Tin mới :

Latest Post

Hiển thị các bài đăng có nhãn người Công giáo di cư. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn người Công giáo di cư. Hiển thị tất cả bài đăng

Bưu thiếp thời kỳ di cư năm 1954

Written By kuxh on 01/05/2012 | 16:26

Những hiện vật hơn ngàn lời nói!









Dòng họ Đoàn (Thúy Nẻo) ở miền Nam

Written By kuxh on 02/02/2012 | 05:05

Vụ cưỡng chế nhà ông Đoàn Văn Vương ở Hải Phòng làm dư luận xã hội bức xúc, qua thông tin báo chí chúng tôi thấy có nhắc tới những người họ Đoàn ở Thúy Nẻo (hay còn gọi là Thúy Liễu) ở Hải Phòng, chợt nhớ đến những người họ Đoàn (Thúy Nẻo) ở Cái Sắn, Cần Thơ. Xin trân trọng giới thiệu quý độc một chút tư liệu về cộng đồng Thúy Nẻo ở Cần Thơ.

Trong đợt điền dã vào tháng 5 năm 2009, chúng tôi có dịp tiếp xúc với một người đàn ông họ Đoàn, 46 tuổi, quê gốc ở làng Súy Nẻo (tên khác là Thúy Liễu) - Kiến An - Hải Phòng, hiện đang sống ở xã Thạnh Lợi, huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ và được ông này cho biết về mô hình liên họ của dòng họ Đoàn với tên gọi là “người làng Súy”. Theo ông, làng Súy là một ngôi làng có một dòng họ chính là họ Đoàn tại Hải Phòng. Trước đây, dòng họ được tổ chức theo từng chi họ, đứng đầu họ là ông trưởng họ, mang tính chất cha truyền con nối giống như các dòng họ khác vùng đồng bằng Bắc bộ Việt Nam. Năm 1954, khi các gia đình họ Đoàn là dân làng Súy di cư vào miền Nam, vì nhiều lý do khác nhau nên có một số gia đình mang họ Lương, một số gia đình mang họ Nguyễn. Những giai đoạn sau này, những gia đình này phát triển nhanh về số thành viên nhưng họ vẫn không điều chỉnh lại giấy tờ vì cho rằng thủ tục làm giấy tờ phức tạp. Tuy nhiên, họ vẫn luôn gắn kết với cộng đồng họ Đoàn. Trước kia, chỉ có người gốc họ Đoàn, theo dòng nam mới được tham gia liên tộc họ làng Súy. Thời bấy giờ, người thuộc làng Súy sống thành một khu dọc theo cây số 09 thuộc kênh C2. Sau này, một số con gái của họ này kết hôn với người làng khác và một số hộ dân ngoài tộc họ đến cư trú trong khu vực của người làng Súy. Chính vì vậy, bắt đầu từ thập kỷ 90 của thế kỷ trước, những gia đình là con rể của liên họ làng Súy và cả những hộ không có liên quan gì đến liên dòng họ này cũng được tham gia vào cộng đồng người làng Súy. Tuy nhiên, việc tham gia vào cộng đồng liên họ cũng hạn chế trong một số điều kiện như những người muốn tham gia liên tộc học phải được xét tư cách đạo đức bởi những người trong tộc họ, với các điều kiện như: có tư cách đạo đức tốt, có nhiều đóng góp cho liên dòng họ, phải làm đơn xin gia nhập và phải chấp thuận các quy định của cộng đồng liên tộc họ. Điều này gợi cho chúng tôi nhớ đến hình ảnh mà Max Weber mô tả hiện tượng việc gia nhập các giáo phái, hay đoàn hội của những người theo Tin Lành ở Mỹ. Một cá nhân muốn gia nhập một giáo phái hay cộng đoàn nào đó phải thông qua việc những người trong cộng đoàn xem xét tư cách đạo đức, năng lực để biểu quyết cho cá nhân đó gia nhập. Bởi việc gia nhập một giáo phái hay đoàn hội nào đó là đồng nghĩa với việc cá nhân đó có một tấm vé thăng tiến trong địa vị xã hội mới. Trong đợt điều tra điền dã của chúng tôi vào tháng 5-2009, chúng tôi thống kê có tám hộ con rể và ba hộ không liên quan họ hàng đã được xét vào cộng đồng người làng Súy. Hiện nay, những người “rặt làng Súy” nhà ở phía giáp với Rạch Giá, còn khoảng 10 hộ không phải rặt làng Súy (con rể, người ngoài họ) thì ở phía giáp Long Xuyên. Có thể thấy, mô hình dòng họ làng Súy là một hình thức cơ cấu tổ chức làng Họ, hay nói chính xác làng dòng họ, có sự thích nghi với điều kiện cư trú vùng Nam bộ. Khi mới đến định cư, cơ cấu dòng họ vẫn được tổ chức thành từng chi họ như ở làng gốc (khoảng 10 chi họ). Tuy nhiên, sau đó, họ Đoàn bỏ cách chia cơ cấu dòng họ theo chi họ, người trưởng họ cũng không còn mang tính chất cha truyền con nối mà được dân làng bầu cử. Người đàn ông này cũng cho chúng tôi biết việc bầu cử này thay cho vị trí trưởng tộc theo kế tục truyền thống có từ trước năm 1975 nhưng việc tổ chức bầu bán bài bản phải kể từ sau những năm 90 của thế kỷ trước. Điều đặc biệt đối với dòng họ Đoàn, chúng tôi nhận thấy trong cơ cấu dòng họ có hai vị trí trưởng họ: một ông lãnh đạo chung, một ông lo thủ quỹ, hậu cần, tổ chức ngày mừng lễ thánh Quan thầy, đám tang. 

Cơ cấu liên tộc họ của ngưới Công giáo di cư vùng Cái Sắn
-- Tư liệu điền dã của tác giả, tháng 8 năm 2009 

 Mỗi nhiệm kì trưởng họ kéo dài năm năm. Hết nhiệm kì, mỗi gia đình trong làng cử một đại diện, nam hay nữ đều được (thường là nam) đi họp để bầu trưởng họ. Mọi người trong làng họ có quyền đề cử và ứng cử làm trưởng họ. Ứng viên cho vị trí này phải là nam giới. Sau khi có danh sách các ứng viên, cả làng tiến hành bầu cử bằng cách giơ tay biểu quyết, nhưng những năm về sau thường tiến hành bầu cử bằng cách bỏ phiếu kín. Ai cao phiếu nhất sẽ được làm trưởng họ thứ nhất phụ trách lãnh đạo chung, ai nhiều phiếu thứ nhì thì làm trưởng họ thứ hai. Tới nay đã có ba người được bầu làm trưởng họ hai nhiệm kì. Hiện tại, người trưởng họ thứ nhất là ông Nguyễn Văn Vinh, người trưởng họ thứ hai là Đoàn Văn Đệ. Ông trưởng họ thứ nhất là người đại diện đứng ra vận động quyên góp tiền cho quỹ họ, là người đứng ra tổ chức chính lễ thánh Quan thầy của họ. Hai lễ thánh Quan thầy của người làng Súy này là Lễ ông Thánh Phê-rô vào tháng chín và Lễ bà thánh Terexa được mừng kính vào tháng 11 hằng năm. Đây là hai vị thánh được dân làng Súy suy tôn làm thánh Quan thầy của mình. Ông thánh thì bảo trợ cho đàn ông, bà thánh thì bảo trợ cho phụ nữ. 

Chúng tôi cũng nhận thấy các giáo xứ vùng Cái Sắn hiện nay không chỉ có dân làng Súy mà còn có dân làng Xuân Vân, Đông Côn, Kim Côn, Đông Xuyên, Kim Phúc, Ba Đông …. thuộc các huyện Kiến An, Tiên Lãng, Hải Phòng và Thanh Miện, Hải Dương cũng có cơ cấu tổ chức cộng đồng liên họ như người làng Súy. Đặc biệt, làng họ Xuân Vân, chủ yếu là những người thuộc dòng họ Khuất hiện vẫn đang tồn tại cơ cấu tộc họ vừa theo chi tộc vừa theo mô hình hiệp hội. Từ cuốn gia phả họ Khuất, chúng tôi được biết làng Xuân Vân ở Sơn Tây, Bắc bộ. Năm 1954, một bộ phận cư dân của làng này vào Nam nhưng phải đến năm 1960 mới thành lập làng họ Xuân Vân. Vào ngày 01 tháng 10 hằng năm, dòng họ có ngày lễ thánh Quan thầy, họp mặt những người ở trong làng. Hiện nay, ông trưởng họ đã mất, không còn duy trì vị trí trưởng họ mà tồn tại hình thức Ban điều hành gồm ba người: hai người họ Khuất, một người họ Đỗ và một ban cố vấn có hai người. Theo những người trong làng họ Xuân Vân, từ những năm mới tái thành lập cơ cấu tổ chức tộc họ tại vùng Cái Sắn đã có lập bản qui ước về quyền lợi và nghĩa vụ của các thành viên khi tham gia. Đặc biệt là qui định các khoản đóng góp để dùng vào việc xin lễ cho người trong họ qua đời. Nhưng kể từ những năm đổi mới trở lại đây, dòng họ này còn dùng khoản ngân quỹ này cho những người trong làng vay mượn, làm ăn với mục đích vừa để tương trợ những người khó khăn, vừa để sinh lợi cho nguồn quỹ. Chính vì vậy, hoạt động tương trợ của dòng họ không chỉ là xin lễ cầu nguyện cho người đã trong họ qua đời mà còn tổ chức thăm hỏi các thành viên khi bị ốm đau, bệnh tật và tương trợ kinh tế cho các thành viên khi khó khăn.

