Tin mới :

Latest Post

Hiển thị các bài đăng có nhãn kỷ vật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn kỷ vật. Hiển thị tất cả bài đăng

Ký ức xe đạp một thời gian khó

Written By Hồ Nguyên Đức on 07/03/2014 | 09:26

Mấy chục năm trước, chiếc xe đạp trị giá cả cây vàng, được cấp giấy chứng nhận sở hữu, có biển số và được giữ gìn như vật báu trong nhà.
16.jpg
Cũng như cầu Long Biên (Hà Nội) chứng kiến bao thăng trầm lịch sử, xe đạp là phương tiện gợi nhắc người Việt ký ức về những năm chiến tranh ác liệt và gắn với một thời bao cấp khó khăn. Xe đạp là phương tiện lưu thông chính trên đường phố thời bấy giờ.
b.jpg
Chiếc xe là tài sản mơ ước của nhiều gia đình. Xe các hãng nước ngoài như Peugeot, Aviac hay Mercie... giá bằng cả cây vàng. Vì thế, những chiếc xe đạp còn có giấy chứng nhận sở hữu, không khác gì đăng ký xe máy hay ôtô hiện nay.
Chiếc xe đạp được khóa cẩn thận trước cửa rạp chiếu phim. Trong nhà, xe đạp được để ở vị trí trang trọng, có gia đình còn đặt nó trên một cái giá đỡ bằng gỗ chứ nhất định không để bệt xuống đất, xe không có một hạt bụi. "Mua một chiếc xe đạp Phượng Hoàng có giá 220 đồng, xe Favorit có giá 1.000 đồng, bằng 2 năm tiền lương công chức", ông Trịnh Kim Thắng (60 tuổi) nhớ lại ký ức một thời khốn khó. Bản thân ông phải chờ 10 năm, nhờ danh hiệu cán bộ tiên tiến mới mua được một chiếc xe đạp Phượng Hoàng.
Chiếc xe Thống Nhất (Việt Nam sản xuất) được khóa cẩn thận trước cửa rạp chiếu phim. Trong nhà, xe đạp được để ở vị trí trang trọng, có gia đình còn đặt nó trên một cái giá đỡ bằng gỗ. Nhiều người phải dành dụm vài năm mới mua được một chiếc xe.
1_1394020978.jpg
Xe có số khung và được đăng ký, cấp biển số.
Những góc phố, ngã tư Hà Nội gắn liền với bao thăng trầm của thời gian. Đường Hoàng Diệu rộng thênh thang với những bóng cây cổ thụ tỏa mát, người dân thong dong đạp xe trên phố.
11.jpg
Khu vực ngã tư Tràng Tiền - Hàng Bài chưa có đèn xanh đèn đỏ. Lực lượng công an trực tiếp tham gia điều hành giao thông.
19.jpg
Hồ Gươm với Tháp Rùa, cầu Thê Húc, đền Ngọc Sơn soi bóng. Dù bận rộn lao động, người Hà Nội vẫn không thể quên thú vui dạo chơi quanh hồ Gươm bằng xe đạp mỗi khi rảnh rỗi.
17.jpg
Những lúc tắc đường, chen chúc, người dân phải vác xe Thống Nhất lên vai. Có câu chuyện truyền tai rằng nếu trời đổ mưa, đố ai tìm được một chiếc Peugeot ngoài đường vì người ta sợ xe bị rỉ sét và nhanh hỏng.
29.jpg
Những nữ sinh trong tà áo dài giờ tan trường. Nhiều người nhận xét con gái thời xưa đi xe đạp bao giờ cũng khép chân, đầu gối gần sát vào khung xe, đầu ngón chân đặt trên bàn đạp, không khuỳnh tay dạng chân, không phóng nhanh. Người ngồi sau không đặt tay vào đùi hoặc bụng người đằng trước vì cho là không đứng đắn.
10.jpg
'Một yêu anh có Sen-kô (đồng hồ đeo tay hiệu Seiko) / Hai yêu anh có Pơ - giô cá vàng (xe đạp Peugeot màu cá vàng) / Ba yêu anh có téc gang (quần vải téc) / Bốn yêu hộ tịch rõ ràng Thủ đô'. Xe đạp trở thành một trong những tiêu chí chọn chồng của các cô gái thời đó. Những thanh niên mới lớn coi xe đạp là thứ đồ hàng hiệu, việc được ngồi sau cũng là một niềm hãnh diện lớn.
22.jpg
Đám cưới thời bao cấp có mốt rước dâu bằng xe đạp.
8_1394017695.jpg
Tập đi xe đạp là ký ức tuổi thơ khó quên của nhiều người. Những đứa trẻ nhỏ thó, chân còn ngắn nên không ngồi hẳn lên yên được mà cứ nhấp nhổm theo những vòng quay của bánh xe. Thậm chí, các em còn phải vẹo hẳn lưng sang một bên để đạp xe nhưng vẫn hăng say tập. 

