Tin mới :

Latest Post

Hiển thị các bài đăng có nhãn khảo cứu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn khảo cứu. Hiển thị tất cả bài đăng

Sài Gòn với người Pháp

Written By Hồ Nguyên Đức on 17/06/2014 | 07:40


Sang đến thời kỳ “một trăm năm đô hộ giặc Tây” Việt Nam nói chung và Sài Gòn nói riêng đã trở thành thuộc địa của Pháp. Cũng vì thế, tiếng Pháp đã có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống văn hóa, xã hội của người Việt. Tiếng Pháp được sử dụng trong các văn bản, giấy tờ của Chính phủ Bảo hộ và trong giảng dạy ở nhà trường, bên cạnh đó là các loại sách báo thâm nhập đời sống thường ngày của người dân.
Chữ Quốc ngữ, vốn được tạo ra bởi một số nhà truyền giáo Tây phương, đặc biệt là linh mục Alexandre de Rhodes (tác giả cuốn Từ điển Việt-Bồ-La năm 1651), với mục đích dùng ký tự Latinh làm nền tảng cho tiếng Việt. “Latinh hóa” chữ Việt ngày càng được phổ biến để trở thành Quốc ngữ, chịu ảnh hưởng bởi những thuật ngữ, từ ngữ mới của ngôn ngữ Tây phương, chủ yếu là từ tiếng Pháp.
Khi nắm được ba tỉnh Nam Bộ, người Pháp đã nắm trong tay một công cụ vô cùng hữu hiệu để truyền bá văn hoá đồng thời chuyển văn hoá cũ theo hướng văn hoá Pháp. Tờ Gia Định Báo là tờ báo đầu tiên được phát hành bằng chữ Quốc ngữ vào năm 1865, khẳng định sự phát triển và xu hướng của chữ Quốc Ngữ như là chữ viết chính thức của nước Việt Nam sau này.
Đối với người bình dân, việc tiếp nhận tiếng Pháp đến một cách rất tự nhiên. Người ta có thể nói “Cắt tóc, thui dê” để chỉ ngày Quốc khánh Pháp 14/7, Quatorze Juliet. Người ta có thể dùng tiếng Tây “bồi” nhưng lại không cảm thấy xấu hổ vì vốn liếng tiếng Pháp của mình chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Để tả con cọp, người ta có thể dài dòng văn tự: “tí ti giôn, tí ti noa, lủy xực me-xừ, lủy xực cả moi”. Diễn nôm câu này là một chút màu vàng (jaune), một chút màu đen (noir), nó ăn thịt ông (monsieur), nó ăn thịt cả tôi (moi).
Nhân đây cũng xin nói thêm về những đại danh từ nhân xưng như toa (anh, mày -toi), moa hay mỏa (tôi, tao- moi), en hay ẻn (cô ấy, chị ấy – elle), lúy hay lủy (anh ấy, hắn – lui), xừ hay me-xừ (ông, ngài – monsieur)… Học trò trường Tây, những nhà trí thức khoa bảng hay cả những kẻ tỏ ra “thời thượng” ngày xưa thường dùng những đại từ này. Cũng vì thế có một câu mang tính cách châm chọc: “Hôm qua moa đi xe lửa, buồn đái quá nên moa phải đái trên đầu toa” (toa ở đây có 2 nghĩa: toa xe lửa nhưng cũng có ý là toi (anh) trong tiếng Pháp).
Người Pháp xây dựng đường xe lửa đầu tiên ở Việt Nam tại Sài Gòn từ năm 1881. Đây là đoạn đường ray (rail) từ Cột cờ Thủ Thiêm đến bến xe Chợ Lớn, dài 13km. Mãi đến năm 1885 chuyến xe lửa đầu tiên mới được khởi hành và một năm sau, tuyến đường Sài Gòn-Mỹ Tho dài 71km bắt đầu hoạt động. Sau đó, mạng lưới đường sắt được xây dựng trên khắp lãnh thổ Việt Nam, dùng kỹ thuật của Pháp với khổ đường ray 1 mét. Tính đến năm 1975 miền Nam có khoảng 1.240km đường ray nhưng vì chiến cuộc nên chỉ được sử dụng khoảng 60%.
Nhà ga cũng có xuất xứ từ tiếng Pháp gare. Ga là công trình kiến trúc làm nơi cho tàu hoả, tàu điện hay máy bay đỗ để hành khách lên xuống hoặc để xếp dỡ hàng hoá. Từ sự vay mượn này ta có thêm những từ ngữ như sân ga, trưởng ga, ga chính,ga xép… Nhân nói về ga tưởng cũng nên nhắc lại động từ bẻ ghi (aiguiller) tức là điều khiển ghi (aiguille) cho xe lửa chuyển sang đường khác. Trong tiếng Việt, bẻ ghi còn có nghĩa bóng là thay đổi đề tài, chuyển từ chuyện mình không thích sang một đề tài khác.
Có những từ ngữ xuất xứ từ tiếng Pháp nhưng vì lâu ngày dùng quen nên người ta cứ tưởng chúng là những từ “thuần Việt”. Chẳng hạn như cao su (caoutchouc), một loại cây công nghiệp được người Pháp du nhập vào Việt Nam qua hình thức những đồn điền tại miền Nam. Ngôn ngữ tiếng Việt rất linh động trong cách dùng từ ngữ cao su qua các biến thể như giờ cao su (giờ giấc co dãn, không đúng giờ), kẹo cao su (chewing-gum), bao cao su (còn gọi là “áo mưa” dùng để tránh thai hoặc tránh các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục)…
Nhà băng (banque) là một chữ quen dùng trong ngôn ngữ hàng ngày còn xà bông cũng là loại chữ dùng lâu ngày thành quen nên ít người để ý xuất xứ của nó là từ tiếng Pháp, savon. Ở miền Bắc, xà bông được cải biên thành xà phòng, là chất dùng để giặt rửa, chế tạo bằng cách cho một chất kiềm tác dụng với một chất béo. Nổi tiếng ở Sài Gòn xưa có xà bông Cô Ba của Trương Văn Bền, dùng dầu dừa làm nguyên liệu chính.
Chúng ta thấy ngôn ngữ Việt vay mượn từ tiếng Pháp trong rất nhiều lãnh vực. Về ăn uống, tiếng Việt thường mượn cả cách phát âm đến tên của các món ăn có xuất xứ từ phương Tây. Vào nhà hàng, người phục vụ đưa ra mơ-nuy (thực đơn – menu) trong đó có những món như bít-tết (chữ bifteck của Pháp lại mượn từ nguyên thủy tiếng Anh- beefsteak), những thức uống như bia (rượu bia- bière, được chế biến từ cây hốt bố hay còn gọi là hoa bia – houblon), rượu vang (rượu nho- vin)…
Về thịt thì có xúc-xích (saucisse), pa-tê (paté), giăm-bông (jambon), thịt phi-lê (thịt thăn, thịt lườn – filet). Các món ăn thì có ra-gu (ragout), cà-ri (curry)… Khi ăn xong, khách xộp còn cho người phục vụ tiền puộc-boa (tiền thưởng – pourboire). Ngày nay từ boa hay bo được dùng phổ biến với ý nghĩa cho tiền thưởng, hay còn gọi là tiền phong bao hoặc tiền phục vụ.
Từ rất lâu, ở Sài Gòn xuất hiện các loại bánh mì theo kiểu Pháp, miền Bắc lại gọi là bánh tây với hàm ý du nhập từ Pháp. Có nhiều loại bánh đặc biệt như bánh mì ba-ghét (loại bánh mì nhỏ, dài – baguette), bánh pa-tê-sô (một loại bánh nhân thịt, ăn lúc nóng vừa dòn vừa ngon – pathé chaud), bánh croát-xăng (hay còn gọi là bánh sừng bò – croissant
Người Sài Gòn thường ăn sáng với bánh mì kèm theo nhiều kiểu chế biến trứng gà như ốp-la (trứng chỉ chiên một mặt và để nguyên lòng đỏ – oeuf sur le plat), trứng ốp-lết (trứng tráng – omelette) hoặc trứng la-cóc (trứng chụng nước sôi, khi ăn có người lại thích thêm một chút muối tiêu – oeuf à la coque).
Món không thể thiếu trong bữa ăn sáng là cà phê (café). Cà phê phải được lọc từ cái phin (filtre à café) mới đúng điệu. Người miền Bắc ít uống cà phê nên sau năm 1975 vào Sài Gòn đã mô tả cái phin cà phê một cách rất “gợi hình”: “cái nồi ngồi trên cái cốc”.
Ngôn ngữ về trang phục cũng chịu ảnh hưởng rất nhiều từ tiếng Pháp. Bình thường hàng ngày người ta mặc áo sơ-mi (chemise), cổ tay có cài khuy măng-sét (manchette). Khi đi tiệc tùng hoặc hội họp thì mặc áo vét (vest) hay bộ vét-tông (veston) kèm theo chiếc cà-vạt (cravate) trên cổ áo sơ mi. Trời hơi lạnh có thể mặc bên trong áo vét một chiếc gi-lê (gilet) và hai tay mang găng (gants) cho ấm.
Ngay cả quần áo lót bên trong cũng mượn từ tiếng Pháp. Phụ nữ trên thì mang xú-chiêng (nịt ngực- soutien-gorge) dưới thì có xì-líp (slip). Nam giới thì mặc áo may-ô (maillot) bên trong áo sơ-mi. Mặc quần thì phải có xanh-tuya (dây nịt – ceinture) và khi trời nóng thì mặc quần sóc (quần ngắn, tiếng Pháp là short được mượn từ tiếng Anh shorts).
Trang phục có thể được may từ các loại cô-tông (vải bông – coton) hoặc bằng len (làm từ lông cừu – laine). Trên đầu có mũ phớt (feutre, một loại mũ dạ), mũ be-rê (béret, một loại mũ nồi)… dưới chân là đôi dép săng-đan (sandales), sau này người Sài Gòn lại chế thêm dép sa-bô (sabot nguyên thủy tiếng Pháp là guốc).
Đi lính cho Tây thì được phát đôi giày săng-đá (giày của lính – soldat). Loại lính nhảy dù, biệt kích (ngày nay là đặc công) gọi là còm-măng-đô (commando). Một đoàn xe quân sự có hộ tống được gọi là công-voa (convoi, trông cứ như con voi trong tiếng Việt!). Thuật ngữ quân sự chỉ những công sự xây đắp thành khối vững chắc, dùng để phòng ngự, cố thủ một nơi nào đó được gọi là lô-cốt có xuất xứ từ blockhaus. Ngày nay, chữ lô cốt còn được dùng chỉ những nơi đào đường, thường được rào chắn, vây kín mặt đường, cản trở lưu thông.
Xưa kia cảnh sát được gọi qua nhiều tên: mã-tà (xuất xứ từ tiếng Pháp matraque, có nghĩa là dùi cui), sen đầm (gendarme), phú-lít (police), ông cò (commissaire)… Lực lượng thuế quan được gọi là đoan (douane), lính đoan còn có nhiệm vụ đi bắt rượu lậu là một mặt hàng quốc cấm thời Pháp thuộc.
Nông phẩm thì có đậu cô-ve (còn gọi tắt là đậu ve – haricot vert), đậu pơ-tí-poa (đậu Hòa Lan có hột tròn màu xanh – petits-pois), bắp sú (bắp cải – chou), súp-lơ (bông cải – chou-fleur), xà lách (salade), cải xoong (còn gọi là xà lách xoong cresson), cà-rốt (carotte), ác-ti-sô (artichaut)…
Tiếng Tây cũng đi vào âm nhạc. Từ điệu valse, tango… đến đàn piano (dương cầm), violon (vĩ cầm), kèn harmonica (khẩu cầm)… Ở các đăng-xinh (khiêu vũ trường – dancing) luôn có ọc-két (ban nhạc- orchestre) chơi nhạc và xuất hiện một nghề mới gọi là ca-ve (gái nhẩy – cavalière). Ngày nay người ta dùng từ ngữ ca-ve với ý chỉ tất cả những cô gái làm tiền, khác hẳn với ý nghĩa nguyên thủy của nó. Người phương Tây dùng nhiều sữa và các sản phẩm của sữa nên đã đưa vào ngôn ngữ tiếng Việt những từ ngữ như bơ (beurre), pho-mát (fromage), kem (crème)… Nổi tiếng ở Sài Gòn có hai nhãn hiệu sữa Ông Thọ (Longevity) và Con Chim (Nestlé) như đã nói ở phần trên.
Có người cắc cớ thắc mắc, đàn ông mà lại là ông già thì làm sao có sữa? Xin thưa, hình tượng “Ông Thọ chống gậy” trên hộp sữa chỉ muốn nói lên tuổi thọ (longévité) của người dùng sữa. Trường hợp của Nestlé cũng vậy. Con Chim thì làm gì có sữa? Thực ra thì logo của Nestlé là một tổ chim (gồm chim mẹ và 2 chim con) nhưng người Việt mình cứ gọi là sữa Con Chim cho tiện. Cũng vì thế mới có nhiều câu chuyện khôi hài về sữa Con Chim. Chú Ba Tàu, chủ tiệm “chạp phô”, giải thích vì sao sữa Con Chim lại bán với giá mắc hơn những sữa khác: “Sữa con bò vì có nhiều vú nên rẻ, sữa mẹ chỉ có 2 vú nên đắt nhưng Con Chim nhỏ chút xíu, vắt được 1 lon sữa là quý lắm thì phải mắc tiền nhất chớ!”. Các ông lại giải thích khi các bà thắc mắc Con Chim làm gì có sữa: “Tại mấy bà không để ý đấy thôi, con chim khi hứng chí cũng tiết ra một thứ sữa màu trắng đục, đó không phải là sữa thì là gì?”.
Thế mạnh của Nestlé là các sản phẩm sữa bò khác như Núi Trắng (Lait Mont-Blanc) và sữa bột Guigoz. Ngày xưa, những gia đình trung lưu đều nuôi con bằng sữa bột Guigoz. Tôi vẫn còn nhớ cảm giác khi ăn vụng một thìa Guigoz của em út: vừa bùi, vừa béo, những hạt sữa nhỏ ly ty như tan ngay trong miệng. Guigoz được chứa trong một cái lon bằng nhôm, cao 15cm, có sọc ngang, bên trong lại có sẵn thìa để giúp người pha dễ sử dụng. Khi dùng hết bột, các bà nội trợ không vứt lon như những loại sữa khác vì lon Guigoz có nắp đậy rất kín nên được “tái sử dụng” trong việc đựng đường, muối, tiêu, bột ngọt…
Những người thiết kế lon Guigoz chắc hẳn chưa bao giờ nghĩ cái lon lại có nhiều công dụng sau khi sữa bột ở bên trong đã dùng hết. Lon Guigoz lại còn theo chân những tù nhân cải tạo như một vật “bất ly thân”. Những người “tưởng đi học có 10 ngày” mang theo lon Guigoz để đựng các vật dụng linh tinh như bàn chải, kem đánh răng, vài loại thuốc cảm cúm, nhức đầu để phòng khi cần đến.
Lon Guigoz thường được chúng tôi gọi tắt là “lon gô”. Học tập càng lâu lon gô càng tỏ ra “đa năng, đa hiệu”. Muốn múc nước từ giếng lên thì dùng gô làm gàu, buổi sáng thức dậy dùng gô làm ly đựng nước súc miệng, nhưng gô còn tỏ ra đặc biệt hữu ích khi dùng như một cái nồi để nấu nước, thổi cơm, luộc măng (lấy ở trên rừng), luộc rau, luộc khoai mỳ (“chôm chỉa” khi đi “tăng gia sản xuất”)… nghĩa là làm được tất cả mọi công việc bếp núc.
Chúng tôi ở trong một căn cứ cũ của Sư đoàn 25 tại Trảng Lớn (Tây Ninh) nên có cái may là còn rất nhiều vỏ đạn 105 ly. Người cải tạo săn nhặt những vỏ đạn về và chế thành một cái lò “dã chiến” và lon gô để vào trong lò vừa khít, tưởng như 2 nhà thiết kế vỏ đạn và lon gô đã ăn ý với nhau “từng centimét” ngay từ khâu thiết kế ban đầu! Ai chưa có lon gô thì nhắn gia đình tìm để đựng đồ ăn mỗi khi được vào trại “thăm nuôi”. Sau 30/4/75 lon gô trở nên hữu dụng vì công nhân, sinh viên, học sinh dùng lon gô để đựng cơm và thức ăn cho bữa trưa. Người Sài Gòn thường đeo một cái túi đựng lon gô khi đi làm, một hình ảnh không thể nào quên của “thời điêu linh” sau 1975.
Tình cờ tôi bắt gặp trang web (http://www.teslogos.com/.html) của Pháp quảng cáo bán lon sữa Guigoz cho những người sưu tầm, giá lên tới 15 euro cho một lon Guigoz xưa, dĩ nhiên là chỉ có lon không, không có sữa! Người Pháp khi đến Việt Nam mang theo cả chiếc ô-tô (xe hơi – auto, automobile). Xe xưa thì khởi động bằng cách quay ma-ni-ven (manivelle) đặt ở đầu xe, sau này tân tiến hơn có bộ phận đề-ma-rơ (khởi động – démarreur). Sau khi đề (demarrer), xe sẽ nổ máy, sốp-phơ (người lái xe – chauffeur) sẽ cầm lấy vô-lăng (bánh lái-volant) để điều khiển xe… Về cơ khí thì người Sài Gòn dùng các từ ngữ như cờ-lê (chìa vặn-clé), mỏ-lết (molete), đinh vít (vis), tuốc-nơ-vít (cái vặn vít- tournevis),công-tơ (thiết bị đồng hồ – compteur), công tắc (cầu dao – contact)…
Bây giờ nói qua chuyện xe đạp cũng có nhiều điều lý thú. Chiếc xe đạp trong ngôn ngữ Việt mượn rất nhiều từ tiếng Pháp. Trước hết, phía trước có guy-đông (thanh tay lái – guidon), dưới chân có pê-đan (bàn đạp- pedale), săm (ruột bánh xe -chambre à air) và phía sau là bọc-ba-ga (để chở hàng hóa- porte-bagages). Chi tiết các bộ phận trong xe đạp cũng… Tây rặc. Có dây sên (dây xích – chaine), có líp (bộ phận của xe đạp gồm hai vành tròn kim loại lồng vào nhau, chỉ quay tự do được theo một chiều – roue libre), rồi phanh (thắng – frein) ở cả bánh trước lẫn bánh sau. Thêm vào đó còn có các bộ phận bảo vệ như gạc-đờ-bu (thanh chắn bùn – garde-boue) và gạc-đờ-sên (thanh che dây xích – garde-chaine).
Mỗi chiếc xe đạp xưa còn trang bị một ống bơm (pompe) để phòng khi lốp xe xuống hơi. Bên cạnh đó người ta gắn một chiếc đy-na-mô (dynamo – bộ phận phát điện làm sáng đèn để đi vào ban đêm). Tôi còn nhớ khi tháo tung một cái dynamo cũ thấy có một cục man châm gắn vào một trục để khi trục quay sẽ sinh ra điện.
Hồi xửa hồi xưa, đi xe đạp không đèn vào ban đêm rất dễ bị phú-lít thổi phạt nên nếu xe không đèn, người lái phải cầm bó nhang thay đèn! Sài Gòn xưa có các nhãn hiệu xe đạp mổi tiếng như Peugoet, Mercier, Marila, Follis, Sterling… Đó là những chiếc xe đã tạo nên nền “văn minh xe đạp” của những thế hệ trước và một nền “văn hóa xe đạp” còn lưu lại trong ngôn ngữ tiếng Việt của người Sài Gòn xưa.
(Sưu tầm)

