, cả nhà cũng tụ tập làm bữa cơm cúng bác.

Những ngày còn nhỏ, mình háo hức đón ngày này lắm. Vì mình rất ra dáng là 1 cô cháu lớn trong nhà. Mình đi chợ sớm chọn hoa cúc trắng hoặc huệ rồi theo bố mang hoa quả về thắp hương bác trước. Lần nào đi qua Nghĩa Trang Liệt Sĩ đầu làng, mình cũng hướng mắt lên phía những dãy mộ cao cao đê chào bác. Cũng có lần, bố cho mình lên thăm cái bia mộ ghi rõ tên bác, nhưng chưa có hài cốt. 

Đi xa, về gần, lúc nào về thăm ông bà, mình cũng tự tay thắp hương cho bác (từ lúc còn nhỏ xíu đã vậy rồi) và cầu mong bác phù hộ cho gia đình! Hơn 41 ngày 27-7 trôi qua, ông có những nỗi niềm âm thầm nhưng không tiện nói, bà đến lúc nhắm mắt vẫn mong mỏi cậu con trai cả được về nhà và những nỗi canh cánh trong lòng của các cô, các chú... thông tin về những gì còn lại của bác vẫn không về. Việc cuốn việc, ngày cuốn ngày, không biết bác đang ở nơi nào...

Bố kể bác thiêng lắm. Ngày bà già mất, bác về báo cho bố biết mà về. Mẹ cũng theo người ta đi gọi dí. Họ nói bác lên, bảo xương thịt đã tan tành, chẳng còn gì nữa. Bác đang ở vui với đồng đội nên chưa muốn về. Khi nào vê, bác sẽ báo... 

Mình không tin là bác không muốn về. Và muốn cùng dốc sức để cố gắng cùng gia đình hoàn thành nốt tâm nguyện của cả đại gia đình! Sẽ đi tìm bác....! 

LIỆT SỸ NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
SINH NĂM 1948
QUÊ QUÁN: VĂN ĐỨC - CHÍ LINH - HẢI DƯƠNG 
ĐỊA CHỈ ĐƠN VỊ: C13-D3-F5, CÔNG TRƯỜNG 5, TRUNG ĐOÀN 55 
HI SINH NĂM 1971 TẠI LÔ CAO SU SỐ 49, CAMPUCHIA! 

Nguyễn Thị Minh Yến 
(Theo facebook của tác giả)

'Cha trông con ngủ', bức ảnh mùa thi cảm động

Written By kuxh on 10/07/2012 | 15:58

Bức ảnh đang được cư dân mạng chia sẻ với tốc độ chóng mặt và nhận được “cơn mưa” like và comment từ các facebook-er. Sự xuất hiện của bức ảnh trong đúng đợt thi ĐH lại càng tạo nhiều cảm xúc cho giới trẻ.
Bức ảnh được "share" nhiều trên cộng đồng mạng

Đằng sau một bức ảnh 


 Trưa hè nắng gắt, giờ nghỉ giữa hai môn thi, giữa sân trường Đại học Quốc gia ngập đầy bóng sĩ tử và phụ huynh, tất cả đang cố gắng tranh thủ những phút nghỉ ngơi ít ỏi để chợp mắt. Trong khung cảnh đông đúc mà tĩnh lặng ấy, ống kính phóng viên chụp được một khoảnh khắc rất đắt: Người con gái nằm co ro trên một tấm bạt ni lông hẹp, gối đầu ngủ ngoan trên đôi chân bố. Người bố mặc cho mồ hôi lã chã rơi, tay vẫn cầm tập giấy có lẽ là đang cố gắng đem lại chút hơi mát để cô con gái yên giấc giữa trưa hè oi ả. 

Một bức ảnh đơn giản, không trau chuốt, không màu mè nhưng lại khiến mọi người cảm thấy nao lòng. Phải chăng đó chính là tình yêu thương vô bờ bến mà cha dành cho con. 

Chỉ có thể là tình yêu thương của mẹ cha 
 Giữa kì thi đầy cam go, những phút giây căng thẳng tới tột độ khiến cho các thí sinh dễ dàng bị khủng hoảng tinh thần thì những khoảnh khắc được gần bên người thân, được tâm sự, san sẻ sẽ khiến cho teen cảm thấy thoải mái, phấn chấn hơn rất nhiều. Dù trong không gian chật hẹp, chẳng hề thoải mái nhưng chắc chắn bạn nữ đó đã vô cùng hạnh phúc vì có bố luôn kề bên động viên, khích lệ. Phải chăng đây là đáp án của đề văn khối D? “Bố không hoàn hảo nhưng bố yêu con theo một cách hoàn hảo.Thần tượng không ở đâu xa.

Phải chăng đây là đáp án của đề văn khối D năm nay” 
- Một cư dân mạng nói. Vẫn biết nếu lấy sự so sánh giữa việc hâm mộ thần tượng âm nhạc với tình yêu thương của cha mẹ là khập khiễng nhưng đôi khi sự khập khiễng ấy làm người ta phải suy nghĩ và chạnh lòng. Khoan lên án những fan cuồng K-pop đã hành động nông nổi khiến những bậc làm cha mẹ cảm thấy đau xót. Hãy tự đặt ra câu hỏi cho chính mình: "Đã bao giờ các bạn bày tỏ tình cảm cho bố mẹ như những thần tượng của mình?" 

Một giấc ngủ trưa, 3 tiếng dưới cái nắng như thiêu như đốt, dưới những cơn mưa rào bất chợt của mùa hè, dưới ánh mắt thấp thỏm lo âu của những bậc làm cha mẹ và đôi khi là cả những giọt nước mắt của sự tiếc nuối… Những giấc ngủ trưa nhọc nhằn, những nụ cười mãn nguyện, cái khoác tay và vỗ vai động viên khi thất bại đủ để dạy cho chúng ta biết rằng: "Ai mới xứng đáng là thần tượng trong trái tim chúng ta". Những yêu thương thầm lặng mà chính ta mặc định cái quyền được nhận mà không hay rằng mình cũng cần phải cho đi. Thần tượng ở ngay bên cạnh chúng ta! 
(Theo Kenh14)

Mẹ ở nơi miền ký ức

Written By kuxh on 09/03/2012 | 05:53


BTKUXH - Một bạn nữ gửi đến BTKUXH một bài viết chia sẻ ký ức về mẹ nhân ngày 8 - 3. Những dòng tự sự về mẹ của bạn như khắc họa những ký ức về tình mẹ, tình cha. Sự chông chênh của phận con mồ côi khi vào đời khiến cho người đọc phải lắng lòng đau xót. BTKUXH xin trân trọng giới thiệu bài viết của bạn giống như một ký ức đáng trân trọng và cần được sự sẻ chia.
Chắc là con sẽ trở thành phụ nữ tự tin, bản lĩnh nhưng con vẫn sợ - ảnh: Internet. 

Biết làm gì khi ở cái tuổi đó mình là quá nhỏ và không nghĩ bản thân cần lớn để làm gì đó cho mẹ, chẳng hạn cho mẹ một ngày sinh nhật, ngày 8/3 hay ngày tết,… Mẹ từng rất mơ ước một chiếc Attila, mẹ từng bị đau cổ tay và khó khăn khi chạy xe máy… Những lần mẹ cha cãi nhau, mẹ chở hai chị em đi ngắm đèn, chạy trong đêm tối của đường quê chưa đèn đường, ôm mẹ thật ấm mặc dù trời rất lạnh và không biết đang cùng mẹ đi đâu… Con cũng bắt chước mấy bạn nhớ đến mẹ dù lâu lắm rồi con quên nhớ mẹ, không khóc vì nghĩ về mẹ và mẹ không còn hiện diện khi con vui buồn. Mẹ, lâu rồi con không nghĩ, không để tâm, không nghe, không gọi và không nhớ về mẹ, con không cố làm vậy nhưng cuộc sống của con vốn cô đơn vậy mẹ ạ. Bây giờ thì con không nín được…

Nhớ cái lần dậy thì của con, khi thấy cha lo cho em khi nó dậy thì con mới biết mình đã trải qua khoảng khắc đó một mình. Có lẽ là may mắn vì con chưa yêu, sẽ rất cô đơn nếu tình yêu của con gái không có mẹ sẻ chia nhỉ? Con không biết và còn cơ hội đâu để biết !

Người ta nói mẹ chưa nỡ đi và còn ở quanh tụi con. Với mẹ, tụi con chưa đủ lớn, chắc vì mẹ luôn ở bên nên con không nhớ mẹ, không thường nhớ đến mẹ. Cuộc sống gia đình của mình ngắn quá mẹ nhỉ !

Mẹ, đến giờ con vẫn thích có một chiếc Attila nếu con muốn mua xe.

Mẹ, con chưa bao giờ là một người chị tốt, em chưa chấp nhận một người chị như con, cũng như con từng mong có một người mẹ tốt hơn mẹ. Chúng ta đều khờ.

Mẹ, cha, con từng tự hào vì cả xóm chỉ có chị em con gọi là mẹ cha, nghe nó hay đúng không mẹ ?