Nguyễn Đức Lộc
ĐH KHXH&NV TP.HCM

Cuộc di cư của chữ nghĩa - Kỳ cuối

Written By kuxh on 11/01/2012 | 16:07

Phong kiến qua lối xưng hô bị dẹp bỏ
Có lẽ không ở đâu, không ở nước nào cách xưng hô lại phức tạp lầy nhầy như miền Bắc. Mới đây, trong một chương trình Vidéo, người viết thấy một cô ca sĩ trẻ được người điều khiển chương trình phỏng vấn... Lúc phải trả lời, cô lúng ba, lúng búng, vì không biết phải xưng bằng anh, chú, bác hay nhà văn với người điều khiển chương trình. Bác có vẻ già quá, anh thì có vẻ hơi sỗ sàng. Ông thì xa lạ. Cậu tớ thì xấc quá. Trong cái cách học ăn, học nói của người Bắc thì bài học vỡ lòng là học cách xưng hô. Trẻ con nào mà không được bố mẹ dạy phải xưng hô tùy theo tuổi đã đành, theo quan hệ họ hàng, theo chức vụ và theo xã giao nữa. Những tiếng thầy bu, thầy u, thầy đẻ, thầy mẹ, cậu mợ, đằng ấy, cậu tớ, người nhớn, con nọ, con kia, huynh, đệ, quan bác, thằng cu, con đĩ, mẹ đĩ nhà tôi, nhà con, ông mãnh, thằng trời đánh thánh vật, thằng chết băm chết bằm... tùy trường hợp mà dùng. Nhưng bắt chước người Tầu, ta còn có chữ Gia phụ, Gia Mẫu, Gia Huynh, chỉ bực bề trên hay xá đệ, xá muội chỉ bực dưới. Bấy nhiêu lối xưng hô vào đến miền đất mới như lạc lõng , thi nhau bị "cáp duồn" hết. Không ai nói nữa. Do sức ép hay do tự mình cảm thấy lỗi thời, thấy dởm, thấy cầu kỳ, thấy rắc rối, thấy "không giống ai", thấy cần phải bỏ. Có lẽ thấy cái không giống ai là lý do của sự ra đi không trở lại của các cách xưng hô trên.
"Trong cái cách học ăn, học nói của người Bắc thì bài học vỡ lòng là học cách xưng hô"
(Hình ảnh minh họa - Nguồn: Internet)
Các chữ dùng để gọi, xưng danh quan tước chức sắc cũng nhiều lắm. Cũng phiền lắm. Nhiêu khê lắm. Không xưng đúng danh phận, có thể bị trách, bị giận, bị trù ếm nữa. Nhiều không đếm xuể. Nó đã dần biến mất khi vào đến trong Nam. Nó biểu tỏ một xã hội phong kiến, đẳng cấp, trên dưới không thích hợp ở miền Nam. Người dân miền Nam cũng là di dân, có cái may mắn không thừa hưởng di sản của một xã hội phong kiến, hủ lậu. Xã hội đó lo kiếm miếng ăn, làm giầu, không nghĩ đến chữ nghĩa thánh hiền, cũng chẳng bận tâm đến kẻ trên người dưới... Xã hội vừa ổn định, chưa mọc ra những mầm mống của thứ ổn định kiểu trên đè dưới, quan lại, thứ dân, giai cấp thống trị. Làng xã mở toang, không hàng rào vây kín.. Xã hội cũng mở toang mọi phía mà dân là chính, dân là chủ. Sự xưng hô vì thế giản tiện và tuỳ tiện, đáp ứng nhu cầu thực tiễn. Ba má thì là ba má. Khi cần gọi chung là ông già bà già. Nội việc xưng hô cũng thấy miền Nam đuợc cởi trói nhiều theo tinh thần tự do, dân chủ. Người Bắc từ xa tới, lẽ nào không thấy cái hay đó. Lẽ nào không theo, tự ý theo. Để gọi một người ở, người trong Nam chỉ gọi chung chung là người làm, vừa giản dị, vừa không có khinh miệt, rẻ rúng. Vì thế, nếu còn ai gọi cụ đốc thì thay vì là một trân trọng, nó đã biến thành trò cười, mai mỉa. Hóa cho nên, chữ nghĩa có cái thời của nó, thời để sống và thời để chết. 
Cách làm ăn có khác, chữ nghĩa cũng đổi khác.
Cũng là xứ nông nghiệp, nhưng cách làm ruộng, cách sinh sống cũng khác miền Bắc nhiều lắm. Chữ nghĩa cũng vì thế cũng đổi theo. Rất nhiều chữ, từ miền Bắc , vào Nam không ai dùng nữa, vì đời sống kinh tế, xã hội đã thay đổi. Nghề hàng xáo (xay giã gạo, trong Nam không có nghề này), ruộng chân nhất đẳng, nhị đẳng, ruộng mật điền (Ruộng tốt nhất) gian buồng, khóa dãy, rau muống lợn, đi đong gạo, dậm lại mái nhà, hòm gian (Hòm to để đựng đồ trong nhà), nhà pha (nhà tù), nhà giây thép, xe hòm (Xe hơi sang trọng) ngày con nước, đi lưới, cái niêu, nồi đất, chỉnh dầu, rổ rá, dao quay, dao nhựa, một bồ, vuông thóc, giây lạt, dùi đục, cái cũi, đóng cũi, cái cưa xẻ, cái gáo, cái chum, cái lọ độc bình, cái phên nứa, bát chiết yêu, đi bể (biển), tậu ba mẫu ruộng, vác thúng, đèn măng xông, cái lồng ấp, cái hỏa lò than. Chữ sau đây cũng xưa lắm rồi, nhưng đến là hay: nhà xí. Nay thì nguời ta văn minh hơn gọi là nhà vệ sinh, trong Nam gọi là nhà cầu, siêu đun nước, cái áo quan, cái nhị tẩu (tẩu hút thuốc phiện), khay đèn, quạt lông, tràng biên (thân thế một người), đèn ló, cái mả, cái sập, cái phản, quần nái (quần dệt bằng một thứ hàng tơ tầm sợi thô, nhuộm đen), cái bình phong, con thò lò, đỉa phải vôi, giọng kẻ bể, cái trõng che, cót lúa, một bồ, vuông thóc, gạch bát tràng, gạch lát bổ cau (Lát xiên và dựng nghiêng viên gạch ) gạch vồ, cái mả , rồi có cải mả, đề lao, cái lọ. Tỉ dụ: sách hai cái lọ đi Kín nước. Chữ kín nước nghe thật hay, nhưng cũng ít được ai dùng tới nữa. Cái màn. Rồi từ đó thay vì nói đi ngủ, người ta còn nói vào màn . Thợ ngõa.
Người miền Bắc chân lấm tay bùn, làm ăn vất vả. Miền Nam, ruộng thẳng cánh cò bay, làm chơi ăn thật. Đi mút mùa lệ thủy không thấy nhà thấy cửa, nhất là không thấy tháp chuông nhà thờ, không thấy đình, thấy chùa. Cái nhìn về con người, về đời sống, về cách sinh hoạt làm ăn của người Bắc đã đổi khác. Chẳng mấy chốc cái ngậm ngùi lúc ra đi nay quên hết. Cứ gì chữ nghĩa bỏ quên, đất lề quê thói, phong tục, tập quán, đạo nghĩa cứ thế mà rơi rụng dần dần. Thay vì so đo, khép kín, bảo thủ, giữ lời ăn tiếng nói, giữ phép nhà bắt đầu buông thả. Thay vì chiếu trên , chiếu dưới, có phép có tắc... nay ăn nói thả dàn, chả kiêng nể gì nữa. Con gái, con đứa nay tụm năm tụm ba đàn đúm, hát xướng, thích thì ra rặng trâm bầu tán tỉnh, mọi chuyện hạ hồi phân giải.
Thành trì cuối cùng : văn minh miệt vườn đối đấu với văn hóa miền Bắc 
Người miền Nam, chữ nghĩa chỉ vừa đủ dùng, nếu không nói là còn sơ xài lắm so với miền Bắc. Nó là thứ văn minh miệt vườn không đủ để ba hoa trên trường văn trận bút. Cái điều đó đã được nhà học giả Phạm Quỳnh nhận xét một cách khá bất công trong cuốn Một Tháng ở Nam Kỳ: "Chữ Quốc ngữ thì đã thông dụng lắm rồi, đàn bà con trẻ thường biết đọc, biết viết cả.. Nhưng đến văn Quốc Ngữ thì xem ra cái trình độ Quốc Văn đại để hãy còn kém."
Nhận xét đó, có lẽ người trong Nam chả bao giờ quên và thành kiến đó người Bắc cũng chả bao giờ thay đổi. Cho đến giờ phút này, cái văn minh miệt vườn đó, cộng với 20 năm văn học miền Nam đến sau 75 vẫn chưa được nhìn nhận. 