Hai Bà Trưng đánh giặc nào?

Written By kuxh on 17/10/2012 | 09:00

Trước ngày nhập học, cháu gái tôi hầu như không rời mấy cuốn SGK còn thơm mùi giấy mới. Đang đọc say sưa bỗng nó chạy đến bên tôi, chỉ vào bài tập đọc Hai Bà Trưng (Tiếng Việt 3, tập 2, trang 4, 5) nói ông ơi, cháu đọc hoài mà vẫn không hiểu Hai Bà Trưng đánh giặc nào. Biết ngay “mặt mày” kẻ xâm lược nhưng nghĩ con bé đọc lớt phớt nên không nắm được nội dung, tôi chưa vội chia sẻ mà tranh thủ dạy cho cháu cách đọc sách. 
"Ông ơi, cháu đọc hoài mà vẫn không hiểu Hai Bà Trưng đánh giặc nào"
Rằng phải đọc từ từ cho thấm, kết hợp đọc với suy nghĩ, đừng đọc theo kiểu lấy được, lướt con mắt cho xong… Giờ cháu đọc lại đi. Làm gì có chuyện viết về khởi nghĩa Hai Bà Trưng mà không nêu đích danh giặc ngoại xâm.
 Con bé nhăn mặt nói cháu đọc kỹ lắm rồi, vẫn không biết hai Bà đánh bọn xâm lược nào. Tôi nhổm dậy, cầm quyển sách, giương mục kỉnh lên. Và chợt ngớ ra: Lời con trẻ đúng quá. Bài học tuyệt không một chữ nào vạch mặt chỉ tên kẻ cướp mà toàn những danh từ nhợt nhạt, mập mờ, chung chung: tướng giặc, quân thù, giặc ngoại xâm, kẻ thù, quân xâm lược.
 Viết về một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc (năm 40 – 43) gắn với tên tuổi Hai Bà Trưng lừng lẫy nhưng SGK không hề dám nửa lời chỉ đích danh bọn xâm lược. Thậm chí cụm từ có tính hàm ngôn “phương Bắc” sách cũng không dám đặt sau cụm từ “kẻ thù”. Vì sao SGK không cho các cháu biết quân giặc nào đã bắt tổ tiên của chúng lên non tìm ngà voi, xuống biển mò ngọc trai, để phải làm mồi cho hùm beo, thuồng luồng, cá sấu?
 Vì sao SGK không cho các cháu biết giặc ngoại xâm nào đã khiến “lòng dân oán hận ngút trời”? Và vì sao SGK không nói rõ cho các cháu biết Hai Bà Trưng đã lãnh đạo nhân dân đánh đuổi quân xâm lược nào, chúng từ đâu đến? Cốt lõi của lịch sử là sự thật. Mỗi dòng lịch sử nước ta đều được viết bằng mồ hôi và máu của nhiều thế hệ.
" mỗi trang sử là một mảnh hồn thiêng sông núi."

Nên có thể nói mỗi trang sử là một mảnh hồn thiêng sông núi. Không thể chấp nhận bài học lịch sử… nửa vời với cách trình bày ngắc ngứ, lấp lửng, loanh quanh, thiếu minh bạch, nếu không muốn nói là né tránh, bưng bít như thế. Ở Lạng Sơn từng xảy ra chuyện tấm bia kỷ niệm chiến thắng của bộ đội VN bị đục bỏ những chữ điểm tên chỉ mặt quân thù.
Người ta đã đổ thừa cho mưa nắng, cho sức tàn phá của thời gian. Còn với SGK Tiếng Việt 3, người làm sách đổ thừa như thế nào? Người lớn sao lại làm khuất lấp tên tuổi kẻ thù của Hai Bà Trưng để trẻ con phải băn khoăn? Thật khó giáo dục HS niềm tự hào, lòng yêu nước khi SGK đã thiếu công bằng, thiếu trung thực đối với lịch sử.
 Trong lúc hy vọng bài học này sẽ được các nhà làm sách trả lại sự phân minh trắng đen sòng phẳng, tôi phải nói ngay trước đôi mắt mở to của cháu tôi rằng bọn giặc xâm lăng nước ta bị Hai Bà Trưng đánh không còn manh giáp chính là giặc Hán (Trung Quốc).
 Trần Cao Duyên

Người đàn bà mê mải “thứ bỏ đi”

Written By kuxh on 22/09/2012 | 14:37

Nhìn thấy bao nhiêu vật dụng thân thuộc của người nông dân dần đi vào dĩ vãng đã thôi thúc bà gom chúng lại để trưng bày. Và sau hơn 10 năm, bà đã sở hữu hơn 1.000 hiện vật, không những thế bà còn xây thư viện phục vụ các em nhỏ ở địa phương có điều kiện học tập, nâng cao kiến thức. 
Bà là Ngô Thị Khiếu (57 tuổi) ở thôn Bỉnh Di, xã Giao Thịnh (Giao Thuỷ, Nam Định).
 Níu giữ thời đã qua 
 Tìm tới nhà bà Khiếu không khó. Ngay từ ngoài cổng nhà bà, những chiếc cối xay đã sừng sững như “nghênh đón” khách. Trong cũng như ngoài, chỗ nào trống đều là chỗ của những “người bạn” này chiếm lĩnh. Khi chúng tôi hỏi tới đến tên bà Khiếu thì một số người cho rằng, bà là một người “khùng”, bởi bà đang làm một công việc chẳng giống ai.
 Đó là xây dựng bảo tàng và thư viện của riêng mình để phục vụ mọi người. Tuy nhiên cũng có người nói bà đang tái hiện một không gian sinh hoạt truyền thống của người dân thôn quê để con em lớn lên biết cha ông đã sống và làm việc như thế nào.
 Bà Khiếu sinh ra và lớn lên ở xã Xuân Tân (Xuân Trường, Nam Định), sau khi tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (năm 1978), bà được phân công về giảng dạy trường cấp 2 tại xã Giao Thịnh cho đến lúc về hưu. Sống ở quê, bà thấy ngôi làng của mình có nhiều thay đổi nhưng có sự thay đổi làm cho bà phải bận lòng. Hiện bà Khiếu đang xây dựng một công trình có sự kết hợp giữa trưng bày hiện vật và thư viện trong một quần thể với 5 ngôi nhà rộng hơn 5.000m2. Mỗi ngôi nhà thể hiện mỗi phong cách khác nhau.