Nhớ rồi, có lần con gội đầu cho mẹ, có lần tư vấn sắc đẹp cho mẹ đi đám cưới nhưng chưa có dịp sắm đồ tết cho mẹ như đã làm cho cha. Mẹ, con có đôi bàn tay với phần thịt đầu móng nhiều như mẹ, mũi con tẹt giống mẹ nhưng con không trắng như mẹ thời con gái. Con đã đi nhiều nơi lắm mẹ, con đi với người quen của con, số ít trong đó là bạn con.

Con vẫn thích mua quần áo tốt để mặc bền như mẹ từng mua cho hai chị em con. Lúc đó mấy đứa trong xóm dù có cả dãy giày, cả tủ đồ vẫn ganh tị với chị em con.


Mẹ, con không vui vẻ, hoạt bát được như mẹ. Chữ viết của con cũng không đẹp như mẹ, con không khôn khéo như mẹ. Mẹ, con sẽ không gọi ai khác là mẹ.

Con không tin mẹ vì giận mà mang cha đi, nếu không mẹ đã không ở lại vì lo cho tụi con.

Nhớ mẹ quá à !

Lại nhớ cha, những ngày làm nhà, ba cha con ngủ trong phần nhà cũ bên nhà mới đang xây, kế bên bàn thờ mẹ, cha với tụi con mặc quần áo của mẹ để ngủ, cha muốn vậy nên tụi con cũng làm theo.

Con nhớ dù có khi về muộn, nhưng con cố niệm Phật dù khóc rất nhiều bên mẹ. Con không để nước mắt rơi trên tay mẹ vì người ta nói không nên.

Nhưng mỗi lần cúng cơm cho mẹ, hai chị em con luôn cãi nhau vì phải leo lầu, phải cúng và chờ dọn xuống. Con dằng mâm xắn chén. Dù biết ở nhà lầu là mơ ước của mẹ, cha thờ mẹ trên lầu nhưng mỗi lần mang cơm lên con lại bất hiếu vậy!

Con vẫn khóc một mình mẹ ạ.

Con thấy người ta thường khinh người mồ côi, nhất là con gái. Chắc là con sẽ trở thành phụ nữ tự tin, bản lĩnh nhưng con vẫn sợ, nếu con yêu người đó làm sao con bảo vệ cha mẹ khi người ta khinh con. Nhưng con có thể bảo vệ em nếu nó bị vậy.

Chắc mai mắt con sưng, chưa biết con có vui nổi vào ngày 8/3 không?

Ngày 7/3/2012
Con gái của mẹ

Gia đình trí thức Hà Nội (kỳ cuối)