Thành ngữ hay lối nói miền Bắc là vốn liếng ngôn ngữ của một dân tộc. Nó tích lũy, thải loại kết tinh những đặc thù, những sắc cạnh của ngôn ngữ, của vốn liếng hiểu biết truyền thừa. Nó không thừa, không thiếu, nó vừa đủ. Nó được sử dụng trong đời sống hằng ngày như kim chỉ nam, nó đưa ra những tiêu chỉ đời sống, phán xét, nhận định phải trái tốt xấu. Nó là thứ ngôn ngữ đã được đãi lọc, được truyền thừa của sự khôn ngoan, thu gọn lại. Phải là người địa phương, nhuần nhuyễn sắc thái văn hóa bản địa mới có thể sử dụng đúng cách, đúng trường hợp. Người ngoại cuộc, nhất là người ngoại quốc, dù có ở lâu năm tại đất nước đó, chưa dễ giầu gì nắm bắt được tình ý, nội dung hàm ẩn của những thành ngữ đó. Miền Bắc, cái nôi văn hóa lâu đời cả nước giầu dân tộc tính nhờ những lối nói, lối viết đó. Nó chuyên chở cả thời kỳ 1000 năm thủ đô Hà Nội, văn hoá Thăng Long, văn hóa cho cả nước với không biết bao tên tuổi lẫy lừng. Nó không phải tự cao rao, quảng cáo vô bằng. Người và chứng tích văn học còn đầy ra đấy. Viết ngàn trang giấy cũng chưa đủ. 
Vậy mà lên khỏi tầu há mồm, cập bến Nhà rồng, tất cả những thứ đó đổ xuống sông hết. Bài chiếu Lý Công Uẩn dời đô không lẽ mang ra dọa. Lý Thường Kiệt, bà huyện Thanh Quan cất đi cho rồi vì chóa mắt với xe cộ chậy hà rầm... Đường phố rộng thênh thang, tấp nập người qua lại, xe gắn máy ba bánh nổ bành bạch điếc con ráy. Xe thổ mộ lách cách vui tai thong thả dời chợ Bến Thành đi Ngã Ba Ông Tạ, hay đi chợ Bà Chiểu. Chú lái xe thổ mộ ngồi nghiêng bên thành cán xe ngựa thòng chân xuống đất, mồm kêu toóc toóc như dục chú ngựa ráng tí nữa, ráng tí nữa đi cưng. Hoa trái bầy la liệt mua một chục ê hề đủ loại. Bà bán hàng ra giá mua một chục có đầu., nghĩa là chục có thể 11, 12 đến 13 trái tùy theo thỏa thuận. Nội thế thôi, mua bán kiểu kỳ cục Nam Kỳ cũng thấy đủ sướng rồi. Thật đến là kỳ lạ cái xứ Nam Kỳ. Chẳng ai bảo ai, ngay cả đám sĩ phu Bắc Hà, đám trí thức thành thị cũng rứa. Quên hết chơn, hết chọi. Câu chuyện văn hóa ngàn năm chẳng chống đỡ nổi một ngày.
Người Hà Nội, người di cư có văn hóa cao, hoặc các nhà văn thường sử dụng chúng một cách nhuần nhuyễn trong lúc giao tiếp, viết lách. Nói văn hay chữ tốt, nói có văn hóa đương nhiên phải biết sử dụng thành ngữ đó, lối viết đó như một thuật ngữ, nói ít hiểu nhiều. Miền Bắc có những nhà văn tiêu biểu sử dụng vốn liếng các thuật ngữ này như Trần Tiêu, Vũ trọng Phụng, Tô Hoài, Vũ Thư Hiên, Nguyễn khắc Trường. Đọc họ cũng lý thú lắm.
Vậy mà chữ nghĩa đó vào đến trong Nam đã bị gạt, thải loại không chừa một chữ nào. Không muốn nghe, nghe thì gạt đi, muốn nói cũng không được. Nói ra thì nó đớ đờ đờ. Có duyên, được kính nể ở ngoài Bắc, trong Nam trở thành vô duyên, không ngửi được. Đã thế, chữ nghĩa không có cơ tồn tại, nếu nó được các nhà văn dùng thì đỡ biết mấy. Chính các nhà văn di cư vào Nam như nhóm Sáng Tạo cũng quăng thùng rác không thương tiếc. Chúng bơ vơ, lạc lõng, đầu đường, góc nhà, góc phố, nơi từng nhóm người rồi biến dạng. Không có đám ma. Không kèn không trống. Cái này không phải hoàn toàn lỗi người bản địa mà chính tại người dân du nhập không muốn giữ. Hình như có một thói quen xấu, có mới nới cũ. Ít ai muốn nhắc nhở, bàn, viết về những chói sáng văn học miền Bắc.
Có lẽ cái mất lớn nhất của dân di cư là mất lối nói, lối viết, nếp sống văn hoá thành ngữ đã bị biến dạng. Nếu còn một thứ văn hoá gì là thứ "Văn hóa chảy", Chảy tuốt luốt. Với cái độ nóng trung bình 35 độ, cái gì cũng có thể chảy được. Bù vào chỗ đó, họ phải đi tìm một hướng viết mới, mới có nghĩa là khác với tiền chiến, khác với Tự lực Văn đoàn. Mới thực sự thì chưa biết là thế nào, chưa biết hình thù nó ra sao, nhưng điều rõ rệt là dứt bỏ truyền thống, cái cũ, trong đó có các thuật ngữ cũ của miền Bắc. Họ không thích ngồi lau đồ đồng, đánh bóng chữ cũ mà đùa cợt mầu mè, son phấn với chữ nghĩa cho là mới, kêu rổn rảng, lặp đi lặp lại đến lập dị. Chữ nghĩa đó mà phần đông họ nói để họ nghe hoặc dành cho một thiểu số trí thức thành thị vốn chẳng đại diện cho cái gì, ngay cả cho chính họ. Chữ nghĩa đó gặp lần đầu thấy lạ thì muốn làm quen. Quen rồi thì chán ngấy muốn lỉnh, vì chẳng nói được điều gì. Chính ở chỗ đó, chữ nghĩa văn minh miệt vườn trở thành nhu cầu tinh thần của đa số dân miền Nam. Cả cái văn hoá miền Bắc đưa vào bị cháy rụi chỉ còn trơ lại ít cột kèo đen thui. Không ai đếm xỉa đến nữa.
Phần người viết, bắt gặp lại nó thấy gần gũi như người bạn cố tri lâu ngày gặp lại. Tự nhiên chẳng khác gì thấy người bạn đầy những tính tốt mà trước đây đã không lưu ý tới. Phải nói nó hay lắm, đượm mầu sắc dân tộc, quê hương, xứ sở 
Thay lời kết luận
Nhà văn trước hết là người sử dụng ngôn ngữ như một người đầu bếp dùng rau cỏ, thịt thà, gia vị nấu món ăn. Làm văn không nhất thiết là sáng tạo từ mới, chữ mới. Chùi đồ đồng, đồ cổ không nhất thiết là nhai lại. Bởi vì, cùng một từ, một chữ được dùng đúng trong từng cảnh huống, nó vẫn có chỗ đắc địa. Rất tiếc là trong tất cả các nhà văn miền Bắc di cư vào Nam đã tự mình cắt cái đuôi quá khứ mở ra một lối viết mới. Hay cũng có, mà dở cũng không thiếu. Tuy không vay mượn vốn cũ, vay mượn cái cũ của người làm cái mới của mình thì tự nó vẫn là vay mượn, vẫn là cái cũ, vẫn là đi chùi đồ cũ. Cho đến nay, những suy tư, những trăn trở hiện sinh về sự tồn tại, về ý nghĩa đời sống của các nhà văn ấy, sau 54, xét ra cũng chẳng có đất sống nữa. Chẳng nói đâu xa, lối viết, lối suy nghĩ của trí thức thành thị, trưởng giả vay mượn, đượm không khí phòng trà với cà phê, thuốc lá, ánh đèn mầu, tiếng nhạc xập xình tự nó đã không có đất đứng nữa sau biến cố Phật giáo 63. Từ đó, chiến cuộc leo thang, lối viết hưởng thụ, suy tư trưởng giả về ý nghĩa đời người, về cái đáng sống hay dư thừa nhường chỗ cho lối viết nhập cuộc, dấn thân. Các nhà văn thời buổi 54-55 một lần nữa trượt dốc, bơ vơ, lạc lõng trong cuộc đu giây chữ nghĩa. Cuộc di cư năm 1954 đáng nhẽ là một cuộc hành trình chữ nghĩa, tiếp nối cái sợi giây văn hoá nối dài hai miền, tự nó đánh mất đi khúc ruột liền sản sinh ra một thứ văn chương không gốc. Lẽ dĩ nhiên, cạnh đó, nhiều trào lưu tư tưởng, văn học cũng góp vào các dòng chảy chung đó. Người viết gợi lại những chữ nghĩa của thời xa xưa miền bắc, có những chữ tự nó cũng không còn được dùng nữa ở miền Bắc. Điều đó thật tự nhiên và dễ hiểu. Nhưng phần đông, chúng vẫn là cái vốn liếng văn hóa của đất nước, của dân tộc nói chung vượt lên trên những đối lực chính trị vốn lúc nào cũng là kẻ thù của văn hóa. Nghĩ như thế mới thấy vai trò và sứ mệnh nhà văn quan trọng đến bực nào. Bài viết này, đã hẳn chưa đầy đủ, vì còn rất nhiều chữ bị bỏ quên chưa được nhắc tới, lại chưa hệ thống hóa đúng mực, nhưng trong chừng mực của một bài báo, thiết tưởng cũng là một hoài niệm của những người di cư nay di tản ra xứ người để có dịp nhâm nhi, dịp nhớ lại và hồi tưởng về một dĩ vãng đã qua. Và có lẽ đó là mục dích chính của bài nầy theo cái nghĩa : Vang bóng một thời của chữ nghĩa.
Nguyễn Văn Lục