Bà Khiếu chia sẻ: Hiện ở quê bao nhiêu vật dụng của người dân như mâm, nồi, đèn dầu… bằng đồng đều bị bán hết. Ngoài ra, cày bừa, gầu tát nước, nong nia, rổ rá… ít người sử dụng. Thay vào đó là nồi cơm điện, mâm nhôm, nồi i-nốc, rồi máy cày, máy hút nước. Điều bà lo lắng nhất là sau này khi bọn trẻ lớn chúng có biết được thế hệ cha ông sống như thế nào? Bọn trẻ nó được học trên sách vở nhưng chứng kiến tận mắt thì không thể. Hơn 10 năm qua, bà Khiếu rong ruổi về từng làng quê, ngõ xóm tìm kiếm, nhặt nhạnh những nông cụ có nguy cơ biến mất.
Bà Khiếu bên ngôi nhà thể hiện cho tầng lớp trung nông.

Những vật dụng nho nhỏ được bà con tặng, cái có giá trị thì bà bỏ tiền mua. Khoản tiền lương hằng tháng đều bị bà “nướng” vào sở thích khác người này. Hiện bà Khiếu đã là chủ sở hữu “tài sản” khoảng 1.000 hiện vật bao gồm: mâm, nồi, đèn dầu… bằng đồng. Ngoài ra còn có hàng trăm nông cụ sản xuất của nông dân như: cày bừa, cuốc thuổng, gầu tát nước, nong nia, rổ rá các loại, cối xay thóc…

Và thư viện, hiện tại bà đã có hơn 1.000 đầu sách. Có hiện vật, có sách bà Khiếu dồn tiền đầu tư xây dựng nhà để trưng bày hiện vật. Dẫn chúng tôi tham quan, bà Khiếu mô tả về công trình của mình: Quần thể khu bảo tàng kết hợp với thư viện gồm có 5 ngôi nhà với 5 phong cách khác nhau, nó thể hiện cho các giai đoạn phát triển của bộ mặt xã hội theo chiều dài lịch sử đất nước của làng quê Việt Nam.

 Bà Khiếu cho biết: Ngôi nhà thứ nhất được xây dựng và trưng bày vật dụng cho tầng lớp nông dân nghèo, được gọi là nhà của bần nông. Đặc điểm chính của ngôi nhà này tường được đắp đất (trát vách), nền được san phẳng bằng đất, mái được lợp bằng rạ.

 Trước nhà là một mảnh vườn nhỏ, được trồng hai cây cau diễn tả lại việc dùng hai cây cau như hai cây cột để buộc dây phơi quần áo, trong nhà còn được sắp đặt có một chiếc cối xay được làm bằng tre và gỗ, cối giã gạo. Ngoài ra trưng bày cày, cuốc, đôi quang gánh, thúng mẹt, vó tép… là những đồ dùng cơ bản nhất của tầng lớp những người nông dân nghèo.

Bà Ngô Thị Khiếu giới thiệu về các dụng cụ sinh hoạt của người nông dân.
Ngôi nhà thứ hai biểu trưng cho tầng lớp trung nông, được xây dựng bằng gạch với kết cấu kiên cố hơn so với nhà bần nông. Ngôi nhà có thêm gian buồng, mái nhà được luồn gianh, lợp bổi; bên trong được bố trí ngăn nắp với các đồ dùng sinh hoạt của tầng lớp này với chạn bát, giường chiếu.

Ngôi nhà sau khi đưa vào sử dụng còn là nơi biểu diễn nghề dệt cói truyền thống của quê hương. Thể hiện cho tầng lớp địa chủ là ngôi nhà thứ ba, được xây dựng kiên cố, các khung cửa, cánh cửa được làm bằng gỗ lim và sến, mái nhà được lợp ngói, quá giang ngôi nhà, vì kèo cũng đều được làm bằng những loại gỗ quý. Trong nhà cũng có rất nhiều các hiện vật có giá trị tượng trưng cho tầng lớp quyền lực lúc bấy giờ với giường, sập gụ, tủ…

 Ngôi nhà thứ tư được thiết kế xây dựng theo kiểu gác tường, được lợp ngói, nó thể hiện cho sự phát triển của xã hội có sự kết hợp cổ kim, quá giang của ngôi nhà được chạm trổ tinh vi, nghệ thuật thể hiện con mắt thẩm mỹ của người Á Đông.

 Và ngôi nhà thứ 5 mang phong cách hiện đại, được xây dựng bằng bê tông cốt thép, thiết kế theo mô hình bảo tàng nhưng không cầu kỳ, khi sử dụng sẽ tận dụng tối đa ánh sáng tự nhiên để phản ánh các đồ vật trưng bày.

 Toà nhà được xem là điểm nhấn quan trọng nhất của khu bảo tàng với kết cấu hình khối 4 tầng, tầng 1 dành cho bộ phận lễ tân. Tầng 2 và 3 là bảo tàng, nơi sẽ trưng bày các hiện vật được sưu tầm với giá trị lịch sử phát triển của nông thôn Việt Nam qua từng thời kỳ. Tầng 4 là thư viện sẽ cung cấp các đầu sách cổ kim được một số chuyên gia tư vấn và sưu tầm.

Không vì tiền 
 Ông Phạm Đức Thành, Phó chủ tịch UBND xã Giao Thịnh, cho biết: Khi biết được ý tưởng của bà Khiếu, lãnh đạo xã đã có nhiều lần kiểm chứng thông tin và nhận thấy đây là một công trình thiết thực với địa phương, nó phù hợp với sự phát triển của thôn quê. Mặt khác, từ thị trấn Quất Lâm đến đây chỉ có 7km, chúng tôi nghĩ khi công trình của bà Khiếu hoàn thành sẽ có nhiều du khách đến đây tạo điều kiện phát triển ngành dịch vụ. 
 Nguồn cơn xây dựng công trình đồ sộ này, bà Khiếu cho hay, trong một lần bà tham dự khai trương trường mầm non của Bỉnh Di, thấy trường còn thiếu thốn quá nhiều thứ, mang tiếng là trường mầm non nhưng chỉ có mỗi cái “xác nhà”, không có nơi vui chơi, giải trí, đồ dùng học tập cho các cháu. Thấy vậy, bà nêu ý tưởng xây dựng thư viện với gia đình và mọi người đều ủng hộ, cho dù kinh tế gia đình cũng không khá giả lắm. Được sự nhất trí cao của cả gia đình, bà mạnh dạn lập hẳn một đề án xây dựng bảo tàng kết hợp với thư viện.

 Sau khi hoàn thành bà đặt vấn đề này lên lãnh đạo xã xin thầu khu đất bỏ hoang cạnh trường mầm non làm thư viện để phục vụ các cháu học sinh và người dân. Được sự đồng ý của xã, bà tự bỏ kinh phí xây dựng một khu bảo tàng nhằm lưu giữ lại những nét văn hoá của người dân lao động nông thôn vùng đồng bằng Bắc Bộ. Trong quá trình làm đề án, bà Khiếu có đi tham khảo ý kiến của nhiều chuyên gia về văn hoá, lịch sử và nhận được sự chỉ dẫn nhiệt tình.

Toàn bộ khu vực này đều được xây dựng rất đơn giản, thân thiện và phù hợp với văn hoá vùng miền theo chiều dài lịch sử phát triển của khu vực. Nói về phương pháp quản lý trong tương lai, bà Khiếu cho biết: Hiện tại bà đã sắp xếp ổn định về nhân sự, trong đó có những người con của quê hương đã học qua trường lớp về văn thư và du lịch cùng tham gia quản lý bảo tàng và thư viện. Trong quá trình khai thác, sẽ miễn phí tham quan, vui chơi giải trí và đọc sách cho học sinh, sinh viên và bà con trong huyện.
 Đắc Thành

Chuyện kể về các thầy bói đất Sài Gòn xưa

Nhiều người lớn tuổi Sài Gòn kháo nhau rằng: đáng lẽ cuộc đảo chính năm 1963 (lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm) đã xảy ra sớm hơn, nhưng vì các thầy bói đã bấm độn nên phải dời qua ngày 1/11/1963. Giai thoại kể lại, có quan chức chế độ cũ được thầy bói khuyên là nên luôn luôn thắt cà vạt màu xám có sọc màu hồng, và ông này đã âm thầm làm như vậy trong bao nhiêu năm trời.
 Vì sự mê tín của cả nhân dân và chính quyền, các vị thầy bói có ảnh hưởng rất lớn, nếu không nói là đã đóng những vai trò quan trọng trên chính trường.
 Các thầy bói nổi danh ở Sài Gòn 
 Trong nghề bói toán ở Sài Gòn trước năm 1975, các thầy bói đều là những người làm ăn khá giả và rất có uy tín xã hội. Trong đó, số thầy bói từ miền Bắc di cư vào Nam chiếm một lượng lớn. Có lẽ, thầy Khánh Sơn là người nổi tiếng nhất và lâu nhất ở Sài Gòn trước năm 1975.