Written By kuxh on 25/10/2011 | 05:00

Câu chuyện mà cụ Can kể về thời kỳ sau giải phóng tập trung vào những thời điểm khi cụ thấy mình là một nhân vật chủ chốt trong việc đảm bảo tính hiện đại mới mẻ, nhất là những nếm trải mà cụ mô tả trong thời kỳ ngay sau chiến thắng Điện Biên Phủ. Tất cả đều là những cuộc chạm trán liên quan đến việc đòi lại những không gian mà người Pháp từng tuyên bố là lĩnh vực chủ chốt trong mission civilisatrice (sứ mệnh khai hóa văn minh) của họ. Rất nhiều người coi "sứ mệnh khai hóa văn minh " này là sự ban phát quà tặng văn hóa một chiều thuộc loại quan hệ trao đổi chắc chắn là không bình đẳng và gây mất phẩm giá của chủ nghĩa thực dân [1]. Do đó thật đáng chú ý là cụ Can kể câu chuyện kết thúc chiến tranh của mình như một người "hiện đại" tận tụy đang cố gắng đảm bảo chắc chắn rằng vốn văn hóa của quốc gia sẽ được đặt trong tay những người có chủ quyền một cách chính đáng.
Ổ khóa, chìa khóa và việc mở toang tất cả những không gian trước đó vẫn cửa đóng then cài nổi bật lên trong các câu chuyện kể của cụ.
 (Ảnh : minh họa – Nguồn : Internet)
Một tuần sau khi tuyên bố về chiến thắng Điện Biên Phủ, cụ Can được trao hàng loạt nhiệm vụ tiếp quản dọc theo một tuyến đường đưa cụ từ mặt trận liên khu IV đến các huyện vùng trung tâm Hải Phòng vừa được giải phóng. Cụ nhớ rằng có những cán bộ khác thực hiện nhiệm vụ tương tự dọc theo cùng tuyến đường ấy. Mệnh lệnh đưa ra cho các đồng chí của cụ liên quan đến các đồn cảnh sát, nhà băng và cơ quan chính quyền; còn của cụ là giành quyền sở hữu các thư viện, trường học và sân chơi thể thao. "Pour moi: les écoles, le sport, les choses de culture - on dit ca, et je comprends bien: pour les jeunes, pour tout le mond" (Đối với tôi [công việc của tôi] là: trường học, thể thao, những gì thuộc về văn hóa. Người ta bảo tôi, và tôi hiểu rõ: cho thanh thiếu niên, cho tất cả mọi người).
Ổ khóa, chìa khóa và việc mở toang tất cả những không gian trước đó vẫn cửa đóng then cài nổi bật lên trong các câu chuyện kể của cụ. Nhưng đây không phải là những câu chuyện về việc bắt buộc mở cửa nhà ngục Bastilles, hay sự hất đổ chủ nghĩa hiện đại đầy tính kỷ luật khe khắt và trấn áp. Trái lại, chúng là những câu chuyện kể đầy tự hào mang tính tích cực về một đất nước được giải phóng để trở thành chính mình. Một tình tiết cụ nhắc đi nhắc lại là khi cụ đến một làng gần Hà Nội để giành quyền sở hữu bibliothèque populaire (thư viện công cộng) của nó. Tài sản của "thư viện nhân dân" khiêm tốn này thật hiện đại: sách báo tiếng Pháp và chữ quốc ngữ [2] .
Cụ Can nói cụ thấy người trông nom tòa nhà là một sĩ quan Pháp trẻ đang hoảng sợ và một ông gác gian người Việt. Người trông nhà giữ chùm chìa khóa và định giao lại nó. "J'ai dit: non, Monsieur - donnez-les lui" (Tôi bảo [người trông nhà] Này ông, không; đưa chùm ấy cho nó - tức là cho tên Pháp). Cụ giải thích rằng làm việc này là để đảm bảo chắc chắn rằng với tư cách là người đại diện cho quốc gia, cụ đã trực tiếp giành quyền sở hữu từ tay một kẻ thù đã bại trận.
Đấy là một cuộc chạm trán trong đó mọi khả năng để có sự ấm áp tình người và giao tiếp xã hội đã bị cắt giảm: nghi thức nghiêm khắc, không một nụ cười đối với viên sĩ quan Pháp, và sự nồng ấm đầy trân trọng đối với người trông nhà già cả. Cụ bảo cụ chỉ nói một câu cộc lốc với viên sĩ quan trẻ, và tự hào là cụ có thể làm như vậy bằng tiếng Pháp chuẩn xác: "Vous m'avez renvoyé notre clef" ("Ông đã trả lại chìa khóa của chúng tôi cho tôi"). Như vậy đây là câu chuyện về việc sửa sai thành đúng, kẻ bắt nạt phải hạ mình, và quyền lực bị biển thủ được người chiến thắng đoạt lại một cách chính đáng.
Không hề có bạo lực; đấy là thời điểm quyền lực càng có hiệu quả vì nó được thực thi một cách có kỷ luật và kiềm chế. Như cụ Can kể chuyện, cụ là người có quyền lực; viên sĩ quan Pháp vô danh là thằng bé phải hạ mình. Và bằng việc khước từ đối thoại với viên sĩ quan Pháp, cụ đã ngăn chặn để thời điểm giành đoạt lại tài sản khỏi trở thành hành động tặng quà, dù là loại quà mà các nhà nhân học mô tả là xác lập ưu thế bề trên của người tặng hay loại xác nhận quan hệ qua lại và đôi bên cùng có lợi giữa người cho và người nhận [3]. Nếu là quà, thì loại quà nào đi nữa cũng đều hạ phẩm giá cả cụ lẫn quốc gia. Một khi đã xác lập được rằng chùm chìa khóa là để quốc gia lấy lại, chứ không phải để người Pháp ban cho, thì mới có thể có "một món quà đích thực từ trái tim" theo tinh thần yêu mến lẫn nhau. Đây là việc chuyển giao thư viện cho quốc gia của ông Can, một người hiện đại được khai sáng, biết dùng tri thức và kỹ năng của mình vì lợi ích của quốc dân đồng bào.
Không ai trong số bạn bè tôi nghi ngờ về giá trị của những nơi chốn như thế, hay cho rằng hệ thống tri thức của họ là từ nước ngoài quá xa lạ, không sử dụng được ở Việt Nam. Họ cho rằng người Việt Nam có nhãn quan đủ sáng để biết chọn lọc khi trưng dụng, và có thể làm thế mà không hề mất lòng tin vào tư duy và kiến thức của chính họ. Theo quan điểm của họ, cái sai và không chính đáng là những tuyên bố của người Pháp và thậm chí của một số người thuộc phe xã hội chủ nghĩa ở nước ngoài rằng có những hình thái tri thức và khoa học mà chỉ có người Pháp hay người nước ngoài trong khối xã hội chủ nghĩa mới độc quyền sở hữu hoặc truyền bá.
Đối với những người bạn của tôi từng làm chuyên gia thì chủ đề chia sẻ và cống hiến trên vũ đài quốc tế có ý nghĩa cực lớn. Khi người Việt Nam giành quyền sở hữu thư viện, trường học và bệnh viện, điều họ thể hiện dưới hình thái một thứ tri thức có sức mạnh tạo nên quyền lực đã trở thành một dạng vốn văn hóa, và vốn này phải được chia sẻ với thế giới bên ngoài. Thông qua những hành động làm chủ này, nhà nước và nhân dân được trang bị để trở thành người ban tặng và nhà từ thiện theo tinh thần xã hội chủ nghĩa cho những ai cần họ ở tất cả mọi nơi họ đến với tư cách người trợ giúp và chuyên gia kỹ thuật [4]. Về điểm này ý nghĩa tình cảm của vốn văn hóa như vậy nổi lên rất rõ rệt. Tôi coi phe xã hội chủ nghĩa như vũ đài vừa được kiến tạo thông qua tình cảm qua lại và ý nghĩa đối với trái tim, vừa thông qua những hoạt động thực tiễn chủ định làm nền cho nó.
Điều này cũng đúng với đối với những tu duy chính thống ngày nay về cuộc sống mà người Việt Nam được kêu gọi nên sống trong một thế giới "chủ nghĩa xã hội thị trường" toàn cầu hóa. Với tư cách là những người tham gia công cuộc tìm kiếm thị trường xuất khẩu và cơ hội có công ăn việc làm cho lực lượng lao động lành nghề và nửa lành nghề của cả nước, người Việt Nam đang được khuyến khích coi câu chuyện của các chuyên gia đi khắp thế giới là một mô hình mẫu mực về sự phục vụ tận tụy trong sự nghiệp của quốc gia.
Và như báo chí bây giờ vẫn thường đưa tin, chính những nước có nhu cầu và đã từng hưởng lợi từ sự phục vụ của các thầy thuốc và các chuyên gia được đào tạo bài bản về hiện đại hóa khác của Việt Nam trong mấy thập kỷ trước bây giờ cũng vẫn là những nước hưởng lợi từ những hành động cống hiến đáng hoan nghênh ngang bằng như vậy. Điều nổi bật lên từ những bản tin như vậy là những câu chuyện kể về việc cung cấp lao động và xuất khẩu sang những nước mà bây giờ Việt Nam đang vun đắp những thoả thuận về thương mại và xuất khẩu lao động; một tinh thần yêu thương và chăm lo như trong một gia đình vẫn đang là nguyên tắc chỉ đạo các hoạt động này. Trong các gia đình trí thức, điều này tạo ra rất nhiều điều đáng suy nghĩ vì việc quốc gia bước sang giai đoạn mới và câu chuyện mới cho phép có thể phục vụ quốc gia dưới hình thức kiếm công ăn việc làm trong khối tư nhân và thiết lập các doanh nghiệp tư. Do đó không có gì lạ là giống như trong quá khứ khi các hộ gia đình tập hợp lại để bàn những thách thức của việc tản cư ra liên khu và của việc sau này phải chia tay và sống xa cách giữa những nơi chốn thuộc phe xã hội chủ nghĩa, những quá trình kể chuyện vẫn là một thành tố cực kỳ quan trọng của đời sống trí thức. Cả bên trong và bên ngoài hộ, gia đình trí thức vẫn tiếp tục là đơn vị ký ức có tinh thần phê phán, biết suy chiếu vào bản thân, tạo dựng một cách thành thạo và có chọn lọc trên sự hiểu biết những công lao của họ hàng mình trong quá khứ. Khi làm như vậy, họ tạo ra một bối cảnh đạo đức cho những khát vọng giáo dục và công danh của họ trong hiện tại.
Tôi đã cố gắng cho thấy rằng trường hợp các gia đình trí thức Hà Nội là một nguồn thông tin từ đó chúng ta có thể có những hiểu biết đáng quý về các chủ đề được tranh luận sôi nổi cả bên trong lẫn bên ngoài ngành nhân học. Việc nghiên cứu các nước thuộc địa cũ hiện vẫn mắc kẹt trong những ý tưởng đơn giản hóa về "tư duy thực dân hóa" và "diễn ngôn chịu ảnh hưởng của tư duy này". Đây là những nhận định đáng nghi ngờ về sự hình thành bản sắc của những người sở hữu và triển khai vốn trí tuệ dưới hình thức mà nhiều người vẫn coi là tài sản cơ bản của khối công dân thành đạt của một quốc gia hiện đại. Tôi đã cố gắng chứng minh rằng không thể quy giản giới trí thức Hà Nội về quan niệm rập khuôn một chiều, một quan niệm bắt rễ trong những ý tưởng về quyền lực của tri thức khoa học và văn học hiện đại, để dập tắt tiếng nói "đích thực" của những người bản địa bên dưới.
Về những chủ đề này tôi chịu ảnh hưởng rất nhiều của nhiều tác phẩm mang tính phê phán về thời hậu thực dân, nhất là của Cooper và Dirlik [5]. Tôi tin rằng Việt Nam xứng đáng được nói đến nhiều hơn thế trong những cuộc tranh luận này. Giới trí thức của họ đã thành hình cả trước và sau khi độc lập trên một quy mô rộng hơn nhiều so với cách xác định hạn hẹp về bản thân (seft) và tha nhân (others) theo kiểu kẻ thực dân và người bị trị. Điều tôi tìm thấy ở Hà Nội là những khung quy chiếu vốn được nuôi dưỡng thông qua những quá trình khám phá và chiếm hữu rất rộng lớn. Những khung đó thành hình thông qua sự gắn bó nhiều mặt với những lý tưởng và điểm quy chiếu mà tôi gọi là phe xã hội chủ nghĩa thế giới. Đối với người trí thức Hà Nội "hiện đại", đây là một thế giới trong đó những trải nghiệm về di sản của chủ nghĩa thực dân đan xen và thâm nhập với nhiều hình thái của chủ nghĩa xã hội mà họ rất thông thạo. Tôi đã cố gắng nêu rõ rằng đời sống trí thức Hà Nội được xác định xung quanh một cảm thức đặc biệt mạnh mẽ về sứ mệnh phải thay mặt họ hàng và quốc gia để tương tác hữu hiệu với những địa điểm và nguồn lực toàn cầu này.
Do đó tôi đã cố gắng vẽ nên ý nghĩa đặc biệt của đời sống gia đình đối với việc sống cuộc sống toàn cầu đầy thách thức này [của giới trí thức]. Khi lập luận rằng các gia đình trí thức, như là những đơn vị tạo dựng ký ức và có tính chủ động tích cực, đang chia sẻ cùng nhau những cuộc sống sáng tạo, tôi đã cố gắng gắn việc nghiên cứu tính hiện đại của Việt Nam với môn Nhân học nghiên cứu về bản sắc và sự liên kết gắn bó, một môn Nhân học vốn đang mở rộng nhanh chóng. Mối quan tâm chủ chốt của tôi là phẩm chất chủ động tích cực cả bên trong lẫn bên ngoài gia đình thông qua hành động kể chuyện. Tôi cho rằng trong bối cảnh này các qúa trình kể chuyện diễn ra trong lĩnh vực vốn chẳng phải hoàn toàn riêng tư hay gia đình mà cũng không phải là sản phẩm của quyền lực chính thống. Và tôi cũng đã cố gắng nêu rõ rằng giới trí thức Hà Nội là một thế giới trong đó trí tuệ vẫn còn được coi là một vốn văn hóa đầy sức mạnh mà người ta cần triển khai vì những mục tiêu đạo đức. Đây là những mục tiêu mà trong thế giới của chủ nghĩa xã hội thị trường sau đổi mới ngày nay vẫn có nhiều giá trị y như trong thời kỳ cách mạng và nổi dậy chống thực dân mà những người kể chuyện cho tôi nghe còn nhớ như in và kể thành chuyện để khai sáng cho lớp trẻ cũng như cho cả quốc gia nói chung.