Cuộc di cư của chữ nghĩa - Kỳ 1

Written By kuxh on 09/01/2012 | 18:16

Năm 1954, người ta nói đến cuộc di cư người, thật ra còn có cuộc di cư chữ nghĩa nữa. Người đi, chữ cũng đi theo. Chữ nghĩa miền Bắc cũng lềnh kềnh, lếch thếch nối đuôi nhau lên tầu há mồm. Chuyến đi gian nan của nguời di cư thế nào thì chữ nghĩa cũng vậy. Chữ ở lại, chữ ra đi, chữ nào còn, chữ nào mất? Hình như chẳng còn ai tâm trí đâu để lưu tâm tới điều đó. Chữ được di cư vào miền Nam, chở đi rồi, bao nhiêu chữ đã rơi rụng, vung vãi dọc đường? Bao nhiêu chữ đã sống còn sau khi đã hội nhập với chữ bản địa? 
Phải đợi đến sau ngày 30 tháng tư 1975, người ta mới có thể biết được sự còn mất này một phần nhờ so sánh chữ nghĩa giữa hai miền. Hình như cũng ít ai để ý đến cái mất, cái còn của chữ nghĩa, vì có quá nhiều cái mất cái được được lớn hơn. Cái mất lớn hơn đó để người khác lo, người viết lạm bàn về số phận chữ nghĩa người di cư sau 1954 và nếu có dịp về chữ nghĩa của người di tản.
"Người đi, chữ cũng đi theo" (hình ảnh do tác giả cung cấp)
Phần 1. Chữ mòn theo thời gian.
Cho dù không có cuộc di cư, chữ nghĩa cũng cách này cách khác bị sói mòn. Sự mất còn này trước hết là do sự sói mòn của thời gian. Chữ nghĩa như một vật dùng một lần thì còn ngon, nhưng dùng nhiều lần thì mòn hay cùn đi. Như cái kéo cắt mãi cũng phải cùn. Dao băm mãi cũng lụt đi. Khen đi khen lại đâm nhàm tai. Yêu nhau lắm, cắn nhau đau, hay ít ra cũng chán. Đùa dai hoài đâm nhạt như nước ốc. Hình như chữ nghĩa dị ứng với cái lập đi lập lại. Tất cả những ngữ nghĩa trên chỉ ra một điều: Thời gian và sự lập đi lập lại có thể làm sói mòn, hoen rỉ chữ nghĩa. Tâm lý con người lại ưa chuộng cái mới, cái lạ. Như trong tình yêu, dùng chữ đó với nhau lần đầu, trọng lượng của chữ nặng lắm, thấm thía lắm, cảm động lắm. Dùng lần thứ hai thấy nhẹ đi rồi. Phải tăng cường độ nghĩa bằng những chữ lắm, nhất, số một. Có khi cả bằng tay chân vẫn chưa đủ. Tăng lời thề… Hình như vẫn hụt.
Trong văn chương, ta cũng gặp cảnh ngộ tương tự. Nhất là trong lãnh vực thơ . Thơ là khơi nguồn cho sáng tạo chữ mới, văn ảnh mới, biểu tượng mới. Còn nhớ, hồi thơ Nguyên Sa xuất hiện đúng lúc khi mà cuộc di cư đã hoàn tất. Chữ nghĩa thơ của ông còn nóng hổi, thơm phức như bánh mì mới ra lò. Nhiều cô cậu, ghi ghi chép chép để dùng lại:
Áo nàng vàng, tôi về yêu hoa cúc.
Áo nàng xanh, tôi mến lá sân trường.
Chữ nghĩa đó được truyền tay, đến người cuối cùng có thể chỉ là chiếc bánh mì nguội. Cứng như đá. Thật ra, thơ đó có một vài văn ảnh mới. Mới với người đọc thôi. Nguyên Sa đã gợi nguồn cảm hứng từ người tình là cô Nga (sau này là bà Trần Bích Lan). Có thể lúc mà thơ đó mới ra lò, đối với ông, thơ văn đó chả có ấn tượng gì nữa. Nhưng mới người cũ ta. Có lẽ vì vậy mà nhà thơ suốt đời mang cái nghiệp phải sáng tạo cái mới. Sáng tạo không ngừng.
Số mệnh chữ nghĩa mỏng manh như số phận con người. Thời gian như thước đo chiều dài ngắn của chữ nghĩa, đồng thời cảnh báo về cái hữu hạn của nó. Sự sợ hãi của Nguyễn Du phải chăng cũng từ đấy mà ra?
Chữ có thế vắn số nên có nhiều chữ đã trở thành chữ cổ ít ai nhắc tới. Còn nhớ, hồi mới di cư dzô Nam, người Bắc sửng sốt nhất, nghe lạ tai nhất là chữ Mã Tà. Mã tà thời tây gọi là Hiến Binh, sau này trong Nam gọi là Cảnh sát, ngoài Bắc gọi là Công An. Không biết vì lý do gì, chữ Mã tà sau khoảng hai năm gì đó, không còn nghe ai nói nữa. Cũng vậy, theo sách vở, chữ manh nghĩa là nhỏ mọn. Người đời chỉ còn nhớ váng vất khi nó đi với chữ khác như mong manh, tan manh, chiếu manh, manh áo, manh mún. Một chữ khác như chữ Khem, nghĩa là kiêng cữ. Nếu nó không cặp bạn với chữ Kiêng thì người ta không còn nhận ra nó như Kiêng khem ra nắng, ra gió. Chữ khác như chữ Lụn, nghĩa là hết, người ta cũng chỉ dùng trong một số trường hợp hiếm hoi: Tim lụn có nghĩa tim đèn cháy hết, lụn năm, lụn ngày, mềm lụn, lụn xuống, lụn mạt. Mấy ai còn nhớ, còn biết, còn xử dụng những chữ cổ trên. 
Nhưng có chết đi mới có sống lại, cái chết đi ung mầm ra cái mới. Nhờ vậy mà chữ nghĩa thay đổi và tiến bộ, mỗi ngày một đa dạng, một phong phú và chuẩn xác hơn. Thời gian đã là một nhẽ, cộng thêm dụng ý của người xử dụng chữ làm chữ nghĩa sống dở, chết dở. Từ nay, chữ có thêm nghĩa. Chữ và nghĩa. Chữ dùng giống nhau, nhưng nghĩa thì mỗi người hiểu một nghĩa. Rầy rà từ đấy mà ra.
Huyền thọai về việc xây tháp cổ Babel phải chăng là một bằng cớ báo trước về sự sa đà của ngôn ngữ, chữ nghĩa và đến cả số phận của nó nữa. 
Số phận chữ nghĩa, cái sống, cái chết của nó là sống mòn, chết mòn, chết từ từ. Mỗi ngày của nó là một bước ngắn lại. Cả làng, cả nước đang dùng, vậy mà không đâu biến đi đằng nào… Từ mòn đến là hay, nó gợi lên văn ảnh của một đồ vật mới đầu bóng loáng , sáng choang, mầu sắc rực rỡ, hấp dẫn người ta. Ai ai cũng mê, cũng nói, cũng dùng. Chữ trở thành thời thượng. Càng được dùng, càng nhiều người nhắc đi nhắc lại, càng phổ biến thì cái nguy cơ mất lúc nào không hay. Chữ vẫn đó, mà nghĩa đã mất dần. Cái xe chở chữ, lúc chở chữ này, lúc khác chở chữ khác, hoặc dán nhãn hiệu khác. Nó đã chở như thế bao nhiêu chuyến, đã thay hình đổi dạng bao nhiêu lần.
Nói như thế thì chữ mòn hay nghĩa mòn? Cái nào mòn trước, cái nào mòn sau? Chữ là cái chuyên chở nghĩa và một chữ có thể có nhiều nghĩa, tùy theo vị trí của nó trong câu nên nghĩa dễ bị mòn hơn chữ. Chẳng hạn , chữ cái và con. Chữ chỉ có hai, nhưng nghĩa thì nhiều lắm nên nghĩa lúc thế này, lúc thế khác. Cũng là con, nhưng con dao, con với cái, nhỏ con, con dại cái mang, con đĩ, cỏn con. Nhưng cũng không thiếu trường hợp cả hai đều mệnh yểu.
Chữ càng mòn nhanh nếu nó chuyên chở nhiều nội dung, ý hướng của người dùng. Tất cả tuỳ thuộc vào ý hướng người sử dụng. Nhưng làm sao nắm bắt được ý hướng đó. Dĩ nhiên khó lắm. Vấn đề nay đã lây lan sang một chủ đề triết lý là: sự ngộ nhận, sự thông cảm hay sự bất lực trong việc tìm hiểu tha nhân mà các triết gia hiện sinh thường đề cập tới. Vì có dụng ý chữ nghĩa đôi lúc trở thành gian dối, lừa phỉnh và trong chính trị trở thành tuyên truyền. Một thứ bạo lực ngôn ngữ, một thứ vũ khí như con dao, khẩu súng. Chẳng hạn chữ Việt gian thời Việt Minh, hay chữ tay sai Cộng Sản thời bây giờ.
Với cái nhìn nhân bản thì chữ nghĩa có một cuộc sống , có dòng sinh mệnh, có thể mất, có thể còn, trôi nổi như đời sống một người. Nhiều chữ nay đã chết, nằm chôn vùi trong nghĩa địa của các Bảo tàng hay sách cổ. Nói ra cũng ngậm ngùi. 
Xin trích dẫn một số chữ nghĩa làm bằng chứng về sự mất còn này. Trong lời mở đầu báo Nam Kỳ địa phận, số đầu tiên, năm 1907 có những câu như sau 
: “Bổn báo kỉnh cáo, tòa báo đã ước ao cho con nhà Annam, đua nhau tấn tài, tấn đức, thông phần đạo, ngoan việc đời… Tờ báo có ý khai đàng văn minh cho nhân dân đặng tấn phát cho mọi bề, việc đạo việc đời đều thông thuộc.”
Xin trích dẫn một đọan khác: “Lời rao cần kíp. Bổn báo gửi cho mỗi người hai số nhựt trình đầu hết mà xem thử, như ai bằng lòng mua thì đem ba đồng bạc đến mượn cha Sở mua dùm...” Trong một lần trả lời bạn đọc, chúng ta nghe thử lời rao sau đây: “Bổn báo có nhận được một mandat của một ông nào đó không đề tên, không đề địa chỉ, nhưng yêu cầu gửi báo.”
Tức cười thật. Nhưng 25 năm sau, trong tờ L’Impartial viết vào ngày 20-11-1929, ta thấy lối viết đã nhẹ nhàng thông thoát hơn:“Sự giải phóng người Annam về phương diện thương mại và kỹ thuật chỉ là một huyền thoại.”
Bạn đọc thấy có nhiều chữ được sử dụng cách nay một thế kỷ đã không còn được dùng nữa như bổn báo kỉnh cáo, nhựt trình, con nhà Annam, tấn tài tấn đức, khia đằng văn minh. Nhưng có nhiều chữ vẫn được dùng cho đến ngày nay như Chữ Cha Sở và nhất là những chữ khá chuyên môn cách nay 70 năm như giải phóng, phương diện thương mại và kỹ thuật, huyền thoại vẫn còn được dùng. Nhất là chữ Huyền thoại mà người viết có cảm tưởng là nó chỉ được dùng sau này trong Triết học Tây Phương mà thôi. Hóa ra nó đã có một nguồn gốc lâu đời đến thế. 
Trong những chữ bị mòn, mất đi..ở trên. Vấn đề là tìm hiểu xem, tại sao chúng không còn được dùng nữa.
Sự mất còn của một chữ trước hết là thói quen, rồi sự xói mòn, sự được dùng ít hay dùng nhiều, tính địa phương, sự sáng tạo của các nhà văn, nhà báo, dụng ý chính trị và cuối cùng là các cuộc di dân. Và đặc biệt nhất là cuộc di cư năm 1954 cũng là mục tiêu của bài viết này. 
(Còn tiếp)
Nguyễn Văn Lục

Người Công giáo di cư - Kỳ cuối: Thành lập giáo xứ

Written By kuxh on 01/06/2011 | 05:00

Khi dân chúng bắt đầu đi vào cuộc sống ổn định, xét thấy với hoàn cảnh hiện tại rất thuận lợi cho việc thành lập một giáo xứ, các linh mục lúc bấy giờ đã đệ trình lên Đức Cha giáo phận Sài Gòn xin thành lập giáo xứ Đồng Lách. Đức cha Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền đã ban sắc để Đồng Lách được trở thành giáo xứ. Các cha đã cho hai giáo khu, mỗi bên tiến cử hai chức sắc, có văn hoá và đạo đức tốt để các Ngài thành lập Ban Đại diện xứ. Sau khi đã có Ban Đại diện xứ, cha già giáo cho đúc một quả chuông rộng sáu tấc, trị giá 32.000 đồng. Quả chuông này thay cho chiếc mâm xe tải đã dùng lâu nay. Mỗi ngày ba lần sáng trưa chiều, tiếng chuông thánh thót, vang vọng khắp vùng Đồng Lách, làm tăng thêm lòng sốt mến của người giáo dân. Quả chuông này được sử dụng cho đến năm 1970 mới được thay bằng một gác chuông bằng sắt cao sáu mét.
 Chuông nhà thờ (ảnh minh họa) - Nguồn: Internet
Để việc đi lại sinh hoạt giữa người giáo dân trong xứ được dễ dàng, các linh mục đã cho đắp con đường nối liền hai giáo khu, và một con đường khác nối liền con đường cuối làng với con đường xe bò đi khu vực Lò Than và Suối Sao. Nhờ có các con đường này, công việc đi lại làm ăn của người dân được dễ dàng. Trong giai đoạn này, giáo xứ gặp rất nhiều khó khăn về tinh thần cũng như vật chất. Dân trí thấp, của cải nghèo nàn, đôi khi thời tiết khắc nghiệt đã ảnh hưởng không ít đến đời sống của người dân. Linh mục quản xứ đã lập toà khấn, thường xuyên tổ chức các tuần khấn tam nhật, cửu nhật. Giáo xứ cũng tổ chức rước cung nghinh Đức Mẹ từ giáo khu Đông Hải về nhà xứ. Hàng loạt những băng rôn căng ngang đường, nhắc nhở tâm hồn các tín hữu hãy sống phó thác, hãy đặt niềm tin, lòng trông cậy nơi Đức Mẹ. Với lòng tin của mình, người dân tin rằng mình đã  nhận được nhiều ơn lành từ những lời khấn hứa.