Từ những năm Pháp thuộc, thầy đã tự xưng là Maitre Khánh Sơn. Báo chí thời ấy đã đăng ảnh thầy đeo kính trắng trí thức, một ngón tay chỉ vào cái chìa khóa, tượng trưng cho sự khám phá mọi điều huyền bí (?!). Thầy hành nghề từ những năm 1940, sau khi tốt nghiệp bằng sư phạm tại Hà Nội, chứ không phải vì thất nghiệp mà phải xoay nghề như một số thầy ở bên Tàu sang Việt Nam.
Thầy bói đang xem số mạng cho khách. (Ảnh minh họa)
Theo nhiều giai thoại, thầy Khánh Sơn là người hào hoa phong nhã, lại làm ra tiền nên dù vợ con đàng hoàng, thầy vẫn được các bà, các cô mê mệt. Viên toàn quyền Pháp Pasquier trấn nhậm Đông Dương vào năm 1936, được thầy Khánh Sơn đã đưa ra một “câu sấm” để giải đoán trường hợp ông ta: "Bao giờ hai bảy mười ba/Lửa thiêng đốt cháy tám gà trên mây" Theo một số người, thầy Khánh Sơn cho rằng “tám gà” là “bát kê” (phiên âm của tên vị toàn quyền); và “trên mây” là “máy bay”. Sau đó ít lâu, máy bay trên chở viên viên toàn quyền bay về Pháp bị bốc cháy.
 Không những ông ta mà cả tám người trên phi cơ đều tử nạn. Thời gian hành nghề của thầy Khánh Sơn kéo dài rất lâu. Thầy đã từng là nhà đoán vận mạng riêng của rất nhiều nhân vật tên tuổi như: cựu hoàng Bảo Đại, cựu quốc vương Sihanouk…
 Thầy Minh Nguyệt, là một người miền Nam, tự quảng cáo trên báo là giáo sư Minh Nguyệt, và mở văn phòng ở đường Đề Thám. Cùng với các thầy Huỳnh Liên, Khánh Sơn, thầy Minh Nguyệt là một nhà bói toán có đến hàng chục ngàn thân chủ. Văn phòng của thầy lúc nào cũng đầy nữ thân chủ, phần đông là các cô có chồng quân nhân Mỹ đã bỏ Việt Nam.
Các cô tới để nhờ thầy đoán xem bao giờ gặp lại cố nhân để cho đời sống được lên hương như trong quá khứ. Hàng chục cô trong đó mong được nâng khăn sửa túi cho giáo sư Minh Nguyệt, nhưng thầy nghiêm lắm, chẳng bao giờ “trăng hoa”. Thầy Nguyễn Văn Canh sinh quán tại Nam Định. Thầy Canh mù lòa từ thuở sơ sinh, nên được gia đình cho học nghề bói toán để làm kế sinh nhai. Thuở đầu đời, thầy hành nghề tại Thái Bình, Hà Nội, rồi di cư vào Sài Gòn.
 Dù bị mù nhưng thầy Canh có đến mười người con, tất cả đều được sinh trưởng trong cảnh no ấm sung túc nhờ nghề của thầy, vốn là một nghề rất sáng giá vào thời ấy. Thầy sở trường về tử vi và bói dịch, nổi tiếng như một nhà tiên tri. Dáng người bệ vệ cao lớn, thầy có sức khoẻ dồi dào và thần trí minh mẫn. Xem tử vi trên năm đầu ngón tay, thầy Canh chỉ cần nghe ngày sinh tháng đẻ của thân nhân một lần là nói ngay vanh vách sao nào đóng ở cung nào, cung thê có đào hoa hồng loan thì sao, cung mệnh không có chính diệu mà đắc tam không thì cuộc đời sẽ như thế nào.
 Nói rồi, thầy nhớ mãi, lần sau khách tới chỉ cần nói tên là thầy biết số này ra sao! Thầy Ba La cũng sinh quán ở ngoài Bắc, và di cư vào Sài Gòn. Trước năm 1975, thầy Ba La mở văn phòng bói toán, khách bước vào trông thấy ngay một cụ già tiên phong đạo cốt, râu tóc bạc phơ, chẳng khác gì các đạo sĩ trong truyện Tàu. Thầy cũng mù lòa từ lúc trẻ nên đã chọn nghề này để sinh sống. Văn phòng thầy Ba La tiếp toàn là các vị trí thức, giáo sư, kỹ sư, luật sư...
 Có người không tới để nhờ thầy đoán vận mệnh, mà chỉ đến để xin được luận đàm về tử vi. Thầy Ba La không làm khó trong việc tiếp thân chủ, nhưng thầy hết sức thận trọng khi đặt một lá số, gieo một quẻ bói. Chuyện kể rằng, có hai vợ chồng nọ cầu tự mãi mới có một đứa con trai. Năm lên ba tuổi, cậu bé bị bệnh mà mất. Hai vợ chồng lại tiếp tục “cầu tự” để xin được ‘trả lại’ đứa con trai. Ba năm sau, họ lại sinh được một bé trai.
 Đứa bé giống anh trai đã mất như đúc, kể cả nốt ruồi son giữa ngực. Vì vậy hai ông bà thân sinh lấy tên người anh đặt cho người em, cả giấy khai sinh đều giữ nguyên của người anh để đi học, dù họ cách nhau ba tuổi. Cậu bé lớn lên, học hành đõ đạt và tìm đến thầy Ba La để nhờ giải đáp cuộc đời mình. Anh ta đưa thầy xem lá số tử vi của anh trai, thầy Ba La càng xem càng toát mồ hôi, miệng không ngớt thốt lên : ‘Lạ quá, lạ quá’. Sau cùng, thầy nói rằng: "Nếu thật anh sinh vào ngày giờ này, tháng này, năm này, thì anh đã mệnh yểu từ năm lên ba!".
Nghề bói toán dù hiện nay không được công nhận nhưng rất có sức hấp dẫn.
Thầy Ba La xem lại thật kỹ, vì bị mù, nên thầy gọi người nhà ra nhận xét và trả lời từng điểm: có phải cái trán thế này, cái mũi thế này, cặp mắt thế này, tầm vóc cao lớn như thế này…không ? Và nhất là có nốt ruồi son ở giữa ngực? Thầy lập lại: "Có nốt ruồi đỏ thật à ? Thế thì lạ quá ! Tôi chịu, không đủ tài đoán số này cho anh.
 Anh hãy cầm tiền về và chỉ đến khi nào anh… có được một lá số tử vi khác!". Thầy Ba La bực tức vì cảm thấy, lần đầu tiên, mình không tin ở khả năng của mình. Cũng bực tức nghi ngờ phần nào người thân chủ này đã có thể không thành thật.
 Anh thanh niên cảm phục đến sợ hãi, xin lỗi thầy và trình ra lá số tử vi với ngày tháng sinh thật. Hầu hết những giai thoại trên đều không có sức thuyết phục, nhưng có một điều chắc chắn là nghề bói toán ở Sài Gòn trước năm 1975 rất thịnh hành. Thậm chí, các nhà cầm quyền thời điểm đó còn mời cả các thầy bói lên truyền hình để tiên đoán về vận mệnh chính trị quốc gia. Cuộc sống của các thầy bói này do đó cũng rất sung túc.
 Những “bóng hồng” trong làng bói toán Sài Gòn 
 Tuy cũng thành công, nhưng so với quý ông thì số lượng các thầy bà thời ấy ít hơn nhiều.
Thường thì, khách của các thầy bà là phụ nữ, nhưng đôi khi cũng còn là các thiếu gia lắm tiền nhưng mê tín. Bà Anna Phán đã nổi tiếng một thời từ Hà Nội. Khi bà theo làn sóng di cư vào Nam thì chỉ còn hành nghề được ít năm nữa. Cũng có người cho rằng là vì tuổi già sức yếu nên con cháu không muốn bà tiếp tục, dù rằng… lộc thánh hãy còn.
 Trẻ hơn Bà Anna Phán, có một bà thầy gợi cảm mang cái tên rất đầm: Madame Claire. Madame Claire chẳng những bói hay mà còn là một người lịch lãm và gợi cảm. Có một công tử Bạc Liêu về già còn đem đến tặng Madame vài món nữ trang đáng giá. Cô Bích, một thiếu phụ người Đà Nẵng nổi danh về bói toán mà cũng có lập am, lên đồng.
Xưa kia, hồi còn Pháp thuộc, cô đã từng có chồng sĩ quan Pháp nhưng không có con. Là người thất học nhưng khi "đồng lên", cô Bích viết chữ Hán đẹp như rồng bay phượng múa. Đó là lời tiên thánh truyền dạy cho kẻ đến hầu cửa cô, một người mà khi đồng lên thì trở nên đẹp lộng lẫy với cặp mắt sắc như dao. Cô Bích đã tạ thế tại Đà Nẵng sau năm 1980. Nhưng vị thầy bói nữ lừng danh hơn cả phải kể là bà Nguyệt Hồ ở đường Đinh Công Tráng.
 Vào khoảng cuối năm 1974, bà Nguyệt Hồ 43 tuổi, xưa kia đã từng nổi tiếng là hoa khôi. Cả bốn vị nữ thầy trên đây đều đã thành công với nghề nghiệp và sống một cuộc đời sung túc, nếu không nói là vương giả. Các bà không những chỉ bóc bài, xem chỉ tay mà còn làm công việc giới thiệu tình duyên và gỡ rối tơ lòng. Các nữ thân chủ khi có chuyện rắc rối về gia đạo là tìm đến các bà như tìm đến những cái phao.
Ngày nay, nghề bói toán không được công nhận và các thầy bói chỉ hoạt động lén lút.
Đoạn kết buồn của các thầy bói nổi tiếng
 Theo chuyện kể lại, trước 1975, nhờ làm ăn khấm khá, thầy bói Huỳnh Liên tậu một khu vườn nhà ở làng Vĩnh Phú, Lái Thiêu, Bình Dương để khi rảnh rỗi ông lại từ Sài Gòn về đây vui thú với vợ bé. Trong khi đó, bà cả vẫn ở Sài Gòn. Sau năm 1975, nghề bói không còn được xem là hợp pháp, thầy Huỳnh Liên không có con và về ở hẳn với bà bé.
Ông không tin tưởng bà vợ bé lắm, nên xâu chìa khóa mở tủ cất tiền và vàng ông luôn luôn giữ bên mình. Một hôm đường dây điện thoại tầng trên bị hỏng, ông sai bà đi gọi hai người cháu của bà lên sửa. Tới chiều, hai đứa cháu tới nhà rồi theo ông chủ lên gác sửa điện, trong khi chị bếp đi bắt gà đãi khách. Khi chị bếp trở lại, nghe có tiếng động khả nghi, chị chạy lên tầng trên thì thấy một cảnh tượng hãi hùng: Một người cầm khúc dây điện ngắn xiết chặt cổ ông Huỳnh Liên, ông trợn mắt và không kêu la gì được. Lúc công an đến thì ông Huỳnh Liên đã chết.
Người ta thấy cái tủ cất giấu tiền, vàng của ông vẫn còn nguyên và đồ đạc trong nhà cũng không bị mất món nào. Trong lúc quýnh quáng tháo chạy, hai đứa cháu vợ ngoài việc cướp của còn quên mất hai cái áo còn cởi bỏ trong nhà.
Trong túi áo hai kẻ sát nhân còn bỏ lại, có đầy đủ giấy tờ tùy thân của chúng. Nhờ đó, công an không mất nhiều công sức cũng tóm gọn cả hai tại nhà ngay trong đêm đó. Theo dòng chảy của lịch sử, các thầy bói của Sài Gòn cũ đã không còn những vị thế xã hội như xưa.
 Đoán vận mạng cho nhiều người nhưng cuối cùng thì các thầy cũng chẳng đoán được vận mạng cho chính mình. Những người lớn tuổi đã sống ở Sài Gòn lâu năm kể lại: cho đến năm 1972, thầy Khánh Sơn và các thầy Minh Nguyệt, Huỳnh Liên được mời lên truyền hình của chế độ cũ tiên đoán vận mệnh. Cả ba thầy đều nói những điều tốt đẹp. Không có thầy nào tiên đoán được biến cố long trời lở đất 30/4 để tháo chạy mà giữ lấy nghề.
 Theo Bưu Điện Việt Nam

Cái váy, cái quần của các bà

Written By kuxh on 21/09/2012 | 14:24

…Bốn cột lang, nha cắm để chồng/ Ả thì đánh cái, ả còn ngong/ Tế hậu thổ khom khom cật,/ Vái hoàng thiên ngửa ngửa lòng/ Tám bức quần hồng bay phới phới,/ Hai hàng chân ngọc đứng song song./ Chơi xuân hết tấc xuân dường ấy,/ Cột nhổ đem về để lỗ không. (Cây đánh đu, Hồng Đức quốc âm thi tập)… 

Thuở còn mài đũng quần trên ghế nhà trường, được học bài Hai bà Trưng:

 Bà Trưng quê ở Châu Phong 

 Giận người tham bạo, thù chồng chẳng quên

 Hồng quần nhẹ bước chinh yên 

 Đuổi ngay Tô Định dẹp tan biên thành... 

 Nghe thầy giảng lúc ra trận hai bà mặc hồng quần, nghĩa là quần đỏ. 

 Cả lớp khoái chí, cười khúc khích. Sau này đọc sách thấy nhiều học giả đồng ý với thầy.
 Hồng quần: quần chính nghĩa là cái váy, cái xiêm, phụ nữ xưa mặc quần đỏ.(Đinh Xuân Lâm và Chu Thiên, Đại Nam quốc sử diễn ca, Văn Học, 1966, tr. 87 ).
 Hồng quần: đàn bà (xưa mặc quần đỏ). (Hoàng Xuân Hãn, tập 2, Giáo Dục, 1998, tr. 77).
 Hồng quần: quần đỏ (tức con gái). (Đào Duy Anh, Hán Việt từ điển).
 Hình ảnh hai bà Trưng mặc quần đỏ dẹp giặc đẹp quá! Đẹp quá hoá ra... đáng ngờ!
 Theo truyền thuyết thì thời Hùng Vương, đàn ông Việt Nam đóng khố, đàn bà mặc váy kín (váy chui) hoặc váy mở (váy quấn). (Thời đại Hùng Vương, Khoa Học Xã Hội, 1976, tr.177).
 Sử nước ta lại cho biết thêm: Năm 1414, nhà Minh cấm con trai con gái không được cắt tóc; đàn bà con gái thì mặc áo ngắn quần dài, hoá theo phong tục phương Bắc. (Đại Việt sử kí toàn thư).
 Nhà Minh muốn đồng hóa dân ta, cấm đàn bà con gái nước ta mặc váy, bắt phải mặc quần như người Tàu. Năm 1428 Lê Lợi đánh đuổi được quân Minh, giành lại độc lập cho đất nước. Sử không cho biết cách ăn mặc của dân ta dưới thời Lê Thái Tổ và mấy triều vua kế tiếp.
 Thời tự chủ, với ý quyết xoá bỏ hết tàn tích nô lệ về y phục, vua Lê Thần Tông niên hiệu Thịnh Đức năm đầu (1653) định phép ăn mặc cho quan dân. Vua Lê Huyền Tông niên hiệu Cảnh Trị thứ ba (1665) cấm đàn bà con gái không được mặc áo có thắt lưng và mặc quần có ống chân (nghĩa là bắt buộc phải mặc váy). (Nhất Thanh, Đất lề quê thói, Đại Nam, tr. 206). Vào khoảng năm 1744 chúa Võ Vương ở phương nam bắt dân gian cải cách y phục.
 Theo giáo sĩ Koffler thì chúa bắt bỏ lối quần áo thô bỉ của người đường ngoài, mà châm chước theo lối quần áo của người Tàu. (Đào Duy Anh, Việt Nam văn hoá sử cương, Bốn Phương, 1961, tr. 173). Chúa Võ Vương muốn “Triều đình riêng một góc trời, gồm hai văn võ, rạch đôi sơn hà” (Kiều), độc lập đối với vua Lê chúa Trịnh đàng ngoài nên ra lệnh bắt đàn bà đàng trong phải ăn mặc như Tàu.
Vì chúa muốn “Thà làm tôi thằng hủi hơn chịu tủi anh em”, mà các bà đàng trong phải mặc quần. Vua Minh Mạng đi xa thêm một bước nữa:
 Tháng tám (có chỗ hát tháng chín) có chiếu vua ra/ Cấm quần không đáy người ta hãi hùng/ Không đi thì chợ không đông/ Đi thì bắt lột quần chồng sao đang.
 Thật ra thì chưa chắc đã là tháng tám hay tháng chín vì sử nhà Nguyễn chép: tháng 10 năm 1828, truyền đổi cách ăn mặc từ sông Gianh trở ra Bắc. (Quốc triều chính biên toát yếu, Thuận Hoá, 1998, tr. 188). Quần không đáy, “vừa bằng cái thúng mà thủng hai đầu, bên ta thì có bên Tàu thì không”, tức là cái váy.
 Minh Mạng bắt cả đàn bà đàng ngoài mặc quần, cấm mặc váy. Trên lí thuyết thì từ năm 1828 đàn bà cả nước ta đều phải mặc quần theo ý muốn của nhà vua. Nhưng thực tế thì ra sao? Thực tế thì “phép vua thua lệ làng”.
“lệnh ông không bằng cồng bà”

