Tin mới :

Latest Post

Hiển thị các bài đăng có nhãn người Khmer. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn người Khmer. Hiển thị tất cả bài đăng

Việc hiếu nghĩa của người Khmer (kỳ cuối)

Written By kuxh on 25/09/2011 | 05:00

Báo hiếu trong lễ tắm cho ông bà.
Những nghi lễ thể hiện việc báo hiếu trong ngày Tết Chol Chnam Thmay của người Khmer ở Trà Vinh phần lớn là hướng về những người đã khuất để dâng thức cúng và cầu chúc cho vong hồn những người đã khuất sớm được siêu thoát, sớm được đầu thai. Nhưng trong nghi lễ tắm cho ông bà thì sự báo hiếu lại hướng về những người đã sống, những bậc cao niên trong cộng đồng. Các nghi lễ khác cũng chủ yếu là được tổ chức trong chùa, còn nghi lễ tắm cho ông bà thì được tổ chức tại gia đình các phật tử.
(Ảnh minh họa-Nguồn: Internet)
 Lễ tắm cho cha mẹ, ông bà của người Khmer trong ngày Tết Chol Chnam Thmay có ý nghĩa gắn liền với nghi lễ tắm tượng Phật. Những người Khmer quan niệm rằng: tắm có thể tạo lên sự thanh khiết, trong sạch cho cả thể xác và tâm hồn, tạo lên cho con người sự minh mẫn. Trong sự tích về Đức Phật trước khi đắc đạo, người đã ngâm mình dưới một dòng suối để gột rửa bụi trần, gột rửa đi những gì không trong sạch để hướng mình tới sự thanh khiết. Vì vậy, trong ngày tết người ta thường tắm cho Phật để luôn giữ cho Phật được sạch sẽ. Trong khi tắm Phật, họ lại quan niệm rằng nếu lấy nước từ trên mình của Đức Phật chảy xuống để rửa mặt thì sẽ gặp nhiều may mắn vì nước đó mang theo phước từ trên mình của Đức Phật. Từ ý nghĩa đó, người Khmer muốn tắm cho cha mẹ mình để cầu phước cho cha mẹ trong năm mới.
Nghi lễ tắm cho cha mẹ thường được thực hiện sau lễ tắm Phật, nguyên nhân là do người ta sẽ lấy nước từ trên người Đức Phật về pha cùng với nước tắm cho cha mẹ để tăng thêm phước cho cha mẹ. Tuy nhiên, việc này cũng không quy định thời gian cụ thể là khi nào, có thể thực hiện nghi lễ này trước hoặc sau lễ tắm Phật.
Nước dùng trong lễ tắm cho cha mẹ được nấu ấm, pha thêm cánh hoa, dầu thơm và mời các vị sư đọc kinh chúc phúc vào trong nước. Nếu có nước tắm Phật để pha vào thì càng tăng thêm phước cho người được tắm. Trước khi thực hiện tắm cho cha mẹ, gia đình phật tử phải chuẩn bị một vài chiếc ghế, tùy thuộc vào số lượng người già trong gia đình hay trong xóm. Sau khi ghế được xếp thành một hàng ngang, con cháu mời những người già trong gia đình và có thể là cả những người già trong cùng khu xóm tới ngồi vào những chiếc ghế đó. Sau đó, con cháu quỳ xuống trước mặt những người già xin phép: “Bữa nay chúng con xin phép cha mẹ và quý bà, quý ông cho chúng con được tắm cho cha mẹ và ông bà trước hết là để cầu phước cho ông bà và mừng tuổi cho ông bà”.
Khi được sự cho phép của những người cao tuổi, con cháu bắt đầu tắm cho ông bà. Thường thì đối với người cao tuổi, người Khmer thường nấu nước ấm, dùng để lau người, lau mặt hoặc rửa chân tay. Hành động tắm trong nghi lễ này mang nhiều ý nghĩa biểu tượng. Đó là biểu tượng cho sự gột rửa những u minh, tội lỗi, tham sân si để cha mẹ đạt đến được sự thanh thoát.
Sau khi đã tắm cho cha mẹ xong, các con cháu trong nhà cùng quỳ xuống trước mặt cha mẹ để nhận lỗi, họ sẽ nói ra những điều mà trong một năm qua họ có cố ý hay vô ý làm cho cha mẹ phiền lòng. Sau đó, họ sẽ nói những lời hứa hẹn trong năm tới và mong cha mẹ thứ lỗi. Những bậc cao niên cũng nói ra những điều gì đó mà mình làm chưa đúng đối với con cái và mong con cái bỏ qua.
Cuối cùng, con cháu cùng chúc cho cha mẹ mình luôn có sức khỏe và gặp nhiều may mắn. Những người cao niên cũng chúc cho con cháu của mình có một sức khỏe tốt và tuổi thọ giống như bản thân họ.
Nhóm tác giả