Qua Ban Đại diện xứ, hai cha tổ chức cho các gia đình sắm mỗi gia đình một cây cột cờ bằng gỗ, được sơn phết hẳn hoi. Mỗi cột có trang bị một cái đèn chai và một lá cờ Hội thánh. Các ngày lễ trọng hoặc rước kiệu thì đem chôn cột cờ chung quanh Thánh Đường và trên đường rước. Niềm tin và lòng sốt mến của người giáo dân trong giáo xứ rất cao, được thể hiện qua những cuộc rước liên giáo khu. Những bàn tay khéo léo thi đua nhau trang trí cho giáo khu của mình. Họ dựng cột đèn, giăng những dây cờ nhiều màu sắc chung quanh nhà thờ và dọc theo đường rước bên phần đất của giáo khu mình. Họ bện những cọng rơm thành nùn rồi kết thành những con rồng, con phụng, con lân, con ly, hoặc thiên thần, sau đó kết lại và dựng lên thành những cổng chào tuyệt mỹ. Họ còn dùng nhiều cây nứa bó lại với nhau, phần gốc thì lớn, rồi nhỏ dần. Trên đầu cùng là một cây nứa thẳng đứng được trang bị dây kéo và một lá cờ Hội thánh thật lớn. Rồi họ dựng lên giữa sân nhà thờ để chào mừng cuộc rước.

Năm nào cũng vậy, dịp lễ Giáng Sinh, giáo xứ tổ chức cho các gia đình làm hang đá. Giáo xứ tổ chức cho các thiếu nhi được lãnh quà Giáng Sinh, dù chỉ là ít cái kẹo do cha già giáo ban tặng cũng đủ làm cho các thiếu nhi có niềm vui mừng Chúa Giáng Sinh.

Ngày lễ Phục Sinh thì bao giờ cũng được tổ chức theo nghi thức truyền thống. Từ ngày thứ Năm cho đến hết ngày Chúa Nhật, hầu như mọi người đều gác công ăn việc làm lại để tham dự đầy đủ các nghi thức của giáo hội, cũng như nghi thức truyền thống. Mọi người cùng nhau lo dọn vệ sinh khu vực sân, trang trí trong và ngoài Thánh Đường, làm nhà tạm, làm hang đá bằng cây lá rừng. Hang có lối vào quanh co, phải quỳ và lết bằng đầu gối từ xa mới đến được mồ Chúa. Tuy vậy, trẻ con thì chịu khó hôn chân Chúa hơn người lớn vì nó bốc được nhiều nả hơn. Nhân dịp mừng lễ, những người có bàn tay khéo léo còn được ban đại diện xứ nhờ lập ra vườn địa đàng với cây cối, ông bà Adam, Eva, cùng rất nhiều các loại con thú khác nhau. Trong vườn, con thú được người ta quan tâm nhất vẫn là con rắn khổng lồ đã cám dỗ ông Adam và bà Eva. Cách thức tổ chức như trên đã cuốn hút được các thanh niên, thanh nữ đua nhau tập ngắm đứng, tập dâng hạt và học theo nghệ thuật tổ chức của các bậc cha anh; từ đó giúp họ có khả năng truyền đạt cho các thế hệ sau.

Các linh mục coi sóc giáo xứ lúc bấy giờ luôn quan tâm và đặt nặng về công việc giáo dục văn hoá đi đôi với giáo lý, để mở mang trí tuệ cho lớp người sau, vì đa số cha mẹ của họ đều thất học. Thời gian đầu năm 1957, ông phó Đaminh Phạm Văn Rong đã lập một phòng học tại nhà riêng của mình, để thầy Phạm Thanh Khôi dạy văn hoá cho các học sinh của ấp Lộ Đức II cho đến khi cha cố Thụ qua đời. Thời gian sau, thầy giáo Đaminh Đinh Văn Lộng dạy tại trường của giáo xứ ở cuối nhà thờ. Năm 1961, thầy giáo Lộng đi Hố Nai. Tiếp đến, thầy giáo Đaminh Vũ Văn Rồng tiếp tục công việc dạy học. Các học sinh lớp ba, lớp tư thì sang Đông Hải học thầy giáo Hát. Học sinh lớp trên nữa thì phải ra Ngọc Đồng, hoặc Thánh Tâm. Năm 1964, khi các học sinh tiểu học của hai giáo khu, cùng với làng người Nùng mỗi ngày một đông, ông phó Phạm Văn Rong làm trưởng ấp đã xin được quận Đức Tu hai gian trường học, kinh phí dự trù 40.000 đồng, nhưng không có khu đất nào thuận tiện. Ông chánh trương Đinh Đức Nghinh đã hiến giáo xứ một thửa đất rộng 200 mét vuông, cách hậu nhà thờ 100 mét về phía tay trái để xây phòng. Từ đây, giáo xứ có thêm hai phòng học, mỗi phòng rộng 25 mét vuông, tường xây bằng gạch xi-măng, lợp tôn fibrô cement. Thầy giáo dạy ở đây đầu tiên là ông giáo Vũ Văn Thuyên. Từ 1969, thầy Đỗ Tiến Xuyên được cha cố Nhật mời dạy.

Chính phủ lúc bấy giờ cũng cấp cho hai ấp một máy phát điện công suất lớn chạy bằng dầu diesel, do ông Lý phó trưởng ấp Đông Hải vận hành. Các gia đình trong ấp chỉ được bắt một bóng “tube” loại ngắn. Điện được dẫn từ Đông Hải về ấp Lộ Đức theo con đường liên ấp bằng những cây cột bằng gỗ cóc (loại gỗ chôn xuống đất lâu không khô héo). Cứ cách một cột lại có một bóng tube để việc đi lại giữa hai giáo khu vào buổi tối được sáng sủa. Qua đó hai nhà thờ cũng được hưởng nhờ nguồn ánh sáng này. Mỗi ngày máy chỉ chạy mấy tiếng đồng hồ vào buổi sớm và buổi tối mà thôi.

Theo Đức Khương

Các bài viết liên quan:

Người Công giáo di cư - Kỳ 6: Vật lộn với cuộc sống mưu sinh

Written By kuxh on 31/05/2011 | 05:00

Ngay từ những ngày đầu bước chân vào Đồng Lách, người giáo dân đã phải đối mặt với cuộc sống rất vất vả. Trước mắt họ là một cánh đồng đầy ắp cỏ dại. Họ được trang bị cho trâu, bò, cày, bừa, dao phát cỏ, cuốc, liềm… Bổn phận của họ là phải tìm ra được của ăn ở đó để mưu tìm sự sống. Người đông, đất chật, họ phải phá thêm nương rẫy, biến những mảnh đồi đá thành ruộng, nếu không cũng phải làm sao thả được hạt lúa xuống để có thêm lương thực. Bất luận thanh niên hay phụ nữ, già hay trẻ, họ đều phải chấp nhận cuộc sống chân lấm, tay bùn, bán lưng cho trời, bán mặt cho đất. Sau khi cày bừa cấy hái xong, họ phải tranh thủ trồng thêm ít hoa màu phụ. Rồi họ lại quay sang làm cỏ lúa, cũng như tìm cách chống chọi với bọn thú rừng thích phá hoại mùa màng như heo, khỉ, những đàn chim két, chim ri, nhất là từ khi cây lúa đơm đòng cho đến khi lúa chín. Tuỳ theo loại lúa, người nông dân phải chờ đợi từ sáu đến tám tháng mới được thu hoạch. Nếu thời tiết thuận lợi, thì sau khi đổ tô cho chủ ruộng và trả nợ khoản vay ăn làm mùa thì nông dân còn được chút đỉnh để dự trữ. Nếu thời tiết không thuận lợi thì kể như không còn gì. Tất cả mọi công việc trên đồng ruộng họ đều phải làm bằng đôi tay và sức lực của mình. Đôi khi cánh đồng ở rất xa như ở Lò Than, Suối Sao, sau khi thu hoạch họ cũng phải gánh về nhà, sau đó dùng tay mà đập lấy lúa. Rơm thì được phơi khô và chất đống làm lương thực cho trâu bò.
Những lúc nông nhàn hoặc mùa khô, người ta lại vác dao, vác cưa lên rừng cắt cây làm củi thước, rồi dùng xe bò chở về để bán cho lò gạch, hoặc làm củi chẻ, bó lại để bán cho thương lái chở về thành phố. Vì thế, rừng mỗi ngày một lùi xa.
Khi đã hết cây lớn, người ta đi tề lại gốc cây, chặt cây bé vác về làm củi.
Nông nhàn lên rừng cắt củi cây
Nắng gắt da mặt đỏ hây hây
Mồ hôi ướt sũng đôi tà áo
Còng lưng vác nặng tấm thân gầy!  (Đ.K)

Những người không muốn lên rừng, họ đi đào đá xanh, đập nhỏ rồi bán cho thương lái chở đi làm đường. Không bao lâu người ta phát hiện là đá non nên không mua nữa. Những người khác lại đi Bắc Hải đào đá cây, đá đỏ. Đá sập chết người lại nghỉ hết. Một số thanh niên nam nữ đi làm cho lò gạch, họ làm đất, hoặc đóng gạch kiếm sống qua ngày.

Để kiếm thêm thu nhập cho gia đình, những ngừơi phụ nữ chân yếu, tay mềm rủ nhau đi làm hàng sáo. Mỗi buổi trưa, họ băng đồng sang làng người Nùng, đong lúa gánh về xay, giã, dần, sàng. Sáng họ lại gánh ra chợ Thái Bình (Hố Nai) để bán. Những người làm nghề này, mỗi ngày họ phải đi bộ ít nhất 10 cây số với một gánh nặng trên vai.