Đằng sau luỹ tre xanh, mọi chuyện trong nhà ngoài xóm đều được dàn xếp theo bộ luật bất thành văn “lệnh ông không bằng cồng bà”. Vua nói vua nghe, váy bà bà mặc. Minh Mạng làm sao mà đụng được vào cái váy của các bà nhà quê đàng ngoài! Trong lúc tỉnh thành xôn xao kháo nhau cởi váy mặc quần thì thôn quê miền Bắc vẫn khư khư giữ cái váy.
 Cho mãi đến những năm 1940 vẫn còn cảnh: Quanh bếp ấm nồi bánh chưng sùng sục/ Thằng cu con dụi mắt cố chờ ăn/ Đĩ nhớn mơ chiếc váy sồi đen rức/ Bà lão nằm tính tuổi sắp thêm năm (Anh Thơ, Đêm ba mươi tết, 1941)
 Cái váy của ta cứ âm thầm “Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi” (Phạm Duy). Nhiều phen được vua yêu, lắm lúc bị chúa ghét!
 Cái váy cứ nhẫn nhục bám lấy các bà mà tồn tại. Thế mà hai bà Trưng đã tung ra mốt mặc quần từ những năm 40-43, nghĩa là gần 14 thế kỉ trước khi nhà Minh ra lệnh bắt đàn bà nước ta mặc quần, gần 18 thế kỉ trước khi vua Minh Mạng cấm mặc váy!
 Đầu thế kỉ 20, đàn bà nước ta “quần phần nhiều mặc quần sồi, lĩnh thâm, đôi khi cũng có người mặc quần nhiễu đỏ; ở Nam kỳ và Trung kỳ thì người phong lưu mặc quần nhiễu trắng, chốn quê mặc quần vải xanh”. (Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục, Tổng hợp Đồng Tháp, 1990, tr. 330). Đến khoảng 1938, dân ta “quần thì chỉ dùng sắc trắng và nâu.
Những người già cả mà giàu sang thì ngày hội hè tết nhất mới dùng quần đỏ”. (Đào Duy Anh, Việt Nam văn hoá sử cương, sđd, tr. 173). Hai bà Trưng nhìn xa, đi trước thiên hạ hay cái quần của hai bà... có vấn đề? Bàn về quần, trước hết phải đặt câu hỏi quần là cái gì? Chết thật! Ngần này tuổi đầu mà không biết quần là cái gì à? Quần (chữ hán, bộ y) được Huỳnh Tịnh Của và Đào Duy Anh định nghĩa là đồ để che phần dưới thân thể. Tự điển Génibrel dịch chữ quần là pantalon (quần dài), culotte (quần đùi), jupe (váy đàn bà), vêtement descendant depuis les reins jusqu’aux pieds (đồ mặc che từ eo xuống đến chân).
 Quần được Thiều Chửu dịch là cái quần, cái xiêm. Đang tìm hiểu cái quần lại bị vướng vào cái xiêm. Vậy xiêm là cái gì? Xiêm là áo choàng che trước ngực (Thiều Chửu), áo che đàng trước (Đào Duy Anh, Hán Việt từ điển), cái váy (Đào Duy Anh, Từ điển truyện Kiều), đồ bận dưới, cái củn (củn là đồ bận trên), cái váy (Huỳnh Tịnh Của), jupe (váy dài), jupon (váy ngắn), vêtement inférieur (đồ mặc che phần dưới) (Génibrel),manteau (áo choàng) (Gustave Hue). Đúc kết các định nghĩa trên, chúng ta hiểu rằng xiêm là cái áo choàng, áo mặc ngoài.
 Xiêm ngắn, chỉ che phần trên thân thể, thì chỉ có một tên gọi là xiêm. Xiêm dài (che cả phần dưới thân thể) thì ngoài tên xiêm, còn được gọi là quần, hay váy. Quần là chữ dùng để chỉ đồ mặc che phần dưới thân thể. Quần được dùng cho cả đàn ông và đàn bà.
Quần có thể là cái sa rông của người Miên, cáikilt của người Ecosse...  
Quần có thể là cái sa rông của người Miên, cáikilt của người Ecosse... Đàn ông và đàn bà Tàu đều mặc quần hai ống, cho nên quần đàn ông hay quần đàn bà Tàu đều là... quần (như cách hiểu ngày nay). Chỉ có cái quần đàn bà Việt Nam mới lận đận, rắc rối. Ngày xưa (tạm cho là trước thời thuộc Minh) đàn bà nước ta không mặc quần. Thế à? Các bà không mặc quần hai ống như ngày nay mà chỉ mặc váy thôi. Chữ quần (hán), chỉ đồ mặc để che phần dưới thân thể của đàn bà Việt Nam ngày xưa, phải được hiểu và phải được dịch nôm là cái váy để khỏi nhầm lẫn với cái quần đàn ông. Điều này đã được tranh dân gian Oger (1909) chứng minh rõ ràng hơn qua một tấm vẽ đàn bà mặc váy. Tranh được ghi chú bằng chữ hán nôm “dã phụ y thử quần, tục danh quần đùm” (váy của đàn bà nhà quê, tục gọi là váy đùm). Người đàn bà trong tranh mặc váy, do đó chữ quần (hán) phải được dịch (nôm) là váy. Váy đùm là váy buộc túm cạp lại.
 Dường như chỉ có văn học mới dùng hồng quần hay quần hồng để chỉ cái váy. Bốn cột lang, nha cắm để chồng/ Ả thì đánh cái, ả còn ngong/ Tế hậu thổ khom khom cật,/ Vái hoàng thiên ngửa ngửa lòng/ Tám bức quần hồng bay phới phới,/ Hai hàng chân ngọc đứng song song./ Chơi xuân hết tấc xuân dường ấy,/ Cột nhổ đem về để lỗ không. (Cây đánh đu, Hồng Đức quốc âm thi tập)
 Hai cô gái đánh đu, khoe “tám bức quần hồng”. Vậy là mỗi cô có “bốn bức quần hồng”. Hồ Xuân Hương cũng đưa ra “bốn mảnh quần hồng” trong bàiĐánh đu: ( ...)
 Trai du gối hạc khom khom cật/ Gái uốn lưng cong ngửa ngửa lòng/ Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới/ Hai hàng chân ngọc duỗi song song...
 Bốn bức hay bốn mảnh quần hồng ở đây là cái gì?
Nếu chỉ là cái quần hai ống thì mỗi ống phải xẻ hai. Ta không có kiểu quần tân kì như thế. Cũng không phải là một mình cái váy vì không có váy nào lại xẻ tư như vậy. Chỉ còn cái áo tứ thân (áo tứ thân có 2 vạt đằng trước, 1 vạt đằng sau) cộng với cái váy mới hợp thành bốn mảnh quần hồng.
Cái áo tứ thân (cái xiêm của ta) đã được các tác giả gọi là cái quần. Chúng ta hiểu vì sao Thiều Chửu đã định nghĩa quần là cái xiêm, và Huỳnh Tịnh Của lại định nghĩa cái xiêm là đồ bận dưới, tức là cái quần.
 Trong bài Chỗ lội làng Ngang Nguyễn Khuyến có nói đến cái quần đàn bà:
 Đầu làng Ngang có một chỗ lội/ Có đền ông Cuội cao vòi vọi/ Đàn bà đến đấy vén quần lên/ Chỗ thì đến háng chỗ đến gối/ Ông Cuội ngồi trên mỉm mép cười/ Cái gì trăng trắng như con cúi/ Đàn bà khép nép đứng liền thưa/ Con trót hớ hênh ông xá tội... 
 Đàn bà vén quần, hớ hênh, để lộ cả cái gì trăng trắng như con cúi. Các nhà quan sát có thẩm quyền kết luận rằng người đàn bà trong câu chuyện mặc váy.
Quần hai ống vén đến gối hay đến háng thì vẫn còn kín đáo, chưa để lộ bí mật. Nguyễn Khuyến đã dùng chữ quần theo nghĩa chữ Hán, để chỉ cái váy của các bà. Hình ảnh vén váy để hở cả cơ đồ còn được thấy qua tấm tranh dân gianHứng dừa dí dỏm.
 Qua vài thí dụ kể trên thì thấy rằng từ thế kỉ 15 (Hồng Đức quốc âm thi tập)đến đầu thế kỉ 20 (Nguyễn Khuyến) chữ quần đã được văn học Việt Nam dùng theo nghĩa của chữ Hán, để chỉ đồ che nửa dưới thân thể. Quần của đàn bà (miền Bắc) Việt Nam ngày xưa là cái váy, cái áo dài (xiêm), chứ chưa phải là cái quần hai ống ngày nay.
 Hồng quần của hai bà Trưng phải được hiểu là cái váy màu đỏ. Từ ngày người Pháp cai trị nước ta thì các bà nhà quê miền Bắc mới dần dần mặc quần hai ống như các ông. Một số bà tân thời ở tỉnh thành mặc màu trắng.
Dân quê chỉ dùng màu đen hay màu nâu. Ngày nay, cả hai phái nước ta, phái mạnh và phái đè đầu phái mạnh, đều mặc quần hai ống, nhiều màu sắc, kể cả màu hồng, màu đỏ. Cái váy, cái quần không những đã ám ảnh vua chúa mà còn đè nặng lên đời sống của đám dân đen. Người xưa có phương thuật “chữa mắt hột bằng gấu quần đàn bà”.
 Quần nào chả là quần, tại sao không dùng quần đàn ông mà phải dùng quần đàn bà?
Chẳng nam nữ bình quyền tí nào cả! Nam nhi thua thiệt quá! Thật ra thì phương thuật dùng gấu váy, sau này váy hiếm, khó kiếm người ta mới thay váy bằng quần, dĩ nhiên phải là quần đàn bà. Chữ váy, ngoài nghĩa thông dụng là cái váy đàn bà, còn có nghĩa khác là nạo vét, lau chùi (curer, nettoyer, tự điển Génibrel). Váy là dùng vật gì mà vặn xáy (xoáy) hoặc móc ra.
 Váy tai nghĩa là móc cứt ráy trong lỗ tai (Huỳnh Tịnh Của). Váy (đồ mặc) đồng âm với váy (lau chùi, xoáy móc). Do đó, giới bình dân đã dùng cái váy để tượng trưng cho động tác lau chùi. Ai bị đau mắt hột thì lật mí mắt lên, lấy gấu váy dí nhẹ vào mí là tất cả các hột sẽ được đánh sạch. Từ ngày các bà không mặc váy nữa thì người ta dùng gấu quần. Đứng về mặt chữ nghĩa thì cái quần không giải thích được ý nghĩa của phương thuật. Phải thông qua cái váy mới rõ nghĩa.
 Quần đàn ông không dính dáng gì đến váy cho nên không chữa được mắt hột! Quần của các ông thua quần các bà chứ không phải các bà kì thị các ông! Xưa kia, “thợ may và thợ giặt không nhận may váy, giặt váy cho các bà”. Pierre Huard và Maurice Durand (Connaissance du Vietnam, EFEO, Paris, 1954, tr. 178) cho rằng ta bắt chước tục Tàu. Người Tàu kiêng để lẫn lộn quần áo vợ chồng còn trẻ, dưới 70 tuổi.
 Thuyết âm dương của Tàu e rằng cao siêu quá, vượt quá xa cái triết lí bình dân của cái váy của ta: Sáng trăng em tưởng tối trời/ Em ngồi em để sự đời em ra/ Sự đời bằng cái lá đa/ Đen như mõm chó, chém cha sự đời. Bọn thợ may, thợ giặt sợ cái váy có lẽ chỉ vì họ tin rằng váy có ma thuật nạo vét của cải, làm hao tài, sạt nghiệp mà thôi. Giới trí thức cũng bị váy, quần làm cho vướng mắc lùng bùng... Ngày xưa, “thư sinh, nhà nho kiêng không sờ vào váy, vào quần đàn bà giữa ban ngày”.
 Không biết cụ Khổng lúc bé có phải giặt giũ, phơi quần áo giúp mẹ không? Nhiều người cho rằng vì váy, quần đàn bà là vật ô uế nên nhà Nho không đụng đến. Giải thích như vậy nghe không ổn. Cho dù váy, quần của các bà có ô uế thật đi nữa thì cũng chỉ ô uế vài ngày lúc các bà có tháng thôi. Còn những ngày bình thường thì quần đàn ông hay váy đàn bà đã chắc gì cái nào sạch hơn cái nào? Không riêng gì nhà Nho, đến người mù chữ cũng chẳng ai muốn đụng đến những đồ ô uế.
 Nhà Nho là người dùi mài kinh sử chuyên nghiệp. Ông nào cũng đầy một bụng chữ thánh hiền. Ban ngày ban mặt, nhỡ mà đụng vào cái váy hấp dẫn kia thì còn đâu là chữ nghĩa nữa! Cái váy sẽ cạo vét, lau chùi sạch sành sanh cái bụng chữ thì làm sao mà mở mày mở mặt với thiên hạ được! Có muốn sờ thì chờ lúc nhá nhem hãy sờ. “Tối lửa tắt đèn, nhà ngói cũng như nhà tranh”, mèo nào cũng xám như nhau. Tranh tối tranh sáng thì... có mắt cũng như không, còn thấy đường nào mà cạo với vét! Dân gian có một giai thoại về cái váy.
 Chuyện kể rằng ông lí làng kia mới tậu được cái ô đen. Ông rất hãnh diện, đi đâu cũng che ô để khoe với dân làng. Một hôm ông vênh vang đi qua chỗ có mấy cô gái đang làm cỏ ruộng. Một cô hát: Hôm qua tôi mất xống thâm/ Hôm nay tôi gặp người cầm ô đen.
 Một cô phụ hoạ thêm:
 - Nói thế thì ra người ta ăn cắp cái xống thâm, cái váy đen của chị về may ô à? Em nhớ là xống thâm của chị tươi đẹp hơn ô đen kia cơ mà. Để em lên mượn, chúng mình xem cho kĩ nhé. Ông lí bầm gan tím ruột định mắng mấy con “vén váy không nên” kia, nhưng ông chợt nghĩ nhỡ đụng phải bọn “xắn váy quai cồng” thì thật là nan giải.
Nghĩ vậy, ông lí vội cụp ô, chuồn cho nhanh. Hải Phòng cũng có một giai thoại tương tự.
 Trong một cuộc hát đúm, cô gái tấn công trước:
 Hôm qua em mất cái váy thâm/ Hôm nay em thấy anh cầm một chiếc ô đen.
 Cô gái chanh chua vừa dứt lời, liền được chàng trai nhã nhặn đáp lễ: Em nói thế là em cũng nhầm/ Hôm qua anh thấy ông đội khăn thâm ra đình
 Trong lúc các bà nhà quê phải mất nhiều năm mới bỏ được cái váy sồi, váy đùm, váy đụp, thì mấy cô ở thành thị lại hớn hở tung hô cái váy xoè, váy chẽn, váy cụt của phương Tây.
 Thú phô trương ao ước bấy lâu nay! Giờ mới được mân mê cái váy hiện đại, hiện sinh... hiện hình! Khách bên đường sững sờ liếc trộm cái của lạ muôn màu, muôn vẻ... Muôn năm! Thấy mà chóng cả mặt, chỉ... muốn nằm!
 Nguồn :tapchisonghuong