13.jpg
Những năm chiến tranh, Hà Nội, Hải Phòng và một số tỉnh miền Bắc phải chịu tổn thất nặng nề của bom đạn bắn phá. Người dân phải di tản về các vùng nông thôn, tài sản lớn nhất mà nhiều gia đình còn giữ là chiếc xe đạp.
25_1394026635.jpg
Chiếc xe đạp thồ được gọi là ngựa sắt chiến trường. Nhiều đội quân xe đạp thồ được thành lập, vượt mưa bom bão đạn đem gạo, muối, thuốc men... ra tiền tuyến, góp phần không nhỏ vào chiến thắng của dân tộc. Những tên tuổi được nhắc đến nhiều nhất như kiện tướng xe đạp thồ Cao Văn Tỵ chuyển 320 kg hàng mỗi chuyến, Ma Văn Thắng chở được 352 kg hàng.
27.jpg
Anh thương binh cùng đồng đội đi dạo phố. Trong chiến tranh, câu chuyện gắn với chiếc xe đạp được các cựu binh kể cho nhau nghe nhiều nhất là về liệt sĩ Lang Sỹ Thủy. Anh bị đạn súng máy của địch bắn gãy cánh tay phải, được đưa về hậu phương điều trị, sau đó mượn chiếc xe đạp Thống Nhất của chị gái đạp hơn 600 km từ Thanh Hóa vào Quảng Trị chiến đấu tiếp. Anh hy sinh chỉ 4 ngày trước khi Hiệp định Paris có hiệu lực. Chiếc xe đạp hiện nay còn được trưng bày tại Bảo tàng Quân sự Việt Nam.
28_1394019815.jpg
Những ánh mắt ngây thơ mở to sau giá ngồi theo mẹ đi làm, đi sơ tán trong chiến tranh. Tuổi thơ cứ thế lớn lên theo những vòng quay đều đều của bánh xe. Bức ảnh được nhiếp ảnh gia người Đức Thomas Bill Hardt ghi lại.
5_1394017969.jpg
Khi xe đạp là tài sản lớn thì bơm, vá xe đạp trở thành một nghề kiếm ra tiền.
6_1394018348.jpg
Những chiếc bơm tay hầu như không còn xuất hiện trên đường phố Hà Nội ngày nay.
26.jpg
Một cửa hàng sửa chữa xe đạp ở phố Hai Bà Trưng với tấm biển đơn giản và cách quảng cáo phổ biến là treo những chiếc lốp xe ngoài cửa.
3.jpg
Xe đạp trở thành phương tiện vận chuyển hàng hóa trên những con phố Hà Nội. Những chiếc sọt đầy hàng luôn được buộc chắc chắn phía sau và hai bên xe.
20_1394021116.jpg
Đạp xe dạo chơi gần khu vực lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.
9_1394018006.jpg
Nụ cười trong trẻo của một em bé Hà Nội xưa.
24_1394026172.jpg
Cả gia đình bốn người chở nhau trên xe đạp.
c_1394021248.jpg
Qua thời gian, con người phát minh nhiều phương tiện hiện đại hơn phục vụ cuộc sống. Xe đạp không còn giữ được vị trí độc tôn trên bản đồ giao thông nữa. Nhưng những kỷ niệm gợi nhắc về một thời gian khổ vẫn còn đọng lại trong ký ức nhiều thế hệ người Việt Nam.
Theo Vnexpress: Hoàng Phương
Ảnh tư liệu