Theo Đức Khương
Các bài viết liên quan:

Người công giáo di cư - Kỳ 5: Dời xứ

Written By kuxh on 30/05/2011 | 05:01

Bằng những vật liệu tạm bợ, mái lợp bằng lá buông, vách bưng bằng lá buông hoặc tre đập dập, chẳng mấy kín đáo nhưng người dân đã làm được nhà để ở. Tuy nhiên, vì điều kiện cuộc sống còn nhiều khó khăn, đôi khi hai ba gia đình mới làm được một căn, cuộc sống chen chúc khổ sở. Nguồn viện trợ thực phẩm cũng đã thưa dần, cây cối trong rừng cũng cạn kiệt, người dân không còn đi chặt đòn tay, chặt róc, hoặc lá buông về bán như trước được nữa.
(Di dời, Nguồn: Internet)

Dù người dân bày ra làm bánh hú, bánh dầy, bánh rán đội đi chợ Biên Hoà cách 10 cây số để bán, cũng chẳng mấy ai mua, vì người miền Nam không quen ăn loại bánh này. Bày ra đan lát rổ rá, nong nia cũng chẳng bán cho ai được mặc dù người miền Bắc thì ai cũng biết  làm việc đó khi tre đã có sẵn trong rừng. Thế nhưng điều lo ngại nhất vẫn là nạn thóc cao, gạo kém, năm nay đột nhiên giá gạo càng ngày càng cao, từ  ba ngàn nay lên tới chín ngàn mốt.

Bấy giờ, các linh mục vì lo cho cuộc sống của đoàn chiên nên rất khổ tâm. Các Ngài đã đi thị sát ở nhiều nơi xem ở đâu có ruộng cho giáo dân vốn dĩ là nông dân, để họ có thể tự túc lo lương thực cho mình để tránh được nạn đói có thể xảy ra, mà an tâm giữ đạo.

Cha cố Thụ thấy thương dân mà không còn cách nào khác, Ngài đã họp quý chức lại và tuyên bố: “Anh em có thể tự ý đi bất cứ đâu mà anh em sống được!” Người giáo dân xứ Lai Ổn xưa nay vẫn hằng kính trọng và thương mến các cha nên không nỡ bỏ cha xứ mà đi tứ tán. Các quí chức sau khi bàn thảo với nhau, đã trình lên với cha xứ về vùng Đồng Lách: “Chúng con thấy ở vùng Đồng Lách, nơi chúng con vẫn vào chặt tre và lá buông về bán, ở đấy có rất nhiều ruộng bỏ hoang, cha có thể xem xét rồi đưa chúng con vào đó, nó gần hơn”.

Cha xứ đã đích thân theo chân các chức sắc, len lỏi qua những lối mòn trong rừng rậm, vượt đồi, lội suối. Đi qua khu vực đá xay, phái đoàn đặt chân đến một ngọn đồi thấp, cỏ cây chằng chịt, cây lớn còn rất ít. Phái đoàn tiếp tục tiến sâu hơn về phía Đông Bắc, đến mé đồi, cha xứ tỏ ra hài lòng khi nhìn thấy một cánh đồng cỏ bát ngát, phía xa xa thấp thoáng những bóng người, có vài cột khói bốc lên.

Ngày hôm sau, cha cho họp toàn thể quí chức trong xứ. Sau đó thông báo cho giáo dân ở nhà thờ: “Trong hoàn cảnh khó khăn của cuộc sống hiện nay, cha quyết định sẽ rời giáo xứ vào Đồng Lách, gia đình nào đi thì ghi danh với các ông trùm họ để được chia đất ở và ruộng”. Đại đa số các gia đình giáo khu Lai Ổn và mấy gia đình ở giáo khu Tràng Quan xin đăng ký.

Cha và các chức sắc lại vào Đồng Lách, vẽ sơ đồ định cư cho dân, tìm hướng để ủi đường vào. Theo thứ tự các họ và con số giáo dân, ban định cư khoanh vùng rồi trao lại cho các ban trùm giáo họ chia cho các gia đình. Vì diện tích mặt bằng hạn hẹp, số giáo dân lại đông, nên mỗi nhân danh chỉ được cấp ba mét đất thổ cư theo mặt đường, khu vực trung tâm dành để làm nhà thờ và nhà xứ.

Bước thứ hai là chia ruộng. Ban định cư đã gặp phải sự tranh chấp của một số giáo dân xứ Đông Hải do cha Tôma Lý Quang Phụng đưa vào định cư ở đây trước. Cha cố Thụ và ban định cư đã phải sang gặp cha Phụng và các chức sắc xứ Đông Hải để giải quyết. Trong tinh thần thương yêu đùm bọc giữa những người Công giáo cùng cảnh ngộ, giáo xứ Đông Hải đã đồng ý nhượng lại số ruộng họ đã nhận nhưng chưa phát cỏ và khu vực Lò Than, Suối Sao cho người Lai Ổn. Tuy vậy, số ruộng so với số nhân khẩu còn quá ít, nên mỗi nhân danh chỉ được cấp cho 72m2  ruộng, phần còn lại 3.600m2 ở chân đồi cuối làng dành cho nhà xứ làm của chung. Ban ngày, các gia đình phải chia đôi, người ở nhà lo kiếm lương thực cho gia đình, người thì vào Đồng Lách làm chòi ở tạm để vỡ ruộng.

Đồng Lách xưa kia là một ấp thuộc xã Bình Trước, tổng Phước Vĩnh Thượng, quận Châu Thành, tỉnh Biên Hoà. Năm 1943-1946, “vì quân Pháp truy lùng Việt Minh ráo riết nên phần lớn những người có máu mặt bỏ ấp lên thành, số còn lại canh tác ở phía ngoài, còn bao nhiêu bỏ hoang. Năm 1951, vùng này bị hạn hán nặng. Năm Nhâm Thìn 1952, các vùng trũng dọc theo sông Đồng Nai bị trận lũ lụt rất lớn tàn phá, kéo dài suốt từ giữa tháng Chín sang đầu tháng Mười. Mực nước ở các vùng trũng như Đồng Lách rất cao, vì thế, đồng ruộng bị mất trắng, các đàn gia súc, gia cầm cũng tiêu tan theo. Người dân Đồng Lách lúc bấy giờ sống rải rác trên cánh đồng ruộng do cha ông họ khai phá. Họ đã phải vội vàng bỏ của chạy lên đồi 50 (đồi cao Hố Nai ) vì nước lũ băng rừng kéo đến quá nhanh. Sau trận lũ, người dân đã bỏ ấp đi các nơi khác lập nghiệp. Một lần nữa ruộng đất ở vùng Đồng Lách đều bị bỏ hoang.
Đồng Lách hoang sơ giữa chốn này
Chim muông cầm thú với cỏ cây
Đồng ruộng bao la không người cấy
Nước non khô cạn sống sao đây?
Về vị trí địa lý, Đồng Lách nằm cách cây số 10 Quốc lộ 1 về hướng Đông Đông Bắc khoảng 3 km. Từ chân đồi 50 (Hố Nai) trở vào là những ngọn đồi thấp nằm nối tiếp nhau. Các loại gỗ quí đã bị khai thác, chỉ còn lại những cây gỗ tạp thưa thớt. Cây non, cây chồi thì rất dày, xen lẫn với các loại cỏ dây, cỏ cây nên rất rậm rạp. Vùng này vào thuở xa xưa không biết có bị ngập nước hay không? Nhưng trên mặt đất thì toàn đá cuội đủ màu, cuội trắng, cuội đen, cuội nâu, và các loại đá bọc có ruột màu xanh rất cứng. Đặc biệt là có rất nhiều những con sò, ốc, hến và rùa hoá thạch. Đào bới lên người ta còn phát giác cây gỗ hoá thạch. Tầng dưới nhiều chỗ cách mặt đất từ 20 đến 50 phân trở xuống thì toàn đá xanh còn non, khi đào thì rất cứng, nhưng khi vứt lên mặt đất, sau một tháng trở đi thì vỡ vụn ra. Chính vì thế mà nguồn nước mạch ở đây có men bột đá không uống được. Về mùa mưa nguồn nước ở đây rất dồi dào, nhưng về mùa nắng thì chỉ có một con suối cái, và khu vực Suối Sao là có nước mà thôi. Ngoài đồng ruộng, vì bị bỏ hoang lâu năm nên cỏ mọc cao và rất rậm. Trong những khu rừng ở sát chân đồi cao và khu Suối Sao thì có đủ mọi loại thú rừng như: nai, mển, chồn, sóc, hươu, khỉ, heo, thỏ, nhím và rất nhiều các loại chim chóc.

Năm 1955 đến 1957, dân di cư từ miền Bắc vào, đã biến Đồng Lách thành 5 ấp:
- Ấp Trung Đồng và ấp Sài Quất do cha Sabastianô Nguyễn Duy Nhật đưa đến.
- Ấp Thanh Bình do cha Giuse Nguyễn Văn Ngự thành lập, bao gồm cả người dân tộc Nùng.
- Ấp Đông Hải được thành lập do cha Tôma Lý Quang Phụng, bao gồm dân của các xứ: Hoàng Độc, Mai Trung, Kẻ Sặt, Đồng Xá, Bắc Ninh… Họ ở dọc theo con Suối Cái.
- Đến sau cùng là giáo dân giáo xứ Lai Ổn, được cha Đaminh Đỗ Đức Thụ đưa vào và thành lập ấp Lộ Đức II.
Chúa ban mưa xuống nước dư đầy
Cha con vui sướng tiến vào đây
Khai hoang lập ấp từ thuở ấy
Cuộc sống phơi trên những luống cày.
Những ngày trước và sau tết Đinh Dậu (1957), cha xứ kêu gọi giáo dân vào Đồng Lách tham gia công việc phá tre, cắt cây đổ nền nhà thờ. Quí chức cũng như giáo dân hàng ngày thay phiên nhau vào thu dọn, đào đất ở hai bên hông rồi vận chuyển vào khu vực giữa quả đồi. Chẳng bao lâu, một cái nền nhà thờ dài 45 mét, rộng 12 mét, cao 1 mét được hoàn thành.

Ngoài ra các đoạn đường băng qua các khe đồi bị ngập nước cũng được đóng kè, làm cống và đổ đất cao ráo để xe cộ vận chuyển có thể qua lại dễ dàng.

Tháng 4 năm 1957, sau khi con đường nối từ nhà thờ ra ngã ba đã hoàn tất, cha Đaminh Đỗ Đức Thụ kêu gọi các gia đình thu dọn đồ đạc vào định cư Vĩnh Viễn tại Đồng Lách, vì thời vụ gieo trồng đã tới. Cha cũng thông báo, trước đây ai đã gửi tiền bạc ở nơi cha thì hãy lên gặp cha để lấy về. Các chức sắc và giáo dân cắt cử nhau, chia làm hai tốp: một tốp dỡ nhà thờ ở ngoài Hố Nai, chở vào Đồng Lách; tốp thứ hai ở trong Đồng Lách, khi xe chở vào tới đâu, thì ráp nối và dựng lên tới đó. Chẳng bao lâu, một ngôi Thánh Đường rộng rãi, thoáng mát, lợp tôn fibrô cement, vách bưng bằng tôn lá, sừng sững đứng giữa ngọn đồi đầy hoa thơm, cỏ lạ.