Việc hiếu nghĩa của người Khmer (kỳ 9)

Written By kuxh on 24/09/2011 | 05:00

Báo hiếu trong lễ Cầu Siêu.
Lễ cầu siêu là dịp để cho những người Khmer nhớ về cha mẹ, nhớ về những người thân đã khuất và  những người khi sống đã có ơn với họ. Đây là một nghi lễ có nguồn gốc từ Phật giáo do vậy nó cho thấy được sự ảnh hưởng rất lớn của Phật giáo trong đời sống của những người Khmer ở Trà Vinh.
(Ảnh minh họa-Nguồn: Internet)
Lễ cầu siêu là một nghi lễ có nguồn gốc từ một câu chuyện trong Phật giáo. Chuyện kể rằng: Khi Đức Phật được sinh ra được bảy ngày thì mẹ của Đức Phật qua đời. Đức Phật cảm thấy dù mẹ mình ở trên thiên đàng nhưng linh hồn vẫn chưa được siêu thoát do vẫn còn tham, sân, si, vẫn còn những vương vấn với trần gian, chưa thể thanh tịnh được. Ngài đã lên thiên đàng để thuyết pháp cho mẹ của mình để cho bà hiểu ra những lý lẽ của cuộc sống, từ đó có thể tự giải thoát cho chính bản thân mình. Những lời thuyết pháp của Đức Phật đó được ghi lại thành kinh Apithom và được người Khmer sử dụng để đọc trong buổi lễ thuyết pháp với hi vọng những người chết sẽ được trong sạch về tâm hồn, giải tỏa những tham, sân, si để sớm được siêu thoát.
Việc cầu siêu cho cha mẹ khi đã chết là một việc quan trọng để báo hiếu và được ghi lại trong năm bổn phận cơ bản nhất của người con đối với cha mẹ: (1) Người con phải biết chăm sóc phụng dưỡng cha mẹ để cha mẹ khỏe mạnh, đặc biệt là khi cha mẹ đau ốm lại càng phải tận tâm chăm sóc. Không được làm những việc khiến cho cha mẹ phiền lòng. (2) Phải biết phụ giúp công việc cho cha mẹ. Con cái không được lười biếng. (3) Phải biết gìn giữ nòi giống, con trai và con gái đến tuổi trưởng thành là phải lấy vợ lấy chồng, sinh con đẻ cái. (4) Phải biết giữ gìn tài sản cho cha mẹ mình. Bản thân người con phải tự biết chi tiêu cho hợp lý, không được chi tiêu lãng phí tài sản của cha mẹ. (5) Khi cha mẹ đã chết cần phải biết cầu siêu cho cha mẹ mình, để vong hồn cha mẹ sớm được siêu thoát, đầu thai.
Nghi lễ cầu siêu thường diễn ra vào ngày thứ ba của lễ hội Chol Chnam Thmay. Theo những người Khmer, ngày cuối cùng của Tết chính là ngày quan trọng nhất, ngày này, người ta thường được tổ chức những nghi lễ quan trọng nhất. Ngày thứ ba có hai lễ lớn diễn ra trong chùa đó là Lễ cầu siêu và lễ tắm tượng Phật thì ý nghĩa báo hiếu được tập trung vào lễ cầu siêu.
Nơi diễn ra lễ cầu siêu đầu tiên là ở trong chùa. Các hũ cốt được lấy ra từ tháp để cốt của nhà chùa và được lau rửa cho sạch bụi bên ngoài, sau đó được đặt vào vị trí làm lễ. Đến đúng thời gian làm lễ, các Achar mời các sư ra nơi để cốt để làm lễ cầu siêu. Sau đó, Achar đại diện cho người dân nói lên mục đích của việc mời các sư đến để làm lễ cầu siêu cho tâm hồn cha mẹ người dân được siêu thoát. Các sư bắt đầu đọc kinh Apithom bao gồm nhiều bài, nội dung của kinh là những lời nói với những người đã chết về đạo lý khi sống cũng như khi chết, về những nỗi khổ ải và cách thức để vượt qua chúng. Sau mỗi hồi kinh được đọc ra, các Achar sẽ là người đầu tiên đọc kinh để tạ ơn ân đức của Đức Phật và các sư. Khi kinh được đọc xong, các sư bắt đầu vảy nước xuống người dân và đọc kinh cầu an cho những người đang làm lễ. Hành động vẩy nước này như là để chúc phúc cho những người còn sống. Việc vẩy nước ra xung quanh để nước có thể ngấm vào đất, ngấm vào mọi người, ngấm vào các linh hồn xung quanh cũng được làm với mục đích báo cho những người đã chết biết họ đang được những người thân của họ cầu siêu cho họ.
Sau vẩy nước xuống bá tánh, sư Cả sẽ là người đầu tiên, tiếp theo là các sư phó, các Tỳ Khưu và Sa-di đi kế nhau để vẩy nước vào các hũ cốt lúc này đã được mở nắp. Khi sư vẩy nước xong, các phật tử sẽ đổ thêm một chút nước do chính họ chuẩn bị với dầu thơm, hoa, nhang, để chứng tỏ lòng thành của mình đối với những người đã chết, để gửi gắm những nỗi nhớ và lòng biết ơn của họ đối với những người thân của họ. Cuối cùng, các hũ cốt được nắp lại và đem vào để trong tháp cốt chung của cộng đồng.
Đối với những gia đình không để cốt trong chùa, sau khi làm lễ cầu siêu xong, họ có thể mời một đến hai vị sư về nhà để làm lễ cầu siêu cho cha mẹ họ. Còn những gia đình để cốt ở nhà không có thể mời được các vị sư thì trong ngày thứ ba này cũng phải mang cốt vào chùa để làm lễ cầu siêu chung với cộng đồng.
So với lễ giỗ nhân dịp ngày mất của người đã khuất thì lễ cầu siêu lại không kém phần quan trọng, thậm chí còn được coi trọng hơn, đặc biệt với những người đi làm xa, một năm mới về quê một lần. Họ có thể thực hiện lễ giỗ, tưởng nhớ ngày mất của cha mẹ ở nơi khác mà không cần phải có cốt của người chết cũng như không cần các  sư đến để đọc kinh. Nhưng tổ chức lễ cầu siêu mỗi năm một lần thì không thể thiếu được những lời kinh mầu nhiệm. Người ta tin rằng, nếu không có oai lực của những lời kinh của Đức Phật thì cha mẹ họ sẽ mãi mãi có thể bị đau khổ ở thế giới nào đó không được siêu thoát. Như vậy, bổn phận của họ đối với cha mẹ sẽ không thực hiện được. Đối với người Khmer, không thực hiện được bổn phận đồng nhất với việc bất hiếu, và bất hiếu sẽ không chỉ là tội làm mất gốc của bản thân họ mà còn là một việc làm khiến họ phải trả giá do nghiệp báo.
(Còn tiếp)
Nhóm tác giả