Tham quan ngôi nhà cổ nhất Sài Gòn

Written By kuxh on 09/05/2013 | 13:14


Được xây dựng theo kiến trúc truyền thống Việt Nam, nhà nguyện nằm trong khuôn viên tòa giám mục Tổng giáo phận tại quận 3 được xem là ngôi nhà cổ nhất TP HCM hiện nay.

Nằm trên đường Nguyễn Đình Chiểu, quận 3, TP HCM, ngôi nhà cổ khá khuất trong nhiều khu cao tầng bên cạnh. Nhà được xây từ đời vua Gia Long, thế kỷ 18 sát kênh Thị Nghè (nay là Thảo Cầm Viên). Theo linh mục Trần An Hiệp, từ vị trí ban đầu, nhà nguyện được chuyển chỗ 2 lần trước khi về đây.
Ngôi nhà xây dựng theo lối kiến trúc truyền thống, với ba gian hai chái. Hệ thống rường ngắn, hoa văn tinh xảo trên vách tất cả đều làm bằng gỗ.
Gian trước cửa chính là nơi làm lễ cầu nguyện.
Năm 1962, Đức Tổng giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình cho xây tường gạch thay vách ván và cửa vào chính được làm bằng gỗ xếp cho thuận tiện khi sử dụng.
Qua trùng tu nền nhà được nâng lên để chống ngập.
Mái được lợp ngói âm dương với những họa tiết hoa văn viền tinh xảo.
Chính diện gian giữa là nơi đặt án thờ cầu nguyện, hầu hết chi tiết bên trong được giữ nguyên từ hơn 200 năm trước.
Năm 1980, cột kèo mái ngói bị mối mọt làm hư hại, phải cưa đi và dùng cốt sắt đổ đá, xi măng bên trong để giữ cho ngôi nhà cổ như nguyên trạng. Toàn bộ tường, nền cũng được thay lại từ gỗ sang xi măng để kiên cố.
Hệ thống vách là những thanh gỗ mỏng, xếp vuông góc.
Toàn bộ ngôi nhà nằm trong khuôn viên Tòa Giám mục, xung quanh là tường rào bao bọc. Đến nay ngôi nhà vẫn được nguyên vẹn kiến trúc cổ, tuy nhiên, một số chi tiết đang bị xuống cấp.
Theo kiến trúc sư Nguyễn Trường Lưu (giữa), Phó chủ tịch thường trực Hội kiến trúc sư TP HCM, ngôi nhà sắp được trùng tu, tập trung ở mái ngói âm dương bị hư, một số kết cấu bị mối mục... nhưng cơ bản vẫn giữ nguyên trạng kiến trúc cổ.
Theo VnExpress

Bộ đồ ăn trầu của tầng lớp quý tộc Việt

Written By kuxh on 26/10/2012 | 14:40

Khoảng 100 hiện vật, tài liệu và hình ảnh tiêu biểu liên quan tới tập tục ăn trầu truyền thống của người Việt vừa được lựa chọn giới thiệu trong triển lãm 'Văn hóa Trầu cau Việt Nam' tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia sáng 24/10.