Người Công giáo di cư - Kỳ 4: Cùng xây dựng ngôi nhà chung

Written By kuxh on 29/05/2011 | 07:31

Trong những ngày đầu định cư trên vùng đất mới, mặc dù người dân còn phải lo cuộc sống và làm nhà ở cho gia đình, nhưng tất cả đều rất nhiệt thành tham gia vào công trình xây dựng nhà thờ của giáo xứ.
(Xây nhà thờ, Nguồn: Internet)

Công việc được phân chia cho các giáo họ tuỳ theo số giáo dân nhiều hay ít. Các thanh niên khoẻ mạnh rủ nhau vào rừng, xuống những khe đồi, khe suối sâu, rậm rạp, tìm cho ra những cây gỗ tốt và đủ kích cỡ. Việc đưa được một cột từ dưới khe lên mặt đồi thật là vất vả, sau đó mới hò nhau khiêng về. Ở nhà đã có sẵn toán thợ lành nghề, họ đẽo gọt, bào nhẵn nhụi từng cây rồi đục mộng, cắt mang. Những người kém sức khoẻ hơn thì ở nhà tham gia công việc nhẹ.

Ngày cất nhà thờ như một ngày hội, các thanh niên, thanh nữ khoẻ mạnh đều đến tham gia, nét mặt cha con ai nấy hết sức vui mừng. Theo lệnh của thợ cả, từng vì đã được cất lên trong tiếng reo hò, chẳng mấy chốc các vì đã sừng sững, đứng hiên ngang giữa bầu trời trong sáng. Nhà thờ có chiều dài 45 mét, chiều ngang 10 mét với 4 hàng cột, hai hàng cột cái, hai hàng cột quân được chống kỹ lưỡng.

Ngày lợp tôn chỉ có các thợ lành nghề ở trên, còn số người khác thì ở phía dưới. Từng tấm tôn fibrô cement nặng nề được kéo lên bằng dây thừng, lợp xong tấm này rồi đến tấm khác. Khi đã lợp được 2/3 mái, cha xứ đi ra từ nhà xứ tiến vào trong nhà thờ, nhìn lên mái nhà rồi gật đầu mấy lần, ngài khích lệ những người thợ. Đột nhiên những tiếng răng rắc, rồi một tiếng rầm thật lớn. Cha xứ không rõ chuyện gì liền chạy vội ra, không thấy nhà thờ đâu nữa, mà chỉ thấy bụi mù cuồn cuộn bốc lên. Cha xứ chạy đến nơi, các giáo dân ở chung quanh gần đấy cũng vừa la hét vừa chạy ra. Những người tại hiện trường đều xanh máu mặt, nhất là những ông thợ ở trên nóc nhà bay xuống. Cha cho kiểm tra lại kĩ lưỡng xem có ai thương vong không? Rất may, chỉ có hai người bị thương nhẹ. Thế là bao nhiêu công sức của cả cha lẫn con đều tan thành mây khói, tôn bị vỡ, kèo cột thì vỡ mang, gẫy mộng không còn dùng được nữa. Mặc dù gặp nhiều khó khăn trong việc xây dựng. Đến năm 1955, nhà thờ cũng tạm ổn định. Dù chưa kịp cán nền, mọi người vẫn cố gắng hối thúc nhau để kịp ngày Đức Giám Mục ghé lại để làm phép nhà thờ mới.

Cuối năm 1955, khi mùa mưa vừa chấm dứt, những con nắng hanh và lốc xoáy bắt đầu xuất hiện. Một cuộc hoả hoạn đã xảy đến với giáo khu Tràng Quan. Theo các cụ thì đây là một cuộc hoả hoạn lớn chưa từng thấy. Khi lửa đã bắt đầu vào được vách lá, những tàu lá buông vừa cháy vừa bay lên trời cao theo chiều gió như những cánh diều lửa, vì thế lửa lan đi rất nhanh. Nó thiêu rụi toàn bộ nhà cửa của giáo khu Tràng Quan và một phần của giáo xứ Văn Côi. Ngay sau cuộc hoả hoạn, để tránh sự phẫn nộ của một số người, Hiến Binh đã đến dẫn đi người chủ căn nhà là ông Đa Minh Nguyễn Văn Tung. Chính phủ và hai cha cũng đã bắt tay ngay vào việc trợ cấp lương thực, thực phẩm cho dân và giúp cho mỗi gia đình nạn nhân 200 đồng để ổn định lại cuộc sống.

Năm 1955 là một năm đầy gian nan vất vả. Tuy nhiên, vượt qua bao nhiêu gian khổ đó, người giáo dân giờ đây đã có nơi thờ phượng.

Mặc dù đời sống vật chất của người giáo dân trong xứ còn rất nhiêu khê, chưa được ổn định, nhưng đời sống đạo đức của họ thật tuyệt vời. Sớm tối trong thánh lễ hoặc các giờ kinh nguyện đều đầy ắp giáo dân. Thứ năm, thứ sáu, thứ bảy hàng tuần, các đoàn thể chia nhau làm giờ đền tạ, chầu Thánh Thể rất sốt sắng. Mặc dù, đa số các vị trong Hội Dòng Ba đã cao tuổi, nhưng họ không nghỉ trưa mà lại cùng nhau đến Thánh Đường để cầu nguyện.

Cha xứ đặc biệt quan tâm đến hùng tâm dũng chí. Ngài tiến cử ông quản Đaminh Đinh Tuận và bà quản Maria Đỗ Thị Huyền, để các vị trông coi và dạy giáo lý cho các em. Các em chuẩn bị xưng tội lần đầu và chịu phép thêm sức thì được quan tâm đặc biệt về giáo lý. Các em lớn hơn còn được hướng dẫn về các kĩ năng sinh hoạt đạo đức tập thể như: Nguyện ngắm, dâng hoa, dâng hạt…

Hội Bát Am đã được thành lập từ ngoài Bắc, cũng được duy trì và mở rộng, để phục vụ những ngày lễ trọng có tổ chức rước kiệu, hoặc đệm trong lúc tế lễ hoặc ngắm lễ. Bát âm còn được dùng trong nghi thức lễ tang.

Trên đường di cư, cha xứ đã mua được một bộ trống, sâm ban và một số kèn đồng, nên Ngài đã cho thành lập hội kèn. Cha tiến cử ông Phạm Kim Động làm trưởng ban và ông ký Ân người gốc Thuần Tuý ở giáo khu Tràng Quan làm nhạc trưởng, huấn luyện các hội viên.


Để nâng đỡ lẫn nhau trong cuộc sống, cha xứ thường xuyên kêu gọi mọi người hãy cầu nguyện và năng đến thăm hỏi những người đau ốm, tàn tật, các gia đình gặp hoạn nạn, giúp đỡ họ về tinh thần, vật chất nếu có thể được. Cha xứ là người đi tiên phong trong việc này. Có những ngày rất bận vì công việc, nhưng cha vẫn dành thời giờ để viếng thăm, phát thuốc, ban các phép Bí Tích, hoặc giúp đỡ tiền bạc cho những hoàn cảnh như trên.

theo Đức Khương
Các bài viết liên quan:

Người Công giáo di cư - Kỳ 3: Định cư

Written By kuxh on 27/05/2011 | 05:22

Sau ít ngày lên kế hoạch lập cư, mọi dự tính chưa được thực hiện. Giáo xứ được thông báo phải di chuyển đến cây số 10, nhường khu vực cây số 9 lại cho Giáo Phận Hà Nội để xây bệnh viện và đền Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Thế là cha con lại lục tục dỡ lều bạt kéo nhau đến cây số 10 1 (khu vực giáo xứ Hoà Bình ngày nay).
(Trại định cư năm 1954, Nguồn: Internet)

Giáo xứ Lai Ổn được chia cho phần đất nằm về phía tay phải quốc lộ 1 (hướng Biên Hoà, Long Khánh). Phía trong là đường ray xe lửa. Phía bên trái đường là dân xứ Tràng Quan và một số dân của các giáo xứ khác đi theo cha Đa Minh Mai Đức Cận. Hai bên quốc lộ, người ta đã làm sẵn cho mấy căn nhà lợp tôn ghép ván. Cha xứ ở một căn, những căn còn lại tạm chia cho các họ để tùy nghi sử dụng. Giáo xứ dựng căn nhà bạt lớn ở trung tâm làm nơi thờ phượng, giáo dân căng bạt ở chung quanh theo họ đạo của mình. Ở đấy, người dân được cung cấp nước uống, thực phẩm và tiền theo nhân danh 2. Ngoài ra còn được cung cấp quần áo, đồ dùng, đồ chơi trẻ em. Khu vực này xa nguồn suối nên cha xứ phải lo sớm đào giếng để có nước sinh hoạt cho giáo dân.

Về mặt hành chính, người ta chia mỗi giáo phận di cư thành một trại. Mỗi trại có một vị linh mục làm trưởng trại và một Uỷ ban Định cư. Mỗi giáo xứ là một ấp. Mỗi ấp có một Ban Định Cư, trong đó vị trưởng ban cũng là trưởng ấp. Ban Định Cư cũng gồm các vị trùm đại diện giáo xứ dưới quyền của cha xứ.

Theo thông báo của toà Tổng Giám Mục Sài Gòn, các giáo xứ di cư không đủ số giáo dân cần thiết để giữ nguyên tên xứ cũ, thì phải kết hợp với các giáo xứ khác ở lân cận để thành lập giáo xứ mới.

Cha Đa Minh Đỗ Đức Thụ và cha Đa Minh Mai Đức Cận đã ngồi lại với nhau để thảo luận tìm ra một cái tên thích hợp cho việc thành lập xứ mới. Nhân dịp này, bà Tôma là một người Pháp gốc Việt, trước đây bà đã được cả hai cha giúp cho tị nạn chiến tranh tại giáo xứ, nay bà lại tìm đến thăm các cha và dân xứ Lai Ổn. Bà ngỏ ý muốn giúp giáo xứ, đặc biệt là những vật liệu cần thiết để làm nhà thờ, nhà xứ, hầu tỏ lòng biết ơn hai cha và dân xứ. Bà được biết hai cha đang băn khoăn về việc đặt tên cho giáo xứ mới, bà liền xin hai cha đặt tên xứ là Lộ Đức, quê hương của chồng bà ở Pháp (La Salette), cũng là nơi Đức Mẹ đã hiện ra 3.