Việc hiếu nghĩa của người Khmer (Kỳ 8)

Written By kuxh on 23/09/2011 | 05:00

 Chăm sóc cho cha mẹ.
Chăm sóc cha mẹ là điều quan trọng nhất để thể hiện việc báo hiếu, điều này đúng với hầu hết các tộc người trên thế giới, đối với người Khmer cũng vậy. Ở người Khmer, nhiệm vụ chăm sóc cho cha mẹ có khác nhau giữa  người con trai và người con gái ở thời điểm những người con trai phải đi tu học cho đến khi họ hoàn tục về nhà.
Khi người con trai đi tu, nhiệm vụ chăm sóc cho cha mẹ dành cho những người con còn lại trong gia đình. Thường thì trong các gia đình Khmer truyền thống, những người con trai đi tu rất lâu trong chùa. Một người con trai phải đi tu trong vòng sáu đến bảy năm trở lên. Vì theo quan niệm người Khmer, đi tu là phải qua tới hai bậc là Sa-di và Tỳ Khưu. Tu Sa-di từ lúc mới vào chùa cho tới hai mốt tuổi mới được tu bậc Tỳ Khưu, Tu Sa-di để báo hiếu cho mẹ. Thời gian tu học ở trong chùa rất lâu, vì thế trong một gia đình có thể cùng một thời điểm nhưng tất cả những người con trai đều tu trong chùa. Lúc này, người con gái ở trong nhà sẽ thực hiện bổn phận chăm sóc cho cha mẹ.
Trong trường hợp cha mẹ gặp bệnh tật, đau yếu, thì dù là đang đi tu trong chùa, những người con trai cũng phải xin phép sư cả để được về nhà chăm sóc cho cha mẹ. Theo giới luật, những người Khmer đã đi tu trong chùa thì không được tiếp xúc với người thân, không được về nhà thăm người thân, tách khỏi các mối quan hệ với người thân. Nhưng khi cha mẹ bị bệnh thì các sư có thể được cho phép về thăm và chăm sóc, phụng dưỡng cho cha mẹ.
Khi cha mẹ đã chết
Đối với người Khmer, con người chết đi nhưng linh hồn không mất đi mà sẽ chờ đợi để được đầu thai vào kiếp khác. Do vậy ngoài việc thờ cúng ra, người con muốn báo hiếu cho cha mẹ thì phải luôn luôn làm phước, dâng cơm và cầu siêu cho linh hồn của cha mẹ.
(Ảnh minh họa - Nguồn: Internet)
Không có quy định rằng người con thứ mấy trong gia đình sẽ chăm lo việc thắp nhang và làm đám giỗ cho cha mẹ. Thông thường, những người con nào sinh trên phần đất mà cha mẹ khi còn sống đã ở thì sẽ đảm nhiệm bổn phận đó. Việc thắp nhang cho cha mẹ thường được thực hiện mỗi ngày vào buổi tối. Nhang được thắp đầu tiên trên bàn thờ Phật, sau đó đến ông bà, cha mẹ, rồi đến các vị thần ở bên ngoài gia đình. Nhiều người Khmer quan niệm khói nhang có thể làm cầu nối, dẫn những điều mà con cái nhắn nhủ, những lời chúc của con cái đến với cha mẹ, để cha mẹ biết là các con đang nhớ về cha mẹ.
Hiện nay, do tiếp thu văn hóa của những tộc người khác, người Khmer cũng thực hiện đám giỗ cho những người đã khuất vào ngày mất hàng năm. Đám giỗ thường được tất cả các con cháu cùng đến nơi thờ cúng cha mẹ và cùng làm. Người ta sẽ sắp những món ăn ngon mà ngày còn sống cha mẹ thích ăn, chuẩn bị y áo mới. Sau đó mời các sư đến cầu siêu cho cha mẹ và dâng cơm và y áo cho các quý sư.