Tục ăn trầu ở Việt Nam có từ lâu đời và để tận hưởng cái thú này, người ăn trầu cũng phải thực hiện một loạt công đoạn khá cầu kỳ, bằng bộ dụng cụ gồm bình vôi, ống vôi, xà tích, chìa vôi; dao bổ cau têm trầu; khay, cơi, hộp, âu, giỏ, tráp, túi, khăn, đẫy; ống nhổ; cối, chìa ngoáy. Với tầng lớp quý tộc cung đình triều Nguyễn, bộ đồ ăn trầu thường được làm bằng vàng, bạc, đồng....
... hoặc pha lê, kim sa hay ngọc.
Bình vôi quai hình buồng cau làm từ gốm Hoa Lam đầu thế kỷ 20 dùng để đựng vôi, lấy vôi têm trầu. Đây là vật dụng không thể thiếu và giữ vai trò quan trọng. Cũng như các loại vật dụng khác, bộ dụng cụ ăn trầu thể hiện rõ đẳng cấp người sử dụng.
Ống vôi được làm bằng bạc và đồng với nhiều hình thù khác nhau.
Ống vôi và hộp thuốc lào thường được chủ nhân đeo vào người để tiện dùng mỗi khi cần.
Ống nhổ trạm nổi hình rồng bằng vàng thời Nguyễn dùng để nhổ bỏ nước trầu, bã trầu.
Hộp trầu bằng đồng thời Lê Sơ (thế kỷ 15) dùng để đựng trầu, thuốc và xếp các vật dụng nhỏ.
Cối giã trầu của dân tộc H'rê (hình 1) và Hộp thuốc lào của dân tộc Thái (hình 2) dành cho những người lớn tuổi, răng yếu dùng để giã nát trầu trước khi nhai.

Cách têm trầu cũng thể hiện sự cầu kỳ, tinh tế. Tùy từng hoàn cảnh mà trầu được têm theo mỗi cách khác nhau với ý nghĩa biểu trưng khác nhau: Trầu cánh phượng, cánh kiến, cánh quế, mũi mác. Trong ảnh, nghệ nhân Vũ Thị Tuyết Lan (61 tuổi, ở Bắc Ninh) đang têm trầu cánh phượng mời các vị khách tới thăm triển lãm.
Trầu têm cánh phượng là biểu tượng cho sự duyên dáng, quyến rũ và khéo léo của phụ nữ Việt Nam. Trầu cánh phượng hay còn gọi là trầu quan họ có 11 cánh. Để têm được miếng trầu này, phải chọn quả cau cân hạt, lá trầu bánh tẻ và mỗi miếng trầu được cài thêm cánh hoa hồng. Cách nhai trầu cũng rất cầu kỳ, dùng từ lá trầu, quét một ít vôi đã tôi vào đầu lá trầu kèm theo một miếng cau cho vào miệng nhai nát. Ngoài ra có thể thêm vỏ chay, vỏ quạch, vỏ quế và thuốc lào. Khi nhai, hương vị của hỗn hợp trầu - cau - vôi sẽ làm cho người nhai trầu có cảm giác cay cay và hơi say. Trong lúc nhai trầu, để tẩy cổ trầu và xác trầu bám vào răng, người ta có thể dùng một nhúm nhỏ thuốc lào để chà răng.
Ăn trầu là tập tục truyền thống có từ lâu đời và phổ biến ở nhiều quốc gia châu Á và châu Đại Dương. Tại Việt Nam, tương truyền tục ăn trầu có từ thời Hùng Vương và gắn liền với câu chuyện cổ tích nổi tiếng: Trầu cau. Với người Việt, ăn trầu không đơn thuần chỉ là thói quen, tập tục mà còn là yếu tố cấu thành nên những giá trị văn hóa truyền thống. Trầu cau không chỉ là lễ vật khởi đầu trong các nghi lễ truyền thống như tang ma, cưới hỏi mà còn là biểu tượng của tình yêu đôi lứa, vợ chồng. 