[1]     Xin xem thêm Comaroff (1996) chẳng hạn. Về ngôn từ văn minh hóa ở Việt Nam, xin xem Bradley (2004).
[2]     Thư viện này và phòng đọc gắn liền với nó rất điển hình cho những toà nhà xây những năm (1940) với mục đích thể hiện nước Pháp thời Vichy như một nhà nước thực dân khai sáng. Xin xem Raffin (2005).
[3]     Về các chiến lược "lên" và "xuống" trong tặng quà, xin xem Smart (1993); Yang (1994); Kipnis (1996); Yan (1996).
[4]     Do giới hạn của bài viết, nên không thể thảo luận đầy đủ về những khía cạnh khách của trải nghiệm chuyên gia mà tôi đã ghi nhận trong các bài viết khác, bao gồm cả vấn đề nhạy cảm về việc sống ở nước ngoài trong những năm tiền Đổi mới như là một cơ hội cho các “chuyên gia” cải thiện đồng lương nhà nước khiêm tốn của họ bằng cách tham gia hoạt động buôn bán và kinh doanh. Quá trình đánh giá đầy gay gắt và đạo đức hóa những hoạt động này được bàn luận trong các bài viết của Bayly (2004 và 2007). Tương tự như vậy là thái độ không rõ rệt trong chuyện kể về trải nghiệm của họ tại các quốc gia Châu Phi nhận hỗ trợ và được sự hướng dẫn của “chuyên gia”. Cũng không có gì ngạc nhiên khi có những bậc lão thành đã lớn lên trong truyền thống theo cả kiểu Pháp và Xô viết về chủ nghĩa toàn cầu hiện đại. Họ là những người thật sự có thái độ trịch thượng về sự “lạc hậu” của những quốc gia “nghèo túng” mà họ đang làm việc, đặc biệt là những dân tộc mà họ xem là thiếu các phẩm chất anh hùng của quốc gia cách mạng. Đấy là thứ mà họ cho là một đặc điểm nổi bật chủ chốt của tổ quốc và đồng bào họ. Một số người khác thì lại có một cái nhìn hơi khác hơn. Một mặt những cá nhân này nhớ lại một cách trìu mến những trí thức bạn bè thuộc nhóm Pháp ngữ tại những nơi như là ConakryAntananarivo. Tuy nhiên, họ cũng ý thức một cách không thoải mái rằng vài quốc gia mà họ và họ hàng của họ hoặc là bạn bè họ đã được cử đi trong những năm 1980 và 1990 - nổi bật là Algeria – giàu có hơn nhiều so với Việt nam. Vì vậy đây là những nơi mà các bác sỹ và các chuyên gia khác của Việt Nam đã thấy họ được đối xử như là bạn bè và bình đẳng bởi các kiều dân nói tiếng Nga từ các quốc gia như Ba Lan và Romania, trong khi lại bị các ông chủ địa phương tại Annaba hay Algiers nhìn với một thái độ khinh bỉ của tân thực dân. Đấy là một kí ức đau buồn từ những trải nghiệm của họ về những người Nga kì thị chủng tộc công khai, những người đã bất đắc dĩ được cử đến Việt Nam trong thời trước khi Thống nhất.
[5]     Kaplan và Kelly (1994) cũng coi sự lưu chuyển văn hóa thực dân là sự trao đổi và tương tác mang tính chất đối thoại.
Susan Bayly
Người dịch: Phạm Văn Bích
Người hiệu đính: Trương Thị Thu Hằng và Lương Văn Hy 

Gia đình trí thức Hà Nội (kỳ 6)

Written By kuxh on 24/10/2011 | 05:00

Bây giờ tôi trở lại với chủ đề mà tôi đã nêu ra ở trên, tức chủ đề về sự ăn khớp giữa hai ý tưởng mạnh mẽ đang thịnh hành rộng rãi ở Hà Nội ngày nay. Đầu tiên là ý tưởng coi gia đình trí thức là một chủ thể có tư duy và có tình cảm, luôn vận động có mục đích qua thời gian; và ý tưởng thứ hai coi quốc gia Việt Nam là một thực thể đạo đức riêng, đang sống một cuộc sống có mục đích trong một cảnh quan lịch sử hùng tráng. Vũ đài cuộc sống của quốc gia mà người ta tưởng tượng và ghi nhớ này bao hàm cả cuộc sống ở nhà lẫn những không gian toàn cầu xa xôi mà tôi gọi là không gian của phe xã hội chủ nghĩa thế giới. Dưới cả hai hình thái lịch sử và hiện tại của nó, điều này bao hàm việc theo đuổi những mục tiêu đức hạnh theo tinh thần nuôi dưỡng những nguồn lực, tinh thần mà người công dân hiện đại nên nêu gương thông qua sự phục vụ cả trong lẫn ngoài gia đình. Như vậy, những công việc gương mẫu ở cấp quốc gia này vừa tái tạo vừa thể hiện cô đọng những phẩm chất quyết định của đời sống trí thức, kể cả những phẩm chất tình cảm và trí tuệ mà những người kể chuyện cho tôi nghe coi là lý tưởng ngày nay cũng như vào thời các bậc lão thành cách mạng của họ.

Cụ coi vốn văn hóa đã tích luỹ là một nguồn tài nguyên cần được sử dụng vì lợi ích của những người khác xứng đáng, chứ không vì mưu lợi cá nhân. (Ảnh: minh họa – Nguồn: Internet)
Tôi xin minh họa những điều này bằng việc quay về những câu chuyện hấp dẫn của người lớn tuổi nhất trong những nhà trí thức nói chuyện với tôi, một ông lão chín mươi tuổi mà vẫn còn rất khang kiện, người mà tôi gọi là cụ Can. Trước khi tôi gặp cụ, cụ thường được nhắc đến như là một trong những người Hà Nội đầu tiên thạo tiếng Pháp được tuyển chọn đi làm chuyên gia về phát triển ở các nước xã hội chủ nghĩa châu Phi "thân hữu". Những câu chuyện của cụ dạy tôi rất nhiều về cách thức kiến tạo cuộc sống trí thức Hà Nội qua những chuyện kể nêu gương, trong đó những hành động có mục đích như lìa xa gia đình và những hành động hi sinh khác vừa tượng trưng cho đời sống đạo đức của quốc gia vừa tích cực kiến tạo nó.
Rất nhiều người nói về cụ Can như là một đại diện của cả tính liên tục lẫn sự biến đổi của giới trí thức thành đạt và dịch chuyển nhiều của Hà Nội. Người ta mô tả cụ là người có nhiều kỷ niệm về sự phục vụ cả trong lẫn ngoài nước, có một loại kỹ năng và giá trị vẫn có thể trang bị cho người Hà Nội khả năng đáp lại những thách thức của "chủ nghĩa xã hội thị trường" ngày nay. Cụ là một trong những người tôi biết vẫn thường xuyên coi Chủ tịch Hồ Chí Minh như là mẫu mực và hệ quy chiếu; những người thường đưa vào câu chuyện của họ những trích dẫn từ các bài viết và diễn văn của Người, và đã chuẩn bị gặp tôi bằng việc sưu tập hàng chồng hồ sơ bao chứa những bức ảnh và những vật kỷ niệm khác của gia đình, cũng như những thứ như báo cắt về cuộc đời và sự nghiệp của vị Chủ tịch. Đặc biệt nổi bật là những vật lưu niệm vốn gắn liền những trải nghiệm đời sống cá nhân với những sự kiện lớn hoành tráng của đời sống quốc gia.
Người ta thường bảo tôi rằng chính Chủ tịch Hồ Chí Minh là người xác định mục đích của đời sống trí thức đối với quốc gia hiện đại, đặt lòng tin vào những người được chọn để thực hiện những nhiệm vụ mà Người giao cho họ. Những câu chuyện của nhiều người đều nêu bật việc Hồ Chí Minh đích thân chọn lựa họ hay các vị lão thành trong gia đình họ để phục vụ sự nghiệp quốc gia, trao đổi với họ hoặc bằng thư từ - với những văn bản bây giờ vẫn được lưu giữ như là những kỷ vật quý báu - hay vào những thời điểm tiếp xúc trực tiếp quý báu khi Người thổ lộ ý muốn của mình với cá nhân mà Người chọn. Người ta nhấn mạnh rất nhiều ký ức về những cuộc gặp gỡ trực tiếp này; nó biến công việc tuyển lựa thông thường thành sự giao phó một sứ mệnh.
"Chủ tịch Hồ Chí Minh gọi cha tôi đến [vào năm 1946]. Người cần cha tôi. Người biết rằng cha tôi muốn vào Đảng. Nhưng Người bảo cha tôi: Không, chú không được vào. Trong chính phủ phải có những người ngoài Đảng, vì chúng ta là một mặt trận thống nhất".
Đây là điều một trí thức Hà Nội nói về cha mình, một học giả đã trở thành nhân vật chủ đạo trong chiến dịch xóa nạn mù chữ.
"Bác Hồ gọi tôi đến phòng làm việc của Người; Người nói, Tôi cử chú đi Guinea. Người nói cho tôi biết Người muốn gì ở tôi. Tôi nói: Thưa Bác, cháu sẽ đi".
Những câu chuyện như thế thường nhấn mạnh những hi sinh riêng tư và nỗi đau mà người ta sẵn lòng chịu đựng, như trong lời kể của cụ Can mà trên đây tôi đã trích.
"Thưa Bác, con trai cháu ốm và cháu khó mà xa nó. Nhưng cháu biết Bác cần cháu. Cháu sẽ đi.” tôi nói. Bác Hồ cầm tay tôi. Tôi biết rất khó, nhưng tôi biết Người cần tôi ra đi vì Người".
Đây là điều đầu tiên cụ Can kể cho tôi nghe về việc cụ được cử đi làm tham tán văn hóa tại Conakry năm 1962. Điều gây ấn tượng nhất về những hồi tưởng của cụ là cụ coi vốn văn hóa đã tích luỹ là một nguồn tài nguyên cần được sử dụng vì lợi ích của những người khác xứng đáng, chứ không vì mưu lợi cá nhân. Cụ Can là người đầu tiên trong số những người du hành thế giới thuộc giới trí thức đã kể tỉ mỉ cho tôi nghe về cuộc đời phục vụ của cụ. Tôi gặp cụ thông qua một người bạn, và cha người bạn này, một học giả Hà Nội, biết rất rõ về cụ Can khi họ cùng làm việc với nhau trong những năm 1950. Khi tôi gặp cụ năm 2002 trong căn hộ đầy sách ở Hà Nội, cụ vẫn còn nói lưu loát tiếng Pháp, và vẫn ăn nói rõ ràng, không mệt mỏi sau nhiều giờ nói chuyện. Trong kháng chiến chống Pháp, cụ là chính trị viên Việt Minh. Cụ xuất thân từ một làng gần Hà Đông; gia đình cụ quá nghèo để mơ học vấn lycée cho cậu con trai tài năng của họ. Do vậy khi còn là một thiếu niên trong những năm 1930, cụ đã trở thành một người tự học, trau chuốt tiếng Pháp ở nhà với một quyển từ điển Larousse lần giở nhiều đã cũ mòn, chính loại từ điển mà một người bạn Hà Nội khác của tôi vẫn nhớ lại như một báu vật thời thơ ấu ở vùng liên khu.
Tuổi 18, cụ Can trở thành gia sư cho một gia đình giàu có; cụ nhăn nhó nhớ lại rằng con trai gia đình đó không bao giờ cảm ơn cụ vì đã đảm bảo cho việc cậu ta thi đỗ vào trường lycée. Vào cuối những năm 1930, cụ chọn con đường mà nhiều người có xuất thân gia đình tương tự đã đi: từ gia sư làng trở thành thư lại bấp bênh ở Hà Nội, rồi được mạng lưới nửa bí mật của các lớp xoá mù chữ của Đảng tuyển chọn làm giáo viên cho công nhân đô thị, rồi tiếp nữa vào Đảng. Điều này đã dẫn tới việc phục vụ trong công tác xoá nạn mù chữ trong quân đội thời chiến. Cha mẹ cụ và tất cả anh chị em cụ đều "vào rừng" (đây là câu nói thường được dùng để chỉ sự chuyển cư vào vùng liên khu). Sau giải phóng, cụ vẫn tiếp tục phục vụ trong guồng máy hành chính nhà nước. Chính nhờ biết tiếng Pháp mà cụ đủ tiêu chuẩn đi phục vụ ở Guinea, một trong những nước xã hội chủ nghĩa châu Phi chủ chốt mà Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao và chiến lược trong những giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Chính việc xoá bỏ tiếng Pháp trong giảng dạy và trong chính quyền đã mang lại cho kỹ năng ngôn ngữ của cụ Can một giá trị như một vốn văn hóa đối với quốc gia cách mạng mới. Trong những năm đầu sau giải phóng, những người nói tiếng Pháp được cử vào những đoàn đi nước ngoài và công tác ngoại giao theo kiểu giải pháp tình thế mà cụ Can đã trải qua; sau khi đất nước thống nhất, việc tuyển lựa những người nói tiếng Pháp trở thành chính sách chính thức. Chiếm vị trí trung tâm trong những điều nếm trải của nhiều trí thức Hà Nội là thực tế này: trong những năm 1980 và đầu những năm 1990, việc này kéo theo sự phục sinh có hệ thống việc dạy tiếng Pháp. Mục đích của nó là củng cố chương trình gửi "chuyên gia" đi kiếm tiền về, qua đó Việt Nam có thể chứng tỏ với thế giới xã hội chủ nghĩa bên ngoài rằng công dân của họ đã được trang bị tốt để đưa những tài năng khoa học và kỹ thuật hiện đại đến những nước mà cho đến nay còn "chưa phát triển".
 (còn tiếp)
Susan Bayly
Người dịch: Phạm Văn Bích
Người hiệu đính: Trương Thị Thu Hằng và Lương Văn Hy