Làm việc tốt trong đời sống hàng ngày cũng là một việc làm để báo hiếu cho cha mẹ dù cha mẹ đã chết. Trước hết làm việc tốt thì linh hồn cha mẹ ở một nơi nào đó biết được và sẽ vui lòng. Tiếp theo, làm việc tốt có thể tích phước cho chính bản thân của những người con và có thể giúp cho cha mẹ nhanh chóng đầu thai làm người trong kiếp tiếp theo. Người Khmer cho rằng phước có một năng lực đặc biệt, nó có thể giúp con người ta hóa dữ thành lành, nếu chết rồi thì có thể giúp người chết nhanh chóng được đầu thai. Phước chỉ có thể có được thông qua việc làm việc tốt. Đó là những việc làm giúp đời, giúp người mà không phát nguyện, tức là giúp đỡ một cách vô tư không có sự đòi lại.
Thế giới của những người đã chết cũng giống như thế giới thực tại, người chết cũng phải ăn uống như những người đang sống. Người Khmer cũng giống như rất nhiều tộc người khác là thực hiện cúng cơm cho những người đã chết. Tuy nhiên, đối với người Khmer, người chết sẽ không nhận được phần thức ăn của người sống gửi tới nếu không qua khâu trung gian là các quý sư và các lời kinh của mà họ đọc trong các nghi thức cúng tế. Do đó, những người con có hiếu với cha mẹ thì luôn luôn phải biết thực hiện Lễ dâng cơm và Lễ dâng y áo cho cha mẹ. Như vậy, cha mẹ có thể nhận được thức ăn và quần áo mà con cái dâng cúng. Cũng nhờ thế, cha mẹ của những người Khmer sẽ không bị đói rét khi đang ở thế giớ của người chết. Người Khmer thường làm Lễ dâng cơm tại chùa vào các ngày 8, 15, 23, 30 hàng tháng (theo Âm lịch).
Cầu siêu là một là một trong những bổn phận quan trọng của những người con đối với cha mẹ khi cha mẹ đã chết. Lễ cầu siêu không được thực hiện nhiều giống như lễ dâng cơm mà chỉ được thực hiện trong những ngày lễ lớn như Chol chnam thmay, Sel Đolta, Lễ dâng y Kythana, và đám giỗ. Trong lễ cầu siêu, các con cháu trong gia đình phải mời các quý sư đọc kinh cầu siêu cho cha mẹ mình. Lễ cầu siêu trong lễ Chol chnam thmay là lớn nhất và làm đầy đủ nhất, bởi vì chỉ có ngày đó các tro cốt mới được mang ra bên ngoài để vẩy nước thơm và đọc kinh cầu siêu.
Nghi lễ cầu siêu rất quan trọng, kinh được đọc trong lễ cầu siêu có một uy lực rất mạnh có thể làm cho những người chết nhanh chóng được siêu thoát. Nội dung của kinh cầu siêu là những lời răn của Đức Phật đối với người chết làm cho tâm hồn của người chết được minh mẫn, trong sạch và hướng thiện. Ngoài ra, kinh này còn có thể trừ diệt được những tội lỗi trước đó của người chết lúc họ còn sống, giúp họ tích phước để nhanh chóng đầu thai.
(Còn tiếp)
Nhóm tác giả