Bình Minh
Vnxpress

Kỷ vật liệt sĩ Việt lưu lạc 46 năm ở Mỹ

Written By kuxh on 25/09/2012 | 16:35

Năm 1966, một lính thủy quân lục chiến Mỹ nhặt được cuốn sổ ghi chép, tấm ảnh hai cô gái, vài tờ tiền, chứng minh nhân dân trên ngực chiến sĩ Quân giải phóng hy sinh. Khi xuất ngũ, người lính này đã mang các kỷ vật về nước.
Liệt sĩ Vũ Đình Đoàn sinh năm 1934, nhập ngũ năm 1960 và hy sinh năm 1966 tại chiến trường Quảng Ngãi. Sáng 21/9, kỷ vật gồm cuốn nhật ký, bức ảnh chụp hai cô gái, chứng minh nhân dân và hai đồng tiền cũ đã được trao lại cho gia đình liệt sĩ Đoàn ở xã Long Xuyên (Bình Giang, Hải Dương). Người giữ các kỷ vật này suốt 46 năm là ông Ira Robert Frazure - một cựu binh Mỹ từng tham chiến ở Việt Nam.
Ngày 28/3/1966, Đại đội Bravo (Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 7) Thủy quân lục chiến Mỹ giao tranh ở chiến trường Quảng Ngãi trong chiến dịch Indiana. Một lính thủy quân lục chiến Mỹ tên Ira Robert Frazure ở Đại đội Charlie trong lúc dọn dẹp chiến trường đã tình cờ nhặt được cuốn sổ ghi chép nhỏ trên ngực một chiến sĩ Quân giải phóng đã hy sinh. Cuốn sổ nhỏ đề tên Vũ Đình Đoàn. Đi kèm với cuốn sổ là tấm ảnh hai cô gái, vài đồng tiền cũ và giấy chứng minh nhân dân. Sau khi xuất ngũ vào tháng 11 cùng năm, người lính Mỹ đã mang những kỷ vật ấy về Mỹ.
Cuốn nhật ký sờn góc đã cũ nát theo năm tháng nhưng những dòng chữ trên đó vẫn có thể đọc được. Dòng nhật ký ngày 9/2/1966 có đoạn: 'Khi tôi chạy ra gặp ông bạn Triệu, chồng cô Tý ở Quảng Ngãi, lòng tôi phấn khởi, bí lại gặp bầu cùng trong một giàn chiến đấu như nhau rồi tâm sự cuộc hành quân và gian khổ trong đời binh giải rồi kể chuyện ăn cháo đói...".
Bức ảnh chụp hai thiếu nữ Tô Thị Yến và Trần Thị Nhật - bạn thân của liệt sĩ Đoàn. Ngày ông Đoàn nhập ngũ, cả hai bà đã đi bộ hàng chục cây số gánh cơm đưa tiễn ông cùng hơn 40 người khác ra chiến trường.
Ông Vũ Đình Sơn, người con trai thứ ba của liệt sĩ Vũ Đình Đoàn bật khóc khi tận tay nhận lại những kỷ vật của cha mình từ đại tá Nguyễn Xuân Năng, Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. Những kỷ vật này được Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta trao lại cho Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh nhân chuyến thăm Việt Nam hồi tháng 6 vừa qua.
Liệt sỹ Đoàn có 4 người con nhưng con trai cả và út đã qua đời. Chị Vũ Thị Tuyến, con gái liệt sĩ (ngoài cùng bên phải) nức nở khóc khi nhìn thấy kỷ vật của bố. Ngày ông ra chiến trận, chị Tuyến mới 5 tuổi.
Hàng trăm người thân, bạn bè, làng xóm cùng các cơ quan ban ngành tham dự lễ trao tặng kỷ vật.
Nhiều người không nén được xúc động khi chứng kiến buổi lễ.
Bà Yến (trái) và bà Nhật (cùng 70 tuổi) cũng có mặt trong lễ trao kỷ vật.
Anh Vũ Đình Sơn cùng chị Vũ Thị Tuyến thắp hương tại nghĩa trang báo với cha những kỷ vật của ông đã trở về với gia đình. Sau 3 lần lặn lội vào Quảng Ngãi tìm hài cốt cha, năm 2008 hai chị em mới tìm đúng được nơi ông hy sinh và đưa hài cốt về nghĩa trang quê nhà.
Anh Tuấn
vnexpress.net
 
Support : Creating Website | Johny Template | Mas Template
Copyright © 2011. Bảo tàng Ký ức Xã hội - All Rights Reserved
Template Created by Nhật Nguyên Published by Nhật Nguyên
Proudly powered by Nguyễn Đức Lộc