Gia đình trí thức Hà Nội (kỳ 5)

Written By kuxh on 23/10/2011 | 05:00

     Học sinh sinh viên và thanh thiếu niên từ những gia đình bạn bè thân hữu là những người tham gia quan trọng vào những cuộc trao đổi của chúng tôi. Người ta coi trọng việc giới trẻ biết và đánh giá đúng kinh nghiệm của các bậc trưởng thượng cũng như kỹ năng chơi chữ thành thạo và kể chuyện giàu sức liên tưởng - những điều vốn được đánh giá cao trong giới trí thức. Những cuộc trao đổi của chúng tôi diễn ra tại nhà của người kể chuyện, và trên đường di chuyển giữa các cột mốc ở Hà Nội mà những người kể chuyện cho tôi coi là nơi chứa đựng ký ức cá nhân và tập thể của họ. Chúng tôi cũng nói chuyện trong thời gian chúng tôi thăm nơi có kỷ niệm về thời thơ ấu trong chiến tranh cùng những năm đầu ở liên khu trong sự nghiệp của họ. Do vậy những câu chuyện này là một phần của quá trình trao truyền tri thức có mục đích vốn là một thành tố quan trọng của đời sống trí thức Hà Nội, trong đó cả thông tin trao truyền lẫn bản thân hành động kể chuyện đều là phương tiện để duy trì và nuôi dưỡng sự gắn bó về tình cảm và thực tiễn - những điều xác định giới trí thức và gắn liền gia đình họ với những liên minh rộng hơn, vượt ra ngoài địa phương.