Khủng hoảng bản sắc tộc người, nhìn từ vấn đề tảo hôn ở người Bahnar

Written By kuxh on 17/09/2012 | 11:24

Truyền thống của ngành nhân học là chú ý đến đời sống xã hội và sinh học của con người. Các nhà tư tưởng như Hannah Arendt, Michel Foucault, và Karl Polanyi có nói sự hiểu biết về các vấn đề trong nghiên cứu nhân học đều có tính cụ thể trong từng giai đoạn lịch sử. Gần đây, các nhà nhân học cho rằng, chúng ta đang ở trong một giai đoạn có nhiều biến đổi sâu sắc đến đời sống kinh tế, văn hóa - xã hội của con người. Các vấn đề trong nghiên cứu nhân đã và đang gắn liền với những phạm trù về cuộc sống và giá trị của cá nhân hay tập thể trong các xã hội đang gặp thách thức do sự can thiệp của các yếu tố kĩ thuật, chính trị và đạo đức.v.v trong bối cảnh “toàn cầu hoá” và của “địa phương”.

Trong chuyên đề hôm nay, Thạc sĩ Phạm Thanh Thôi, giảng viên Khoa Nhân học sẽ giới thiệu một bút ký về sự thay đổi xã hội trong cộng đồng người Bahnar ở Tây Nguyên hiện nay.
Tác giả và người Bahnar ở làng Dakra, xã Lơ Pang, 07/26/2009

Tôi đã sống tại hai xã Lơ Pang và Kon Thụp (Mang Yang - Gia Lai) hơn một tháng(**). Vấn đề tảo hôn (kết hôn khi còn chưa đến tuổi thành niên) ở người Bahnar những tưởng vẫn là câu chuyện tập quán từ xa xưa nhưng hiện đang chịu tác động của những biến đổi trong các giá trị xã hội, đặc biệt, về sự cố kết cộng đồng.
Mất tục cà răng
Những người Bahnar lớn tuổi vẫn nhắc về tập tục cà răng. Ngày xưa, con trai, con gái Bahnar lớn lên, khi đã có thân hình khỏe mạnh và làm tốt được hết các công việc như cha mẹ (con gái dệt vải, giã gạo, lấy nước kiếm củi, trồng tỉa, bẻ măng...; con trai đan gùi, đẽo cây làm nhà, săn bắt thú rừng, làm thịt trâu, heo mỗi khi có cúng tế...), thì cũng là lúc họ được cà răng. Về mặt cộng đồng, đây là sự kiện xác nhận một cá nhân đã đủ trưởng thành, họ có thể nghĩ đến việc kết hôn và mong muốn kết hôn của họ lúc này được cha mẹ, người làng đồng tình và có trách nhiệm giúp đỡ họ gầy dựng một gia đình mới.
Đối với cá nhân những cô gái, chàng trai, cà răng là một thử thách về khả năng chịu đựng (của một người trưởng thành) nhưng là chuyện được mong chờ, vì ngoài việc hai hàm răng trở nên bằng phẳng, sạch đẹp, họ còn cảm thấy tự hào vì “được giống như ông bà mình”, theo cái nghĩa tiếp nối truyền thống, bản sắc của người Bahnar.
Nhưng đó là chuyện xưa. Ông Mik ở làng Chưp nói rằng vào cuối thập niên 1970, có những người đến từ bên ngoài cộng đồng người Bahnar, họ coi phong tục cà răng là lạc hậu, đem lại sự đau đớn. Đã có một số người Bahnar vì cà răng mà bị bắt đi lao động ở nông trường nên sau đó, không còn ai dám cà răng nữa. Mất tục lệ này, trong cộng đồng người Bahnar có những ý kiến khác nhau. Những người trẻ ngày nay cho rằng “thời xưa lạc hậu, giờ ai còn cà răng nữa! Ai cũng giống người Kinh cả rồi...”, trong khi một số người cao tuổi vẫn có cảm giác mất mát, vì “mất tục cà răng cũng là mất đi sự chứng nhận đối với người trưởng thành, và trên thực tế, lớp trẻ gần như không còn tiêu chí quy định của cộng đồng về thời điểm được phép kết hôn”, theo một già làng.
Người viết bài này từng có những buổi quan sát tình hình đăng ký giấy khai sinh tại làng Đak Pơnan hồi tháng 7-2009. Hầu hết các cặp cha mẹ trẻ đã có từ 1-2 con nhưng không có giấy chứng nhận kết hôn (do lúc cưới chưa đủ tuổi theo Luật Hôn nhân - Gia đình nên không khai báo). Cũng có rất nhiều em nhỏ đã ba, bốn tuổi nhưng cha mẹ lại chưa tròn 20! Các già làng xác nhận tình hình kết hôn ở độ tuổi 15-16 là phổ biến và khác với ngày xưa, nhiều thanh niên Bahnar ngày nay tuy đã kết hôn nhưng chưa có sự trưởng thành về mặt xã hội.
Thit trâu, bò, heo do gia đình chuẩn bị để chia đều cho các hộ trong làng PơYầu, Lễ kết hôn của Klot va Sai- 07/24/2009
Từ “nhà sàn” sang “nhà ống”

Trong không gian văn hóa vật chất của người Bahnar, nhà sàn là nơi sinh hoạt của mỗi hộ gia đình; nhà rông là không gian văn hóa của mỗi làng, nơi diễn ra các sự kiện liên quan tới các phong tục, tập quán, tín ngưỡng của cộng đồng. Đây còn là nơi tụ họp, ngủ lại của các chàng trai chưa lập gia đình.
Về đêm, từ nhà rông, thanh niên bắt đầu đi tán tỉnh các cô gái trong không gian nhà sàn của các hộ gia đình. Khi đêm xuống, mỗi nhà sàn thường có ba bếp lửa hồng. Hai bếp lửa hai đầu là nơi sưởi ấm của cha mẹ, ông bà và các cặp vợ chồng chưa tách hộ. Những cô gái đến tuổi trưởng thành thường nằm ở bếp giữa, họ mong chờ và được phép đón tiếp bạn trai đến chơi. Nhiều cặp tỏ ý thích nhau và hàn huyên tâm sự đến khuya, có khi đến hừng sáng. Người con trai nằm đối diện với người con gái qua bếp lửa dưới sự “giám sát” của người nhà từ phía hai bếp lửa hai đầu.
Tuy nhiên, từ hơn 15 năm trở lại đây, loại hình nhà ống xây bằng vật liệu mới như xi măng, sắt, gạch, tôn, ngói đã tăng lên với số lượng lớn. Đó là kết quả tích lũy từ việc trồng và bán cây bời lời và khoai mì cao sản. Nhà ống bằng tường gạch theo cách sống văn minh được ngăn ra thành nhiều phòng để “đảm bảo sự riêng tư”. Cũng vì thế mà các cặp trai gái yêu nhau ít bị giám sát hơn, được tự do hơn. Sự kiểm soát và kiềm chế các hành vi tình dục của đôi nam nữ chỉ còn phụ thuộc vào bản thân họ và luật tục xử phạt còn hay mất của mỗi làng!

Từ khi người Bahnar có nhiều nhà ống, nhà sàn chỉ còn là nơi yên tĩnh của người cao tuổi, nó không còn phản ánh mối quan hệ và sự kiểm soát đa chiều, liên thế hệ nữa. Sự lỏng lẻo trong giáo dục, kiểm soát của cha mẹ đối với con cái là một thực tế. Phòng kín của nhà ống là nơi “quyến rũ” những trai gái (cả ở tuổi thiếu niên) hẹn hò và ngủ qua đêm. Nhiều người Bahnar cho rằng đó cũng là một nguyên nhân dẫn đến việc thanh thiếu niên kết hôn sớm.

Vấn đề quyền sử dụng đất
Qua tiếp cận với nhiều trường hợp cụ thể, chúng tôi nhận diện tình trạng tảo hôn ở người Bahnar trong hai thập niên vừa qua còn phản ánh câu chuyện về quyền sử dụng đất đai. Trước năm 1986, người làng Lơ Pang và Kon Thụp chủ yếu khai thác các giá trị kinh tế từ rừng. Đất đai canh tác chưa trở thành vấn đề gây lo lắng cho mỗi cá nhân. Việc kết hôn sớm hay muộn không do yếu tố đất đai chi phối. Nhưng từ đầu thập niên 1990 đến nay, quyền sử dụng đất canh tác (theo các chương trình 132, 134, QĐ167...) được căn cứ trên tiêu chí “hộ gia đình”. Xuất phát từ chỗ này, các thanh thiếu niên sợ lập gia đình muộn sẽ không còn đất làm ăn, và họ kết hôn sớm để có cơ hội sử dụng đất, sớm tích lũy tài sản nuôi con cái.
Bên cạnh đó, sự phát triển về kinh tế giữa các hộ và giữa các làng không đồng đều. Trong khi một số thanh thiếu niên có cơ hội tiếp cận với các loại quần áo, dép nón thời trang, đồng hồ đeo tay, xe gắn máy, điện thoại di động... thì một số khác lại không. Kết hôn, nhận đất cho họ cảm giác được sở hữu, tự lập cuộc sống.
Vấn đề kết hôn sớm và cuộc sống sau hôn nhân của những người Bahnar trẻ đang nảy sinh những thách thức mới cho cộng đồng. Ông Mir, người làng Groi cho biết “tình trạng trai cưới vợ chưa lâu đã chán, bỏ đi, để con cái cho mẹ nó nuôi. Những nỗi vất vả trong cuộc sống gia đình, xung đột trong đời sống vợ chồng, giữa cha mẹ, con cái, dâu rể ngày càng nhiều hơn. Những nơi còn giữ luật tục phạt (cúng trâu, heo) đối với các trường hợp vi phạm trong hôn nhân càng khiến nhiều gia đình nghèo thêm!”.
Có thể thấy, khi không còn giữ được những giá trị cố kết cộng đồng theo cách cũ, nhiều người Bahnar trẻ đang “chơi vơi” trên con đường tiếp xúc các giá trị văn hóa - xã hội mới. Và trên con đường ấy, những giá trị nào làm nên bản sắc người Bahnar ở Tây Nguyên hiện nay?
__________
(*) Giảng viên Khoa Nhân học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TPHCM.