Việc hiếu nghĩa của người Khmer (kỳ 7)

Written By kuxh on 21/09/2011 | 05:00

Những biểu hiện của việc báo hiếu trong đời sống của người Khmer ở Trà Vinh.
Những bổn phận được quy định rõ ràng trong kinh Phật, đó là những giá trị mà các sư và achar sử dụng để dạy dỗ và hướng thiện cho phật tử. Nhưng muốn hiểu được báo hiếu hay ka-ta-nhu thì phải đi từ những hành động cụ thể trong truyền thống của người Khmer ở Trà Vinh.
Việc đi tu của người Khmer ở Trà Vinh. 
Những bổn phận của người con đối với cha mẹ được ghi trong kinh Phật thì không có sự phân biệt đối với con trai và con gái, nhưng trong thực tế đời sống thì có rất nhiều sự khác biệt. Đặc biệt là khi người con trai đến tuổi đi tu học. Tu học không được ghi trong những bổn phận của con cái đối với cha mẹ mà chỉ ghi trong những bổn phận của cha mẹ đối với con cái. Ở đây cho con cái đi tu học là cha mẹ đã thực hiện bổn phận của mình. Đồng thời người con đi tu cũng là báo hiếu bởi vì đã giúp cha mẹ thực hiện bổn phận.