Những câu chuyện này là một phần của quá trình trao truyền tri thức (Ảnh: minh họa- Nguồn: Internet)
Như tôi đã nói, đề tài trung tâm trong những câu chuyện của những người kể chuyện cho tôi bao gồm đời sống gia đình và nhà trường trong những năm kháng chiến chống Pháp và sự chia lìa và rời bỏ đầy đau đớn mà những thanh thiếu niên được cử đi học tại những trường học nổi tiếng thời chiến cho con em cán bộ tại Quế Lâm ở miền Nam Trung Quốc phải nếm trải cũng như những chuyến đi xa mệt lử người. Việc cung cấp và giành đạt được tri thức và bằng cấp học đường trong những thập niên gần đây hơn, nhất là những năm "bao cấp" trước đổi mới cũng là đề tài nổi bật. Đây là giai đoạn mà điều phổ biến đối với cả nam lẫn nữ xuất thân trong môi trường trí thức đều là làm việc hoặc học tập trong những thời kỳ dài ở Liên Xô và các nước khác trong khối SEV. Người ta cũng nhấn mạnh rất nhiều kinh nghiệm làm việc lâu năm với tư cách là "chuyên gia" ở nước ngoài, để thu lấy tiền về cho ngân khố quốc gia với tư cách là chuyên gia về phát triển và trong những chương trình trợ giúp ở Algeria, Guinea và các nước hậu thuộc địa khác mà Việt Nam vốn có lịch sử quan hệ "hữu nghị" xã hội chủ nghĩa lâu dài.
Những chuyến lưu trú như vậy và sự chia ly đó đã in dấu ấn sâu đậm lên đời sống gia đình trí thức, khiến các hộ này có nét rất khác với những hộ vốn được coi là đơn vị gia đình thông thường ở Việt Nam. Việc này khiến cho khi kể chuyện về những trải nghiệm chung này, điều hết sức quan trọng là cần nói tới sự trung thành bền bỉ với những truyền thống của cả gia đình lẫn quốc gia cách mạng (Bayly 2004)
Giới trí thức thấm nhuần ý tưởng coi gia đình như là hiện thân sinh động của truyền thống cách mạng, và coi đời sống trí thức như một sứ mệnh gia đình mà cả nam lẫn nữ đều tích cực, nếu không nói là bình đẳng như nhau, cùng chia sẻ. Một trong những nét thường được nhắc tới nhất thuộc bản sắc riêng của trí thức là trong gia đình có những người phụ nữ có học. Thường điều này bắt đầu vào những năm 1920 hay 1930, khi một số lượng nhỏ nhưng đáng kể phụ nữ lọt được vào những thể chế then chốt của nền giáo dục Pháp - Việt: các trường trung học địa phương và các trường lycées (trung học) tại các đô thị, và các trường sư phạm, nổi bật nhất là cơ quan đào tạo giáo viên hàng đầu ở Đông Dương, trường Hanoi Ecole Normale.
Đây không phải là những câu chuyện mà các nhà cách mạng tận tụy bác bỏ quan hệ gia đình để đạt đến những liên minh cao siêu của tình đồng chí ái quốc và tình đoàn kết giai cấp tiến bộ. Nó cũng không gợi lên một thế giới quyền lực của nam giới trong đó phải hiểu những gì thanh thiếu niên có học và các thành viên nữ trong nhà làm chỉ là chuyện của những kẻ bề dưới ngoan ngoãn thay đổi mình cho khớp với lý tưởng về tinh thần trách nhiệm và sự tự tu dưỡng - như hệ thống gia trị gia trưởng quy định [1]. Trái lại, với những câu chuyện họ kể về thanh thiếu niên học giỏi ở trường và phụ nữ thành đạt, điều họ muốn nói là một cách nhìn coi gia đình trí thức hiện đại là một dự án cách mạng tích cực, trong đó cả phụ nữ cũng như nam giới đều phải được coi là những người tham gia tích cực vào cuộc sống mẫu mực về tư tưởng và hành động.
Đây chắc chắn là điều được phản ánh trong những câu chuyện tôi nghe từ những người họ hàng trẻ tuổi vốn kính phục một nữ bác sĩ học ở Liên Xô về mà tôi gọi tên là bác sĩ Lan. Cha mẹ và chú bác cô dì của bác sĩ Lan nằm trong thế hệ đầu tiên của trường lycée nói tiếng Pháp. Tất cả đều đi theo sự nghiệp của Việt Minh trong những năm đầu cuộc chiến tranh giải phóng 1946-1954. Cùng với con cái họ và nhiều bạn bè thân và người cùng học trường lycée, hầu hết trong số họ đã sống chín năm kháng chiến ở các vùng giải phóng (liên khu) của Việt Minh, hầu hết ở Thanh Hóa thuộc liên khu IV, một nơi nổi tiếng về hoạt động giáo dục và văn hóa thời chiến (Đặng Phong 2002; Ninh 2002) [2]
Một điều mà ai cũng nói là chính những người hữu quan - nam cũng như nữ, kể cả trẻ em - đều coi những hành động trên là sự lựa chọn của họ trên cơ sở suy ngẫm và thảo luận sôi nổi trong gia đình, chứ không phải sự ra lệnh của Đảng hay những cụ ông trong nhà. Khi mô tả những hành động làm thay đổi cuộc đời họ là di chuyển từ Hà Nội ra liên khu, người ta nói "Mẹ tôi đi" hay "Cha mẹ tôi đã quyết định", chứ không bao giờ nói "Các cụ nhà tôi bị điều đi" hay "Mẹ tôi và bọn trẻ con bị đưa đi".
Như trong mô tả của những thanh thiếu niên, những người nói tới bà một cách nồng nàn và trìu mến như là một tấm gương mẫu mực về sự thành công trong cả gia đình lẫn quốc gia, thì Bác sĩ Lan và em gái bà nằm trong một trong những nhóm đầu tiên của con em cán bộ mở cuộc du hành hiểm nghèo xuyên quốc gia đến Quế Lâm trong kháng chiến chống Pháp. Ngay cả những hành động liên quan đến những trẻ em rất nhỏ cũng được người ta kể như là do những người hữu quan lựa chọn và khởi xướng. Sau khi hoàn thành những năm học phổ thông thời chiến ở Trung Quốc, và sau đó là khóa đào tạo ngành y ở Hà Nội sau chiến tranh và ở Moscow, và như lời một người họ hàng trẻ của bà kể với tôi, bà là một trong những phụ nữ Việt Nam đầu tiên được đào tạo làm phi công, khi bà biết rằng sẽ có những suất học trong một lớp huấn luyện do một đơn vị cố vấn quân sự của Czech đóng gần Hà Nội mở, và bà hăm hở tiếp nhận việc huấn luyện bay.
Vào khoảng đầu những năm kháng chiến chống Mỹ 1961-1973, Bác sĩ Lan kết hôn với một nhà khoa học xuất thân từ một gia đình trí thức Hà Nội khác. Công việc phục vụ thời chiến của bà bao gồm những chuyến xa nhà rất lâu để điều hành bệnh viện quân y ở tiền tuyến, và đi những chặng dài dọc theo mạng lưới đường tiếp tế nổi tiếng mang tên đường mòn Hồ Chí Minh. Đến những tuần lễ cuối cùng của lần mang thai thứ hai, bà vẫn phục vụ ở một trong những khu vực bị ném bom ác liệt nhất ở vùng chiến sự, tức Vĩnh Linh, vùng có một trong những địa đạo quân sự nổi tiếng nhất thời chiến. Bác sĩ Lan được phép đi một chuyến đi đầy khó khăn về Hà Nội để sinh con, và bà lên bàn đẻ vào thời điểm cao trào của cuộc ném bom khét tiếng dịp lễ Giáng sinh năm 1972.
Cả cách kể lại những câu chuyện này cũng như nội dung hấp dẫn của nó đều gắn liền một cách trực tiếp với mối quan tâm của tôi đến gia đình trí thức như là một công trình chung với những sáng kiến chủ động và hoạt động hữu ích mà mới thoạt nhìn có vẻ mâu thuẫn với việc thừa kế và tái tạo bản sắc trí thức hiện đại. Nhưng giống như những phụ nữ có học khác mà tôi biết, Bác sĩ Lan nói về mình như là một người tích cực chia sẻ bản sắc này. Những người khác, nhất là những bà con họ hàng trẻ của bà, cũng nói về bà một cách tự hào như là người cống hiến chủ chốt vào đời sống của họ với tư cách một gia đình trí thức, bằng cả tấm gương của chính bà về sự thành đạt trên đường công danh lẫn bằng sự hỗ trợ của bà cho việc giáo dục các thành viên khác trong gia đình. Việc này bao gồm cả sự hỗ trợ về tinh thần tình cảm lẫn việc bà trích tiền lương quân đội để góp trang trải học phí cho anh em trai và chồng.
Đây là những loại phân biệt nghề nghiệp theo giới mà trong nhiều bối cảnh Đông Nam Á đã bị coi là đẩy phụ nữ xuống những phạm vi kiếm sống và hoạt động kinh doanh thấp hơn, và nhờ thế cho phép nam giới trong nhà tự do sống một cuộc sống cao vọng hơn: trong quá khứ đó là cuộc sống của một học trò chuẩn bị đi thi để làm quan, còn trong thời gian gần đây hơn là một học giả hiện đại [3]. Đây không phải quan điểm của những phụ nữ mà tôi biết. Những phụ nữ trẻ càng đặc biệt đánh giá cao khi nói về thành tích của phụ nữ trong gia đình lớn tuổi, những bậc tiến bối đã sống trọn đời là sĩ quan quân đội hay là "chuyên gia" ở nước ngoài hay trong công việc quản lý công xưởng. Họ nêu rõ rằng họ không muốn người ta nghĩ về điều này như một sự hi sinh theo yêu cầu của các cụ ông gia trưởng, hay coi đó là một dấu hiệu cho thấy phụ nữ không có giá trị và không trau dồi tu dưỡng, mà đấy là một sự lựa chọn tích cực và tự nguyện của những phụ nữ có học, vì lợi ích của những người mà họ có quan hệ chân tình.


[1]     Mô hình về kẻ bề dưới nữ mà người ta thường trích dẫn bắt nguồn từ bối cảnh Ấn Độ và không thích hợp với Việt Nam, nơi ngôn từ mang tinh thần dân tộc nói rất nhiều về tính chủ động tích cực của phụ nữ là một thành tố của một quốc gia cách mạng. Xin xem Chatterjee 1990 và Chakrabarty 1994. Cũng như ở Trung Quốc, định nghĩa chính thức của Việt Nam về "gia đình trí thức" là gia đình trong đó người chủ hộ có học, hay gia đình tham gia vào "công tác văn hóa" (Kwong 1994: 263, n. 1); những người cung cấp thông tin cho tôi nhấn mạnh việc phụ nữ có học và thành đạt trong công việc là đặc điểm then chốt của gia đình trí thức hiện đại. Một tỷ lệ đáng kể những chuyên viên làm việc ở nước ngoài là phụ nữ đã có gia đình và ở giữa đường phát triển sự nghiệp. Đây là một khuynh hướng với những tác động đáng kể đến sự phân chia công việc trong nhiều gia đình trí thức. Trong những năm bao cấp trước đổi mới, ngay cả những gia đình Hà Nội có học thức cao nhất sống trong hoàn cảnh cực kỳ thiếu thốn. Những gia đình này tính toán là người vợ có đủ khả năng trong nghề nghiệp sẽ đi làm ở nước ngoài 4-5 năm, trong khi người chồng ở lại Hà Nội, tiếp tục có thu nhập khá hơn và là người chính chăm sóc các con ở tuổi đi học, với sự trợ giúp của những người họ hàng nữ lớn tuổi. Gia đình không đi theo chuyên viên đi làm ở châu Phi, và những chuyên viên này hiếm khi về thăm nhà.
[2]     Về việc tuyển chọn trí thức vào Việt Minh, xin xem Nguyễn Thế Anh 2002:62-63; Ninh 2002.
[3]     Xin xem Hy Van Luong 1998: 300-305: so với Papanek và Schwede 1988; Brenner 1998; Rato 2004: 326.
 (còn tiếp)
Susan Bayly
Người dịch: Phạm Văn Bích
Người hiệu đính: Trương Thu Hằng và Lương Văn Hy

Gia đình trí thức Hà Nội (kỳ 4)