(**) Thuộc dự án nghiên cứu “Những biến đổi kinh tế, văn hóa, xã hội của cộng đồng người Bahnar tại huyện Mang Yang, Gia Lai” do Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam và Đông Nam Á (Đại học KHXH&NV, TPHCM) chủ trì; Tổ chức JICA (Nhật Bản) tài trợ.
Phạm Thanh Thôi 

Khôi phục lại giá trị của “thời bao cấp” (kỳ cuối)

Written By kuxh on 03/07/2012 | 17:52

Ăn theo (To Be Dependent on Others)
Một ví dụ điển hình là những cá nhân nằm ở giữa hai nền kinh tế. Những người này được coi là những kẻ ăn theo, một từ có nghĩa xấu thường được dùng để chỉ những người sống dựa vào người khác. Trong thời kì bao cấp, số lượng nghề thuộc diện này tăng lên đáng kể. Có lẽ một trong những ví dụ dễ thấy nhất là những người sống bằng nghề mua bán thời gian. 
Cửa hàng mậu dịch (Ảnh: minh họa- Nguồn: Internet)
Vì cán bộ công nhân viên phải có mặt tại công sở hay nhà máy vào những giờ quy định, họ thường xuyên phải tìm cách khác để mua khẩu phần của mình ở cửa hàng mậu dịch. Trẻ nhỏ và người già thường xuyên được cử đi xếp hàng vì họ có thể rời nhà bất cứ lúc nào khi có tin hàng về. Càng đến sớm thì khả năng mua được khẩu phần của mình càng cao trước khi hết hàng. Vì hai lý do này mà có lẽ không có gì ngạc nhiên khi thấy những người xếp hàng đứng dài có khi tới nửa cây số trước khi cửa hàng mở cửa. Một phụ nữ nhớ lại lần đầu tiên bà nhìn thấy mọi người xếp hàng khi còn ít tuổi, bà đã tưởng rằng mọi người đang chơi “rồng rắn lên mây”. Cô bé đó đã lập tức thất vọng khi bà được giải thích rằng đó là mọi người đang xếp hàng để mua dầu ăn.
Thời gian trung bình xếp hàng là một buổi. Ai không có đủ thời gian thì có thể nhượng lại chỗ của mình với một lệ phí nho nhỏ cho người khác, sau đó người này dùng cục gạch, cái nón, cái rổ, hoặc hòn đá để đánh dấu chỗ của mình cho đến khi một ai khác trong gia đình hoặc người thân có thể đến mua thay khi đến lượt. Giá của dịch vụ này khá khiêm tốn, thường là khoảng từ năm đến mười xu, đủ cho một người ăn một bữa tại quầy mậu dịch cơm phở. Đây có lẽ là lí do tại sao các nhà chức trách không bỏ ra nhiều nỗ lực để ngăn chặn cách kiếm tiền này (1).
Ngược lại “con phe” lại kiếm tiềm bằng cách mua lại những tem phiếu không dùng đến và bán lại ở giá cao hơn (nhưng vẫn rẻ hơn giá chợ đen). Những tem phiếu không dùng đến này đến từ nhiều nguồn khác nhau. Tuy nhiên, những người mà tôi đã có cơ hội nói chuyện đều tin rằng những tem phiếu này là do các mậu dịch viên ngấm ngầm đưa cho. Đổi lại họ sẽ được chia một phần lợi nhuận. Người dân thường không thích các mậu dịch viên vì những cách cư xử thiếu lịch sự và vô lý của họ. Những từ được dùng để mô tả họ bao gồm “cáu gắt”, “độc tài”, và “mặt lạnh như tiền”. Lời giải thích này cần phải có bằng chứng thay vì tin suông (2). Một dấu hiệu của nhận xét này là không ai trong số những người tôi hỏi chuyện có thể nhớ lại việc một mậu dịch viên bị kỷ luật vì tuồn tem phiếu ra ngoài cho con phe hoặc chợ đen, trong khi công an thường xuyên có chiến dịch xử lý cả hai loại người này.


Mặc dù dịch vụ mua chỗ xếp hàng khá hiệu quả, nó không phải là không có những vấn đề. Chen hàng, cướp chỗ hay nói dối rằng một vật giữ chỗ chung chung như cục gạch là của mình thường xuyên gây ra xích mích. Chính vì lí do cuối này mà nhiều người đã tìm cách tự tạo hoặc dùng những vật trông khác thường để tránh bị người khác tự nhận vật đấy là của mình. Như ví dụ đã nêu ở trên, ông Mai Xuân Hải đã khắc tên lên hòn đá của mình cho dễ nhận dạng. Có người lại dùng một viên đá to có hình dạng và kích cỡ giống cái cốc Liên Xô (Hà Nội Mới 2004).
Những vật giữ chỗ như vậy phần nào giúp giảm đi những trường hợp nhầm chỗ vô ý, cũng như những trường hợp nhầm lẫn cố tình, nhưng không thể loại bỏ hết tình trạng này được. Chính vì thế mà một số cửa hàng mậu dịch phải có đội quân đứng ngoài để giữ trật tự. Sự có mặt của họ cũng làm cho các con phe thận trọng hơn. Nhưng ít ai có thể nhớ lại một trường hợp mà đội quân đứng ra giải quyết những tranh cãi về người đã vi phạm “mặt bằng chỗ đứng”, cho dù những cuộc tranh cãi này thường trở nên khá gay gắt, có khi biến thành những trận ẩu đả. Một vài người đã kể lại với tôi rằng có nhiều người do bực tức hoặc do sợ mậu dịch sắp hết hàng cho ngày hôm đó đã quẳng những viên đá, hòn gạch, nón, v.v… dùng để giữ chỗ của những người đến trước đi, gây nên một sự hỗn loạn. Có lẽ không có gì ngạc nhiên khi trong những trường hợp như vậy những đội quân đứng gác đơn giản chỉ rút vào trong cửa hàng và đóng cửa mậu dịch lại. Cách làm này rất hiệu quả vì sẽ không ai mua được gì cho đến khi mọi người tự lập lại trật tự.
Tất nhiên có nhiều người không để cho hoàn cảnh ép buộc. Họ nghĩ ra những cách khác nhau để tiết kiệm thời gian. Ví dụ, người ta có thể tập hợp tem phiếu lại với nhau, miễn là những tem phiếu này thuộc một “giai cấp” xã hội. Làm như vậy một người có thể đi mua hộ nhiều người khác, gọi là “cùng ăn chia” (3). Những người có sức khỏe và nhanh nhẹn thì đứng xếp hàng ở hai hàng cùng một lúc. Họ chạy đi chạy lại giữa hai hàng với hi vọng mua được lượng hàng nhiều gấp đôi mà chỉ mất nửa thời gian (4). Có người lại gian lận. Có một người giải thích với tôi là ông ta có một người quen có một dị tật nhỏ. Ông ta thường để râu, mặc một bộ quân phục cũ có gắn một huy hiệu thương binh thật. Vì nhà nước có chính sách ưu tiên thương binh nên ông ta chẳng phải xếp hàng, và vì thế ông ta mua được một vài ổ bánh mì nóng giòn để chia cho bạn bè (Trương Quang Thư 2007). Có người lại tận dụng tài lẻ của mình. Có một ông cụ già thường đến cửa hàng mậu dịch của khu phố nơi ông ta ở sau giờ nghỉ trưa, lúc mà mọi người đã khá mệt mỏi sau nhiều giờ xếp hàng. Lúc đó ông cụ bắt đầu xướng thơ lục bát với nội dung tùy theo những gì mà cửa hàng mậu dịch hôm đó có bán: gạo, đậu phụ, thịt, v.v… Nếu thơ hay thì những người trong hàng cho ông cụ đứng lên trước. Một người hàng xóm sau hai thập kỉ nhớ lại một bài thơ như sau:
Ước gì em trắng như gao (gạo)                   
Thì anh… mạn phép ôm vào lòng ngay
Mùi thơm hạt mẩy thế này
Làm sao tránh được cái tay thích…sờ
                    (Trần Thị Anh Tú, 2006).
Phương hướng mới trong công tác nghiên cứu
Cuối cùng thì chúng ta rút ra những gì từ những câu chuyện về những năm tháng xếp hàng này? Thay vì đưa ra một kết luận chắc chắn, tôi muốn đưa ra bốn lĩnh vực cần được chú ý nghiên cứu thêm. Ba lĩnh vực đầu có liên quan tới những chủ đề mà những kết quả nghiên cứu sẽ giúp chúng ta hiểu rõ thêm rất nhiều về chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh Việt Nam thời kỳ bao cấp, những thay đổi trong cuộc sống thường ngày từ khi thời bao cấp kết thúc cũng như có thể tiến hành những nghiên cứu so sánh. Tuy nhiên, đề tài cuối cùng đặt một câu hỏi lớn hơn về sự “phân chia lao động” trong nghiên cứu về quá khứ và những hậu quả của nó đến sự hiểu biết của chúng ta về những dạng thức, thực hành và niềm tin đã tạo nên nền văn hóa chủ đạo (dominant culture).
Trước hết, như nhiều người đã chia sẻ với tôi hoặc những mẩu chuyện mà họ đưa lên mạng, những hòn đá, viên gạch, cái chai, cái rổ, và những vật dụng hàng ngày khác mà người dân đã sử dụng để giữ chỗ khi xếp hàng không phải chỉ là những biểu tượng, mà là một phần của người chủ, giống như những “vật thể tiểu sử” do Hoskins mô tả. Có lẽ vì thế mà khi nhìn lại những vật này, nhiều người lớn tuổi đã cảm động. Có người giải thích: “Những viên gạch này là đại diện toàn quyền” của một người (Bí Bo 2006). Có người khác lại dùng từ “pháp nhân” để miêu tả những viên đá, hòn gạch này, với ý là những vật này có quyền đại diện hợp pháp cho chủ nhân của chúng (5). Mặc dù người khác có thể dùng những từ khác để mô tả những vật này, cả hai ví dụ đều cho thấy chúng ta còn biết rất ít về cái nhìn của người dân đối với các khái niệm như vai trò xã hội của con người (personhood), chủ thể và quyền lợi của cả hai trong thời bao cấp. Sự thiếu sót này lại càng rõ ràng khi chúng ta nhận thấy ngày càng có nhiều mối quan tâm đến cách những giá trị và thực hành liên quan đến chủ nghĩa tự do mới (neo-liberalism) đã được chấp nhận, thay đổi và loại bỏ trong xã hội Việt Nam đương đại. Tuy nhiên, nếu ta không có một sự hiểu biết rõ ràng về quá khứ, những nỗ lực hiện tại nhằm ghi chép sự xuất hiện của “chủ nghĩa tự do mới với những đặc tính Việt Nam” sẽ có nhiều khả năng bị sai lệch.
Điều thứ hai là mọi người xếp hàng để mua nhiều mặt hàng khác nhau, nhưng chủ yếu vẫn là lương thực, thực phẩm. Do bữa ăn chung có một vị trí rất quan trọng trong cuộc sống của người dân Việt Nam (đặc biệt đối với gia đình – cho đến ngày nay, hầu như không ai ăn một mình), chúng ta cần nghiên cứu kĩ càng hơn văn hóa ẩm thực của người dân trong thời bao cấp. Ví dụ, một đợt khảo sát với lớp người lớn tuổi cho biết thực đơn thường bao gồm gạo hẩm, gạo mốc đầy trấu, sạn, cơm độn bột mì, hạt bo bo, sắn, phở không người lái, v.v… (6) Nếu được nghiên cứu kĩ càng chúng ta sẽ hiểu sâu hơn những sự thay đổi về thói quen dinh dưỡng ở thành thị cũng như nông thôn trong ba thập kỉ qua và ý nghĩa của những thay đổi này không chỉ trong phạm vi kinh tế xã hội mà cả về mặt văn hóa (xin xem thêm: Reid 2002; Kankauskas 2006; Farquhar 2002).
Thứ ba, chúng ta cũng có thể đưa ra những nhận xét tương tự về hàng tiêu dùng thường ngày và sự thay đổi về thứ tự quan trọng của chúng. Một bài thơ sáng tác trong thời gian này đã liệt kê một loạt các tiêu chuẩn mà phụ nữ tìm ở người bạn đời tương lai:
Một yêu anh có may-ô                                   
Hai yêu anh có cá khô ăn dần                     
Ba yêu rửa mặt bằng khăn                
Bốn yêu anh có hai quần để thay…            
Một bài thơ tương tự đưa ra một danh sách chi tiết hơn:
Một yêu anh có Sen-ko                      
Hai yêu anh có Pơ-giô cá vàng       
Ba yêu nhà cửa đàng hoàng 
Bốn yêu hộ khẩu rõ ràng thủ đô      
Năm yêu không có bà bô                   
Sáu yêu Văn Điển ông bô sắp về     
Bảy yêu anh vững tay nghề  
Tám yêu sớm tối đi về có nhau         
Chín yêu gạo trắng phau phau                                                       
Mười yêu nhiều thịt ít rau hàng ngày.
Một lần nữa, nếu chú ý đến sự sản sinh những mong muốn của con người qua giao tác xã hội trong thời kì bao cấp, chúng ta sẽ tìm hiểu thêm được một loạt các hiện tượng của thời kì này, bao gồm việc buôn lậu hàng hóa qua biên giới xã hội chủ nghĩa, sự tái xuất hiện của việc tiêu thụ một cách phô trương ngày nay, động lực hiện nay của chủ nghĩa tiêu dùng và sự tôn thờ hàng hóa ở đô thị (xin xem thêm: Ngai 2003; Patico và Caldwell 2002).
Cuối cùng, tuy đáng chú ý trên nhiều mức độ, trưng bày ở Bảo tàng Dân tộc học cũng làm nổi bật sự cần thiết cho những nghiên cứu nhân học chi tiết và tinh tế với những cái quen thuộc về mặt văn hóa. Tôi muốn nói về văn hóa chủ đạo (dominant) ở Việt Nam (7). Người Kinh, chiếm khoảng 86% dân số Việt Nam, thường không được các nhà dân tộc học Việt Nam nghiên cứu vì họ thường tập trung vào nghiên cứu những nhóm dân tộc khác. Kết quả là, những nghiên cứu về “bản thân” thường được dành cho những chuyên ngành khác như lịch sử, xã hội học hay văn hóa dân gian và các đề tài nghiên cứu thường là làng người Kinh, hương ước, hội làng và những dạng thức có liên quan của một quá khứ “truyền thống” vẫn đang tồn tại (xin xem Phan Huy Lê 1993; Jamieson 1986) (8). Những đề tài nghiên cứu của ngành dân tộc học bắt nguồn từ đào tạo lý thuyết của các thế hệ học giả đi trước được đào tạo tại Liên Xô cũ và từ việc những nhà dân tộc học thường là làm việc chặt chẽ với nhà nước và với Ủy ban Dân tộc và Miền núi để giúp quản lý việc phát triển kinh tế xã hội và văn hóa cho những dân tộc vùng cao (Evans 1985; Pelley 1993: 143-181). Tôi không muốn đánh giá thấp tầm quan trọng về lý thuyết và thực tiễn của những nghiên cứu như vậy cả trong quá khứ và hiện tại vì chúng đã làm giàu thêm hiểu biết của chúng ta về những nhóm dân tộc này cũng như đóng góp tích cực của nó vào quá trình hoạch định chính sách. Tuy nhiên, sự phân công lao động về trí óc nói trên có nghĩa là những dạng thức, giá trị và thực hành văn hóa của người Kinh vẫn còn là hiển nhiên đối với thành viên của nhóm dân tộc này vì chúng tạo ra tiêu chuẩn bất thành văn mà dựa vào đó người ta xem những cái khác khác đến thế nào với tiêu chuẩn này.
Thiếu sót này trong việc nghiên cứu về người Kinh đưa đến việc người ta không đặt câu hỏi, chứ đừng nói là đưa ra lý thuyết, về đặc ân và quyền lợi của dân tộc Kinh, giống như người ta không đặt câu hỏi về đặc ân và quyền lợi của người da trắng ở Hoa Kì (9). Điều này được thể hiện qua việc những nghiên cứu của người Kinh về người Kinh thường chú trọng các vấn đề kinh tế xã hội, văn hóa dân gian, và các tôn giáo thịnh hành, chứ không tập trung vào cách phạm trù “Kinh” được tái tạo trong mối quan hệ với 53 dân tộc khác cũng như với người Hoa và người Việt Hải ngoại vốn là những phạm trù “khác” (10). Chúng ta cũng có thể nhận xét tương tự về những con người, sự kiện, khoảnh khắc, và quá trình quan trọng mà không thể dễ dàng đưa vào những phát biểu chính thống về quá khứ và mối quan hệ đến hiện tại như đã thảo luận trong bài này. Cho đến khi những vấn đề này được giải đáp, những hiểu biết của chúng ta về những gì thuộc về văn hóa của người Kinh, ngoài những mẫu dập khuôn của một làng Bắc bộ, vẫn chỉ rất sơ sài và được mô tả như bất biến qua thời gian, một điều có phần mỉa mai trong bối cảnh là ngành sử học đóng vai trò quan trọng ở Việt Nam.
Lời cảm ơn
Tôi rất biết ơn cô Hương Ly đã giúp tôi chuyển tải một cách trung thành những ý tưởng của tôi sang tiếng Việt. Tôi cũng xin cảm ơn rất nhiều người dân đã chia sẻ với tôi cuộc sống của họ trong thời bao cấp, và tôi chỉ kể lại được câu chuyện của vài người ở đây. Cuối cùng, tôi xin cảm ơn sự đóng góp của những người đã đóng góp ý kiến vào bản thảo trước của tôi: Hy Văn Lương, các đồng nghiệp ở Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, Nguyễn Văn Huy, Wendy Erd, Janet Hoskins, Erik Harms, Michael DiGregorio, Frank Proschan, Christina Schwenkel, Ann Marie Leshkowich và Melissa Pashigian. Tất cả thiếu sót đều là lỗi của riêng tôi.
 (1) Phở không người lái là phở không thịt, giá ba hào một bát. Một bát cơm gạo hôi với một ít rau muống bị đen vì nấu trong nồi gang cũng giá ba hào một suất. Để mua một trong hai thứ đó, người ta đều phải xếp hàng không những một lần mà hai lần: một lần để mua, lần kia để tìm chỗ ngồi (“sau khi lấy được cơm, phở rồi người ăn lại phải tự thu xếp lấy chỗ ăn”). Bùi Xuân Dũng (2006).
 (2) Nhiều người nhớ lại một cách cay đắng những khẩu hiệu treo trên tường: Vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi. Có người lại nhớ đến một khẩu hiệu khác với cảm giác tương tự: Hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân!
 (3) “Nghề ‘ăn theo’,” Tuổi Trẻ (22/8/2007).
 (4) Phỏng vấn (27/7/2006).                
 (5) Phỏng vấn (31/7/2006).
 (6) Để biết thêm chi tiết về những khó khăn trong việc sửa soạn một bữa ăn thời kì này, xem Đỗ Hoàng Chinh (2006).
 (7) Xin xem Hy Văn Lương (2006) là một tổng duyệt mới đây về những thiếu hụt về mặt kiến thức dân tộc học về Việt Nam.
 (8) Hiện tượng này không chỉ xảy ra ở Việt Nam. Những nhà nước xã hội chủ nghĩa khác thường chia những nghiên cứu về “bản thân” thành ba lĩnh vực: lịch sử, truyền thống, và văn hóa dân gian (Kaneff 2004).
 (9)Từ đầu những năm 1990, các nhà nghiên cứu bắt đầu tìm hiểu về những khía cạnh văn hóa, lịch sử và xã hội của những người được xác định là “da trắng” và sự kiến tạo “tính da trắng” như là một hệ ý thức về vị trí và đặc quyền xã hội. Hiện nay đây là một chủ đề liên ngành đang phát triển mạnh trong nghiên cứu học thuật (Hill 1997).
 (10) Một biểu hiện của việc này là những nghiên cứu về các dân tộc ở Việt Nam thường không được thực hiện theo hướng so sánh. Để biết thêm về những nghiên cứu về động lực và quá trình của sự hình thành bản sắc, xin xem Leach (1954) và Williams (1989).