Đối với những người Khmer ở Trà Vinh, Đức Phật có thể coi là một vị thần tối cao.
(Ảnh minh họa-Nguồn: Internet)

Cách đây nhiều năm, khi chưa có trường lớp do nhà nước mở ra để cho những người Khmer ở Trà Vinh (nhất là đối với những địa phương nghèo) có thể theo học, thì ngôi chùa là ngôi trường học duy nhất mà những người con trai Khmer đến đó để tu học. Theo tập tục của người Khmer, con trai đến mười sáu, mười bảy tuổi thì bắt đầu vào chùa để đi tu. Khi mới vào chùa, những người con trai sẽ học chữ Khmer, chữ Ba li. Ở giai đoạn này người con trai phải thọ mười điều giới cấm của nhà Phật. Sau khi học được hai năm những người con trai mới được cạo đầu làm lễ quy y tam bảo. Ở giai đoạn đầu khi mới quy y, các sư tu ở cấp Sa-di thì phải thọ 105 giới.
Ở trong chùa, vai trò dạy dỗ các Sa-di thuộc về Sư Cả, các Achar, và các Tỳ Khưu. Những người có thể dạy học không phụ thuộc vào việc thời gian tu của họ ngắn hay dài mà phụ thuộc vào khả năng của họ. Thường những người được dạy học phải là những người phải am hiểu các lĩnh vực như: tiếng Khmer, tiếng Bali, và các phong tục tập quán của tộc người mình.
Đối với những người Khmer đi tu, họ quan niệm đi tu là báo hiếu xuất phát từ những diễn giải sau: Trước hết đi tu là giúp cha mẹ thực hiện bổn phận dạy dỗ con cái. Như vậy đã làm cho cha mẹ được vui lòng. Thứ đến, đi tu có thể nâng cao uy tín cho gia đình. Đối với những người Khmer ở Trà Vinh, Đức Phật có thể coi là một vị thần tối cao, tất cả các chư thiên khác dù ác hay lành cũng đều được quy về dưới chân Đức Phật như Thần rắn Nagar, Thần Krup, Reahu… Mặt khác những quý sư được coi là đại diện cho hình ảnh của Đức Phật, những lời kinh mà quý sư nói là đại diện của Đức Phật. Vì vậy mà gia đình Khmer nào có người nhà đi tu học càng lâu thì gia đình ấy càng được được coi trọng.
Cũng chính vì sự coi trọng Đức Phật và luôn muốn làm theo lời răn dạy của Đức Phật nên những người Khmer – kể cả những người con cái và cha mẹ đều cho rằng, đi tu có thể học được những điều đúng đắn từ trong chùa, có thể hiểu được phong tục tập quán. Từ đó người con trai có thể mang những kiến thức đó về giảng giải lại cho những người trong gia đình mình để những người trong gia đình luôn hướng đến việc làm điều lành, tránh những điều ác.
Việc đi tu của người con trai có ý nghĩa rất quan trọng đối với mỗi gia đình người Khmer, đây là sự biểu hiện của báo hiếu với việc thực hiện bổn phận của con người ở mỗi vị trí xã hội khác nhau. Thông qua hoạt động truyền dạy và học hỏi những phong tục tập quán, ngôn ngữ Khmer và tiếng Bali, việc đi tu đóng vai trò như là một phương cách để duy trì văn hóa tộc người.
(Còn tiếp)
Nhóm tác giả