Written By kuxh on 22/10/2011 | 05:00

Tôi ngạc nhiên không ngớt về sự hiểu biết cặn kẽ của ngay cả những người rất trẻ về những điều như ngày tháng năm sinh, kết hôn, và qua đời của người họ hàng gần và họ hàng xa, cũng như những chi tiết như ngày họ tham gia phục vụ cách mạng và đi học nước ngoài. Điều gây ngạc nhiên không kém là họ biết cả những chi tiết cụ thể về gia đình và đường công danh của những người quan trọng khác trong giới trí thức, nhất là thầy cô giáo cũ và người đỡ đầu về nghề nghiệp của cha mẹ họ. Tôi cũng kinh ngạc với niềm vui rõ ràng mà họ có vào những dịp kể chuyện cho tôi, với những lời đùa cợt sinh động và những giây phút tình cảm u uẩn hơn và đau buồn hơn [1].
Gia đình được xem là một lãnh vực mà người ta lựa chọn và hành động sáng suốt chứ không phải là người ta chỉ đi theo lối mòn của những chuẩn mực truyền thống và những cơ cấu gia trưởng phụ quyền. 
(Ảnh: minh họa – Nguồn: Internet)

Những câu chuyện mà những người Hà Nội cung cấp thông tin cho tôi đã thuật lại tập trung vào những điều như hoàn cảnh kết hôn thời chiến của cha mẹ hay ông bà họ khi còn là thanh niên trẻ phục vụ trong hàng ngũ Việt Minh trong ngành y và trong công tác tuyên truyền. Họ cũng đề cập đến tình bạn lâu bền được những thanh thiến niên tôi rèn với những gia đình nông thôn mà họ sống cùng trong những năm kháng chiến chống Pháp do phải đi tản cư theo cha mẹ vốn là cán bộ Đảng ra "vùng giải phóng" (liên khu) của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ. Như tôi đã nêu ở trên, điều nổi rõ là cả hai chuyện này đều là hai chủ đề nổi bật trong sách báo chính thống về đời sống trí thức với tư cách là mẫu mực cho cả quốc gia nói chung. Điều đó cũng đúng với những bản tiểu sử cá nhân đầy tôn kính mà nhiều gia đình trí thức Hà Nội soạn ra để vinh danh những tiền nhân xuất sắc đã phụng sự quốc gia. Những tác phẩm viết như vậy rất nhiều lần đề cập đến một thực tế rằng những người này với tư cách là y bác sĩ, học giả, nhà khoa học và nghệ sĩ của thế hệ Việt Minh thời chiến chính là những người tạo ra hôn nhân hiện đại dựa theo tình cảm, trong đó cả vợ cũng như chồng đều biết chữ, được đào tạo nghề nghiệp và làm việc phục vụ quốc gia, và con cái họ được trang bị để sống cuộc sống hữu ích tương tự như vậy, vốn thường trong cùng một ngành hay trong lĩnh vực liên quan (ví dụ: Nhiều tác giả (2002), Nguyễn Kim Nữ Hạnh (2003)).
Tuy nhiên, người ta cũng nói nhiều về những danh nhân trí thức này với tư cách là những người cống hiến cho các tập thể khác nữa, kể cả sự gắn bó với nơi làm việc, đơn vị quân đội và trường học hay với lứa sinh viên cùng trường đại học. Một điều toát lên từ những tường thuật như vậy là đối với một tấm gương mẫu mực về tinh thần hiện đại xã hội chủ nghĩa, gia đình được xem là một lãnh vực mà người ta lựa chọn và hành động sáng suốt (dù gia đình không phải luôn được trải nghiệm như thế), chứ không phải là người ta chỉ đi theo lối mòn của những chuẩn mực truyền thống và những cơ cấu gia trưởng phụ quyền. Việc xây dựng những cuộc hôn nhân hiện đại mẫu mực là một yếu tố cực kỳ quan trọng trong câu chuyện về thành tích cách mạng này. Một điều nữa là để sự gắn bó với gia đình của mỗi người được trải nghiệm như là một tập hợp các quan hệ hướng ngoại được chủ động xây dựng và rèn giũa, truyền thống và bản sắc gia đình mà người ta kế thừa phải tương thích với những nhu cầu của cách mạng, thông qua sự gắn bó với các tập thể xã hội then chốt khác. Ở đây tôi muốn nói tới những loại tập thể được chấp thuận tại các nước xã hội chủ nghĩa, tức là những người bạn đồng khóa và các tổ chức đồng nghiệp, nơi người ta tạo dựng và duy trì sự gắn bó theo tinh thần đồng chí và vì mục đích tiến bộ.
Tất nhiên tôi cũng được nghe nhiều câu chuyện kể về những gian nan vất vả, mất mát và đau buồn: nỗi đau phải bỏ lại những người thân già yếu tại Hà Nội khi di tản lên liên khu; những nếm trải mệt mỏi đến kiệt sức vì xếp hàng tem phiếu những năm "bao cấp"; nỗi lo rằng đứa con giỏi giang có thể không đáp ứng được tiêu chuẩn phân phối ngặt nghèo để đạt được một suất đi học đại học nước ngoài đáng mong ước; nỗi khổ vì không ngớt phải xa cách và chia ly. Nhưng cả ở hai cung bậc vui buồn, trong hầu hết các trường hợp người ta đều nhấn mạnh những tình tiết về việc cấp dưỡng vật chất và nuôi dưỡng trong thương yêu: niềm tự hào với việc con thi đỗ; những dịp cha mẹ đã từ nơi chiến trường nguy hiểm trở về thăm nhà với những vật hiếm và tuyệt diệu. Những vật đó trở thành của quý: một chiếc bút ngoại; một cuốn từ điển Larousse được trang trí bằng hình ảnh các cá nhân mà cha mẹ và thầy cô giáo ở liên khu vẫn nói tới như là những danh nhân và anh hùng nổi tiếng mà một đứa trẻ hiện đại cần biết và trân trọng - như Beethoven, Victor Hugo, Marie Curie, Picasso. Những điều đó đến từ một thế giới bên ngoài mà thanh thiếu niên được dạy là họ sẽ cần nắm vững sau khi giải phóng thành công. Coi đó là biểu hiện của tri thức "thực dân" thì không công bằng vì người ta [những người từng bị trị trong chế độ thực dân] có thể trưng dụng mạnh mẽ tri thức này [cho những mục đính khác] [2]. Việc đó cũng sẽ không nhận ra được ý thức về một không gian thế giới [rộng lớn] hơn là không gian thực dân hạn hẹp mà học sinh phổ thông liên khu được khuyến khích vươn tới khi các em hát những bài đoàn và đội ca, và khi các em nghe - tại lớp học và tại các cuộc họp Đảng vào ban đêm - về thế giới xã hội chủ nghĩa bên ngoài trong đó Việt Nam và cuộc cách mạng của đất nước được các đồng chí nước ngoài khâm phục và ca ngợi.
Ngay những người nhớ rằng mình đã từng đốt sách Pháp văn sau năm 1952, thời điểm cấm dạy thứ tiếng của thực dân ở vùng liên khu, vẫn coi việc họ biết tiếng Pháp là một vốn liếng thích hợp đối với con em cách mạng. Khi học ở nhà và từ những giáo viên từng tốt nghiệp trường lycée thì tiếng Pháp vẫn là một ngôn ngữ của tính hiện đại và quyền lực: "langue des révolutionnaires, de modernité" (ngôn ngữ của người cách mạng, của tính hiện đại), đó là lời nói của một người mà tôi gọi là Tiến sĩ Trần, một nhà khoa học xã hội Hà Nội bây giờ suýt soát 70 tuổi. Ngay ở những nơi mà các hình thái cụ thể của vốn văn hóa như tri thức về tiếng Pháp hay tiếng Nga không còn giá trị sử dụng và trao đổi đáng kể, thì trong những câu chuyện kể riêng cá nhân và cả chính thống nữa, nó vẫn là một vốn liếng tinh thần, là sản phẩm của kỹ năng và năng khiếu để đạt được những mục đích mà tất cả mọi người đều khâm phục [3]. Tiến sĩ Trần tự hào kể lại những lời tiếng Pháp đầu tiên mà hồi bé ông nói với một người Pháp ở vùng liên khu, đó là những từ ông nghe những chiến sĩ Việt Minh gác một tên lính bị bắt làm tù binh bảo hắn: "Haut les mains!" (Giơ tay lên!).
Giống như nhiều người đương thời với ông từ trường dự bị đại học danh tiếng ở Thanh Hóa tại vùng liên khu IV, Tiến sĩ Trần học tiếng Nga những năm sau chiến tranh và đi học tại Liên Xô; em trai ông vào Đảng sau khóa đào tạo về toán tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Cha mẹ họ, cả hai từng là học sinh trung học Pháp (lycéen) tại Hà Nội thời trước chiến tranh, đều là cán bộ Việt Minh. Trong số những câu chuyện gia đình mà họ thích kể có câu chuyện về bà mẹ họ, một người thông thạo tiếng Pháp, khéo léo giao thiệp với lính Pháp ở các trạm kiểm soát dọc những con đường nguy hiểm mà họ đi khi bà và hai cậu con trai di tản từ Hà Nội ra vùng liên khu ở đầu cuộc kháng chiến. Tôi được kể rằng bằng việc phát âm chuẩn tiếng Pháp với những người lính lịch sự với phụ nữ một cách ngây thơ, mẹ Tiến sĩ Trần đã khiến người ta tin vào mẩu chuyện để cứu mạng sống của mình, trong đó bà thể hiện mình như một cựu học sinh trường trung học Pháp đáng kính của một gia đình "trung thành" với người Pháp, và đang cùng con đi về quê chồng một cách hoàn toàn vô tội. Thậm chí mấy sĩ quan Pháp còn xưng hô là "vous" (bà) với bà chứ không dùng lối nói suồng sã "tu" (mày).