Sau ít ngày cầu nguyện và thăm dò ý kiến của giáo dân, hai cha đã cùng lập đơn xin xứ lên Đức Cha giáo phận. Trong thời gian chờ đợi, hai cha cho giáo dân làm nhà thờ, vì đây là nhu cầu cấp thiết của người tín hữu. Hai cha cũng cho chức sắc của hai xứ cũ họp lại để bầu ra Ban Đại diện xứ.

1- Theo sự sắp xếp của Tổng Uỷ Di Cư. Tại vùng Hố Nai, mỗi giáo phận di cư được dành cho hai cây số theo quốc lộ 1 bắt đầu từ cầu Săn Máu (tức cây số 6) – Hải Phòng, Hải Dương, Hà Nội, Thái Bình, Thanh Hoá, Bùi Chu, Bắc Ninh – Kết thúc tại cầu Suối Đỉa.
2 – Mỗi ngày mỗi nhân danh được hưởng 6 đồng cho trẻ em và 12 đồng cho người lớn.
3 – Cha già Cận cũng là cha xứ cũ của giáo xứ Lai Ổn (1943 – 1948) – theo lời kể của cụ cố Lộng người họ Đồng Bằng: “Bà Tôma là người Việt lấy chồng Pháp ở giáo xứ Lộ Đức. Bà về Sài Gòn kinh doanh buôn bán. Năm 1940, chồng bà qua đời. Sau khi an táng chồng, bà lại về Hải Phòng lập thêm cơ sở kinh doanh. Năm 1946, Hải Phòng bị Pháp tấn công, bà chạy đến xin tá túc ở xứ Lai Ổn. Cha Cận cho phép bà đến họ Đồng Bằng và thầy già Tốn thu xếp cho bà ở với bà Thoa tại nhà phòng giáo họ. Bà rất giàu có.

Đức Khương
Các bài viết liên quan:

Người Công giáo di cư - Kỳ 2: Giã từ quê hương yêu dấu

Written By kuxh on 26/05/2011 | 05:53

“Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất ta sẽ chỉ cho” (St.12,1)

Giáo xứ Lai Ổn xưa kia được thành lập năm 1659, còn được gọi là Kẻ On hay xứ Phủ Thái, thuộc địa phận Đàng Ngoài. Giáo xứ bao gồm nhiều nhóm họ đã lãnh nhận Đức Tin Công Giáo cư ngụ trong các làng mạc chiếm cả phía Bắc tỉnh Thái Bình ngày nay. Năm 1679, giáo xứ thuộc địa phận Đông, năm 1848 thuộc địa phận Trung và năm 1924 thuộc địa phận Bùi Chu. Năm 1936, giao xứ thuộc địa phận Thái Bình. Năm 1954, giáo xứ chỉ còn tám họ gồm: Lai Ổn, Đồng Bằng, Vọng Lỗ, Đại Điền, Trung Chu, Đồng Au, Thuỷ Cơ, và Cao Nội. Người giáo dân chủ yếu sống bằng nghề nông, hiền lành, chất phác. Nhiều người cả đời chưa hề bước chân ra khỏi khu vực sinh sống. Cảnh bom rơi, đạn lạc ngày càng tăng cường độ làm nhiều người phải mất mạng, nhiều gia đình phải tản cư đến nơi khác an toàn hơn, ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống gia đình.

Sự kiện tháng 7 năm 1954, người nông dân chẳng biết sự gì đã xảy đến. Chẳng ai bảo ai, những người còn ở lại các giáo họ xa xôi đã ùn ùn kéo về nhà xứ như những dòng nước từ con suối nhỏ đổ ra suối cái. Tất cả họ dừng chân tại nhà xứ để nghỉ ngơi, kiểm tra dân số và nhận thông báo về cuộc di cư  1.
(Người Công giáo di cư năm năm 1954, Nguồn: Internet)

Sáng ngày 27/7/1954, cha chánh xứ Đaminh Đỗ Đức Thụ cùng toàn thể dân xứ hiệp dâng thánh lễ cuối cùng tại nhà thờ nhà xứ Lai Ổn để xin ơn bình an cho cuộc lữ hành. Sau thánh lễ, cha xứ bùi ngùi lên tiếng từ giã thầy xứ và những người giáo dân ở lại, từ giã ngôi thánh đường thân yêu, giã từ quê hương yêu dấu là nơi các bậc tổ tiên đang an nghỉ, làm nhiều người mủi lòng và khóc nức nở.

Đúng 13 giờ cùng ngày, cha xứ dẫn đoàn chiên lên đường, đoàn người lũ lượt theo nhau, tay xách, nách mang ra đi trong thinh lặng buồn bã. Họ bỏ lại sau lưng tất cả nhà cửa, trâu bò, ruộng vườn, mồ mả tổ tiên. Hành trang quý nhất họ mang theo là một “niềm tin”. Thỉnh thoảng người ta ngoảnh đầu lại ngắm nhìn làng xã thân yêu mỗi lúc một xa dần, rồi mất hút. Sau ba cây số, qua sông Luộc rồi họ nghỉ đêm tại Phụ Dực. Sáng ngày, một đoàn xe đến chở dân xứ sang An Thổ, nghỉ lại đây một đêm, cha xứ cho giết con ngựa quý của mình đãi giáo dân một bữa tiệc.

Ngày hôm sau, đoàn xe lại đến chở dân xứ ra Xuân Sơn (Kiến An), nghỉ lại đây 25 ngày tại giáo xứ Liễu Dinh để chờ đón những người trong xứ đi sau. Ở đây, tất cả mọi người đều được chích ngừa và chủng đậu. Ngày thứ 25, xe lại đến chuyển dân xứ ra Hải Phòng tá túc qua đêm. Sáng sớm hôm sau, dưới cơn mưa dầm, đoàn xe tiếp tục chuyển bánh ra bờ biển, sau đó mọi người được hướng dẫn xuống tàu “Há Mồm”. Tàu ra khơi, dân xứ được đưa lên chiếc tàu loại lớn, bên hông tàu có đề con số 500 đã đậu sẵn ngoài Biển Đông. Dân xứ được dành cho một boong tàu rất rộng, nên sớm tối người giáo dân được tham dự thánh lễ và rước lễ như của ăn đàng mà đi cho đến nơi. Sau bốn ngày lênh đênh trên biển cả, con tàu dừng lại thả neo. Lần lượt từng chiếc ca-nô cặp sát con tàu, chở dân xứ tiến thẳng vào bến đò Bình Đông Sài Gòn. Ở đây người ta đã dành sẵn những gian nhà kho (chứa gạo) rộng lớn cho dân di cư tạm dừng chân. Tại đây, cha xứ cử hành thánh lễ tạ ơn Chúa vì cuộc hải hành của dân xứ được bình an. Cha cũng căn dặn mọi người hãy yên tâm nghỉ lại đây để cha đi tìm địa điểm định cư thích hợp. Thời gian ở lại đây, cha đã mua được một bộ kèn trống và não bạt 2.

Một buổi chiều trung tuần tháng 9/1954, đoàn xe của Tổng Uỷ Di Cư đến. Mọi người thu hành trang lên xe, đoàn xe len lỏi rồi hướng ra quốc lộ 1 tiến về địa phận tỉnh Biên Hoà. Đến cây số 9 Hố Nai (gần chợ Thánh Tâm ngày nay), đoàn xe dừng lại, lúc này trời đã chạng vạng tối. Trước mắt mọi người là hàng loạt những chiếc lều bạt lớn nhỏ đã được căng sẵn, trông giống như một làng của những người tí hon giữa cánh rừng hoang sơ tàn tạ. Các lều bạt được phân chia theo khu vực cho từng giáo họ, gia đình nhiều người thì được chia cho chiếc lều lớn hơn gia đình ít người. Mọi người lo thu dọn nền đất rồi kiếm ít cỏ rác để lót nền. Đêm đầu tiên trong cảnh màn trời chiếu đất giữa cánh rừng hoang vu thật là kinh hãi. Nghe nói trong rừng có thú dữ, nhiều người không ngủ được, đêm khuya thanh vắng, tiếng côn trùng rên rỉ khắp mặt đất. Đột nhiên, có tiếng của một người phụ nữ thét lên, rên la đau đớn. Nhiều người chạy đến cứu giúp, nhưng chẳng thấy có vết thương nào ngoài một nốt chấm đỏ. Với ánh đèn kỳ leo lét, người ta tìm kiếm mãi mới phát giác thấy một con côn trùng có hình hài ghê sợ. Đầu nó có hai cái càng to, có nhiều chân nhỏ và một cái đuôi uốn cong vút. Ngoài đồng bằng bắc bộ người ta chưa thấy con gì như vậy 3. Tiếp theo sau là một cơn mưa tầm tã, khiến mọi người ngồi xổm mà thức suốt đêm.


Qua đêm đầu tiên, khi bình minh ló dạng, mọi tín hữu lại tụ tập quanh bàn thờ tạm, cùng với cha xứ dâng thánh lễ tạ ơn Chúa với tâm tình sốt mến. Sáng hôm đó, người ta chở đến gồm: Thực phẩm, nước và các dụng cụ dùng trong xây dựng để cấp cho dân. Cha và các vị trùm họ cùng nhau đi thị sát các khu vực chung quanh để lên phương án lập cư. Trước tiên, họ đi theo một con đường lớn từ quốc lộ vào rừng, ngay đầu đường có một cái bảng ghi là “Đường Colonel” (con đường chợ Thánh Tâm ngày nay). Tiến sâu vào chừng 200 mét, phái đoàn phát giác ra một con suối lớn có nước trong vắt, ngọt và chảy thường xuyên, đây là tín hiệu đáng mừng, vì nguồn nước do Uỷ Ban Định Cư cung cấp chỉ đủ uống mà thôi.


1 – Không ai được mang hành trang nặng quá 50kg.
2 – Bộ trống kèn này cha mua của người dân di cư thuộc gốc Rí (Đọ)
   - Giáo xứ cũng mang theo được 2 cây kèn không có phím.
3 – Người phụ nữ bị bọ cạp chích


 Đức Khương
Các bài viết liên quan:
 
Support : Creating Website | Johny Template | Mas Template
Copyright © 2011. Bảo tàng Ký ức Xã hội - All Rights Reserved
Template Created by Nhật Nguyên Published by Nhật Nguyên
Proudly powered by Nguyễn Đức Lộc