Ken MacLean
Người dịch: Hương Ly
Nguồn: Hiện đại và động thái của truyền thống ở Việt Nam: Những cách tiếp cận Nhân học

Khách "mượn" trong đám cưới tại Vĩnh Cửu - Đồng Nai (Kỳ cuối)

Written By xuananh on 24/03/2012 | 13:57

“Sạc bia” và người nhà.
Trong đám cưới, có những nhóm khách không thể mời, lúc này, “mượn” là hình thức hợp thức hóa việc tham dự của họ trong một đám cưới. Theo Tí, nếu được “mời” suông tới một đám cưới mà “không đi thiệp” cũng không “mượn”  “sạc bia”  thì “Tí không bao giờ tới[1]. Theo anh, khách mời tham dự đám cưới một cách chính thức với thiệp mời và tiền mừng, khách “mượn” thì làm nhiệm vụ “sạc bia” còn cũng “mời” nhưng không bằng thiệp, giống “mượn” nhưng không phục vụ thức uống thì không có lý do gì để tham dự đám cưới như vậy dù đó có là đám cưới người quen. Như tôi đề cập ở phần trên, “mượn” khách không mang ý nghĩa kinh tế, cũng không phải hình thức đổi chác sòng phẳng công sức với ăn uống mà nó giúp hợp thức hóa một bộ phận khách không thể mời theo quy ước. Theo đó, “sạc bia” và người nhà là hai tư cách tồn tại ở khách “mượn”. Họ xác định mình là anh em bạn bè thậm chí là người nhà của gia chủ nên mới được “mượn” nhưng khi họ đảm nhận vai trò phục vụ nước tại đám cưới thì lại giống như một bồi bàn và khi tiệc tàn, cùng ngồi lại ăn uống với gia chủ thì lại như một gia đình. Nếu là một bồi bàn làm thuê được trả tiền công họ sẽ làm tốt phần phục vụ nước nhưng vì khách “mượn” được sự tin tưởng của gia chủ nên vừa chạy bàn, vừa cùng gia đình quản lý việc phục vụ cho đám cưới.

Khi tôi phỏng vấn ba thông tín viên Tí, Đẹt và anh Ba, họ đều đưa ra phép so sánh giữa việc tham dự đám cưới với tư cách khách mời và khách “mượn”. Đi đến một đám cưới, bước đầu tiên là phải ăn mặc lịch sự, đến và bỏ tiền mừng vào thùng trước cổng vào, đi thẳng đến bàn tiệc, chọn cho mình một chỗ ngồi, ăn uống (nhậu), cô dâu chú rể và ba mẹ họ đến “chào bàn”[2] và chụp ảnh từng bàn rồi khách về – đó là quy trình tham dự một đám cưới của khách mời ở Vĩnh Cửu - Đồng Nai. Cho nên chỉ trừ khi đi đám cưới cùng bạn bè hoặc hàng xóm nếu không bạn có thể ngồi ăn tiệc cùng bàn với những người khách xa lạ. Điều này được cho là không vui, không thoải mái và khách mời kỳ vọng vào điều khác trong các đám cưới. Kỳ vọng đó của họ có thể được đáp ứng nếu họ tham dự đám cưới với vai trò khách “mượn”. Nếu được “mượn”, trước hết họ có thể tham gia bữa cơm gia đình tối trước tiệc mặn bên nhà chú rể, họ đến sớm cùng phụ chuẩn bị với gia chủ, họ phục vụ nước với anh em bạn bè mình quen biết và quan trọng là khi đám cưới hoàn tất, họ cùng gia đình cô dâu chú rể dùng bữa. Thông tín viên của tôi đều cho rằng khi là khách “mượn” họ cảm thấy “tự nhiên hơn, vui hơn và thoải mái hơn”[3] thậm chí xem việc dự đám cưới dưới hình thức này giống như “đi chơi[4]. Sự tự nhiên, vui tươi và thoái mái đó xuất phát từ hai phía. Gia chủ chào đón họ với sự  thân thiện, niềm nở hơn cùng với quan niệm khách “mượn” có thể “ăn mặc bình thường như người nhà”[5] và khách “mượn” hài lòng về không khí ấm cúng cũng như vai trò của bản thân trong sự kiện hệ trọng của gia đình mình quen biết, thân thiết.
“Mượn” khách không mang ý nghĩa kinh tế, cũng không phải hình thức đổi chác sòng phẳng công sức với ăn uống mà nó giúp hợp thức hóa một bộ phận khách không thể mời theo quy ước.” (Hình minh họa – Internet)
Chính vì những trải nghiệm trên mà một khi được “mượn” theo quy ước, khách luôn cố gắng có mặt, nếu vì lý do bất khả kháng phải từ chối lời “mượn” họ thường tiếc nuối và buồn[6] vì không giúp được cho gia đình người quen. Trước, trong và sau đám cưới là cả một quá trình thú vị mà khách “mượn” có được. Đẹt còn vui vẻ chia sẻ rằng, sau những lần phụ đám cưới ở ngoài, đến khi phục vụ nước cho đám cưới của một người em họ hàng, chị đã “gắp đá, đãi nước chuyên nghiệp[7]. Những việc việc bình thường đến nỗi “giờ Mi hỏi mới suy nghĩ”[8] như phục vụ nước cho đám cưới thế này thực sự có ý nghĩa khi nó được cả gia chủ và khách “mượn” đầu tư làm thật tốt, trở thành kỷ niệm và thắt chặt mối quan hệ giữa họ.

KẾT LUẬN
Đám cưới ở vùng quê Vĩnh Cửu, Đồng Nai – nơi mà người ta xem trọng tình làng nghĩa xóm, mối quan hệ anh em bạn bè, việc tồn tại khách “mượn” và vai trò của họ trong đám cưới mang những ý nghĩa đặc trưng. Trong đám cưới, mọi  người hình thành và tuân theo các quy ước liên quan đến mời cưới, vai trò ý nghĩa của các mối quan hệ với việc mời và “mượn” khách. Khách “mượn” vừa là giải pháp cho việc phục vụ thức uống tại đám cưới nhưng chính việc được “mượn” đãi nước cũng là cách hợp thức hóa nhóm khách không thể mời này. Với hai tư cách, vừa là người “sạc bia” vừa như người trong nhà hình thành nên trách nhiệm và những trải nghiệm của khách “mượn” khá đặc trưng và khác với những người khách mời. Kỳ vọng của khách tham dự đám cưới phần nào được thỏa mãn vì họ cảm thấy sự vui tươi, thân thiết trong tư cách khách “mượn”. Tất cả những điều này xác định, khẳng định và thắt chặt thêm mối quan hệ của khách “mượn” với gia chủ - đó là mối quan hệ qua lại thân tình. Tuy dừng lại ở đây nhưng bản thân thấy ngày càng thú vị khi tìm hiểu về đề tài này cũng như tìm ra những nét đặc trưng trong đời sống của quê mình. Tôi phần nào hiểu những điều - mà tôi vốn là một phần trong đó - rất thú vị. 

Mi Thiều

[1] Tí, 22 tuổi, công nhân.
[2] Đến cảm ơn và nâng ly cùng khách chúc mừng đám cưới.
[3] Đẹt, 21 tuổi, công nhân.
[4] Đẹt, 21 tuổi, công nhân.
[5] Anh Ba, 27 tuổi, viên chức Nhà nước.
[6] Đẹt, 21 tuổi, công nhân.
[7] Đẹt, 21 tuổi, công nhân.
[8] Đẹt, 21 tuổi, công nhân.

 
Support : Creating Website | Johny Template | Mas Template
Copyright © 2011. Bảo tàng Ký ức Xã hội - All Rights Reserved
Template Created by Nhật Nguyên Published by Nhật Nguyên
Proudly powered by Nguyễn Đức Lộc