Tiến sĩ Trần rất thích câu chuyện này về việc dùng ngôn ngữ của những kẻ thực dân để làm tấm hộ chiếu hộ thân và một phương tiện để làm lạc hướng tai mắt xoi mói của người Pháp. Tất nhiên đây là chuyện về việc đạp đổ câu chuyện mang tính chất thực dân suốt bao lâu nay người ta vẫn kể về những người được gọi là “có tiến bộ” (évolué). Thuật ngữ này của ngôn từ phát triển theo tinh thần thuyết Darwin mới đã được sử dụng ở các nước thuộc địa Pháp để chỉ những người thành thạo nghệ thuật ngôn từ và cách ứng xử của giai cấp thực dân; và một sự thành thạo được cho là sẽ làm cho người ta gắn bó với sứ mệnh văn minh khai hóa của những kẻ thực dân[4]. Bây giờ ít người trẻ ở Hà Nội biết tiếng Pháp, nhưng rõ ràng rằng tất cả những người tham gia nghe kể câu chuyện này đều hiểu những điều toát lên từ câu chuyện. Những trao đổi như vậy cho thấy cuộc sống không ngừng theo thời gian của một gia đình trí thức như một tập thể liên tục tiếp sức sống cho mình thông qua việc trao truyền và sử dụng kỹ năng trí tuệ.
[1]     Về những vấn đề xoay quanh việc thừa nhận nội dung cảm xúc trong các cuộc gặp gỡ ở thực địa, xin xem Beatty 2005. Những cuộc tranh luận của các nhà nhân học về giá trị của các câu chuyện đời trong nghiên cứu dân tộc chí đã tập trung nhiều vào các câu chuyện cá nhân hơn là kể chuyện gia đình thuộc loại mô tả ở đây (nhưng xin xem Werber 1991). Cũng có rất nhiều phân tích trong nhân học về những bất bình đẳng trong đời sống gia đình, về việc phụ nữ và thành viên trẻ hay tương đối trẻ bị đối xử một cách áp đặt hay bị bạo hành, phải chịu chấp nhận những quy ước và kỷ luật mà những thành viên khác áp đặt. Những điều này xảy ra trong những nước Á châu cựu thuộc địa cũng như ở những nơi khác. Nhiều người mà tôi có dịp nói chuyện, nhất là những phụ nữ lớn tuổi đã sống qua những năm khốn khó sau khi thống nhất đất nước năm 1976, đã nói một cách cảm động và hùng hồn về những đớn đau và những áp lực trong đời sống gia đình mà họ đã trải nghiệm. Có cả những nam giới đã phải hy sinh những mong muốn cá nhân về học hành và sự nghiệp, và những hy sinh này là một chủ đề quan trọng trong những câu chuyện kể riêng hay những câu chuyện kể khi có mặt của người khác, về quan hệ anh chị em và trải nghiệm những năm đầu sau đám cưới của họ. Vì thế, khi tập trung trong bài viết này về những khía cạnh chia sẻ cho nhau và hỗ tương của đời sống gia đình, tôi không có ý ủng hộ một cái nhìn ngây thơ về gia đình như là một lãnh vực đầy những hoà thuận và nụ cười. Trong những bài khác của tôi đã được xuất bản, tôi đã ghi chép về những căng thẳng và mâu thuẫn với người trong thân tộc mà những người nam và nữ cung cấp thông tin cho tôi đã úp mở đề cập đến. Tôi cũng đã ghi nhận cảm nhận bất hạnh của họ khi bị soi mói và đồn đại liên tục vì họ là những người có danh vọng và phải đương đầu với những thái độ mâu thuẫn về việc làm cách nào một người hiện đại xã hội chủ nghĩa không vị kỷ có thể nêu cao những đức tính của gia đình và quốc gia (Bayly 2007). Nhưng viết về vấn đề quan hệ quyền lực trong gia đình trong bài này thì sẽ đi xa khỏi những quan tâm chính của bài về những khía cạnh khác của đời sống trí thức, những khía cạnh mà tôi thấy nổi bật và lan toả rộng rãi trong khi làm thực địa ở Hà Nội. Những khía cạnh này bao gồm những vốn vật chất và tinh thần mà người ta đã nói đến như là những người chia sẻ ký ức tập thể mà tôi tìm hiểu trong bài này. Dù các nhà nhân học có học hỏi nhiều đến mức nào từ việc quan tâm đến những đau đớn được nói ra hay không được nói ra, những đau đớn của những người trải nghiệm những thiệt thòi và bị mất quyền lực, người làm thực địa kỹ lưỡng không thể không nhận ra những cảnh huống mà trong đó cảm giác đoàn kết được coi trọng và là một phần cũng rất đáng kể của thực tại, dù là người trong cuộc đã phải trả giá cao về mặt cá nhân để đạt được mức độ đoàn kết này. Trong vài trường hợp, việc nhấn mạnh đến việc người ta phải chịu đựng và thua thiệt trong những cảnh huống như gia đình phản ánh nhiều về những bận tậm và trải nghiệm của người đi thực địa, hơn là về bối cảnh [của cộng đồng hay xã hội] được nghiên cứu.
[2]     Về việc dùng từ điển để tước đoạt quyền lực của người bề dưới, xin xem sự phê phán của Amin (1989) đối với cuốn Glossary of Indian Peasant Life (Danh mục từ trong đời sống nông dân Ấn Đô) ở thế kỷ 19, coi đó như công trình loại bỏ nhiều từ nói lên tri thức [của nông dân] về cái hiện đại. Để có một tường trình về sự hình thành bản sắc trí thức "hậu thực dân" thông qua việc đi học ở các trường tinh hoa, xin xem Srivastava 1998. Suy nghĩ của tôi về đồ đạc cá nhân trong bối cảnh gia đình dựa trên cuộc trưng bày mang tính chất đột phá "Hà Nội thời bao cấp" của Giáo sư Nguyễn Văn Huy và đồng nghiệp tại Bảo tàng dân tộc học Việt Nam. Tôi cũng dựa vào công trình về văn hóa vật chất trong môi trường xã hội chủ nghĩa và hậu xã hội chủ nghĩa của Humphrey (2002) ở Mông Cổ
[3]     Những người cung cấp thông tin cho tôi thuộc lứa tuổi già hơn thì tỏ ra rất thích thú vì đã biết và nhớ tiếng Pháp mà họ học được trước cuộc kháng chiến hay ở trường vùng liên khu, và người ta coi việc học được và sử dụng nó là nhờ sự chăm sóc đầy tình thương yêu của cha mẹ và của những người thầy yêu nước. Tất nhiên việc nắm vững tiếng Pháp đi liền với việc làm chủ tiếng Việt và với sự hào hứng của họ về di sản văn học và nghệ thuật tiếng Việt. Họ cũng thích thú với vai trò người quan sát trước cuộc vật lộn của tôi để học tiếng Việt trong khi khuyến khích học trò và con cháu họ thể hiện kỹ năng ngoại ngữ, và bình luận phê phán về tiếng Pháp và tiếng Việt của tôi, chỉnh sửa cách tôi phát âm và bàn luận cách chọn từ cùng cách dịch. Trong các cuộc tụ họp gia đình mà tôi dự, điều rất thường thấy là có mặt dăm bảy người với hiểu biết sơ đẳng về ít nhất ba hay nhiều thứ tiếng: Nga, Hoa, Pháp, Ba Lan, Rumani, Đức hay Tiệp, và đôi khi cả tiếng Bồ Đào Nha mà những người đã từng đi chuyên gia ở Mozambique và Angola học được.
[4]     Homi Bhabha (1984) sử dụng thuật ngữ "ngụy trang bằng cách hòa màu cho mình giống với môi trường", và việc đó nêu cho ta thấy nỗi sợ và căng thẳng bộc lộ trực tiếp hay gián tiếp trong bối cảnh thực dân, ví dụ nỗi lo rằng những người dân "bản địa" sẽ dùng kiến thức để chế nhạo và gây mất ổn định cho chính quyền thực dân, song họ bị nhạo báng là "những kẻ bắt chước" và vô bản sắc. Đây không phải là điều người Hà Nội nói về các bậc lão thành nói tiếng Pháp của họ, những người mà vốn văn hóa đã tích lũy được của họ là vốn quý, và những người yêu nước và cách mạng sử dụng kỹ năng hiện đại này vì mục đích rất vô tư, không vị kỷ.
(Còn tiếp)
Susan Bayly
Người dịch: Phạm Văn Bích
Người hiệu đính: Trương Thị Thu Hằng và Lương Văn Hy


 
Support : Creating Website | Johny Template | Mas Template
Copyright © 2011. Bảo tàng Ký ức Xã hội - All Rights Reserved
Template Created by Nhật Nguyên Published by Nhật Nguyên
Proudly powered by Nguyễn Đức Lộc