Việc hiếu nghĩa của người Khmer (kỳ 6)

Written By kuxh on 20/09/2011 | 05:00

Quan niệm báo hiếu trong tâm thức người Khmer ở Trà Vinh.
Đối với những người Khmer ở Trà Vinh, từ khi được sinh ra cho đến khi đi tu học (đối với nam), lập gia đình, sinh con đều có những bổn phận nhất định được ghi lại trong kinh sách của nhà chùa. Bổn phận theo cách hiểu của người Khmer đó là những nhiệm vụ mang tính tự nhiên và hiển nhiên. Ở mỗi vị trí khác nhau con người phải thực hiện những bổn phận khác nhau.

Bổn phận theo cách hiểu của người Khmer đó là những nhiệm vụ mang tính tự nhiên và hiển nhiên. 
(Ảnh minh họa-Nguồn: Internet)
Bổn phận theo tiếng Khmer có nghĩa là Phia-ra-ci, đó là những điều được quy định khi con người bước vào những vị trí xã hội khác nhau. Cụ thể là bổn phận của cha mẹ đối với con cái; bổn phận của con cái đối với cha mẹ; bổn phận của trò đối với thầy; của thầy đối với trò; của nhân dân đối với người đứng đầu phum sroc, bổn phận của người đứng đầu phum sroc đối với nhân dân…
Có năm điều nói về bổn phận của con cái đối với cha mẹ đó là:
-Người con phải biết chăm sóc phụng dưỡng cha mẹ để cha mẹ khỏe mạnh, đặc biệt là khi cha mẹ đau ốm lại càng phải tận tâm chăm sóc. Không được làm những việc khiến cho cha mẹ phiền lòng.
-Phải biết phụ giúp công việc cho cha mẹ. Con cái không được lười biếng.
-Phải biết gìn giữ nòi giống, con trai và con gái đến tuổi trưởng thành là phải lấy vợ lấy chồng, sinh con đẻ cái.
-Phải biết giữ gìn tài sản cho cha mẹ mình. Bản thân người con phải tự biết chi tiêu cho hợp lý, không được chi tiêu lãng phí tài sản của cha mẹ.
-Khi cha mẹ đã chết cần phải biết cầu siêu cho cha mẹ mình, để vong hồn cha mẹ sớm được siêu thoát, đầu thai.
Tuy nhiên, bên cạnh những bổn phận của con cái đối với cha mẹ thì còn có bổn phận của những người làm cha mẹ đối với con cái của mình cũng được quy định rõ ràng. Về bổn phận của cha mẹ đối với con cái cũng có năm điều:
-Phải dạy bảo con cái làm những điều tốt đối với tất cả mọi người, tránh làm những điều xấu.
-Dạy bảo cho con cái biết kính trên nhường dưới. Tức là đối với ông bà, cha mẹ, anh chị thì luôn luôn phải kính trọng, đối với em trai, em gái, hay những người nhỏ tuổi hơn thì luôn phải nhường nhịn.
-Khi con cái đã lớn, đã đến tuổi đi học, thì phải tạo điều kiện cho con cái đi học. Đối với con trai thì ngày xưa phải được đi tu để học. Bây giờ đối với con trai và cả con gái đều phải được đi học, dù học chữ Khmer hay chữ phổ thông.
-Khi con cái đến tuổi trưởng thành, đối với con trai thì phải kiếm vợ cho con, đối với con gái thì phải chấp thuận cho con lập gia đình.
-Khi đã lập gia đình, nếu các con ra ở riêng thì cha mẹ phải góp vốn cho con để xây dựng nhà cửa và có vốn làm ăn. Vốn ở đây tùy thuộc vào cha mẹ, nếu cha mẹ giàu thì có thể là tiền bạc, nếu nghèo khó thì có thể là cây, lá, dụng cụ gia dụng trong nhà. Nhưng nếu con cái không ra ở riêng mà vẫn tiếp tục ở với cha mẹ thì cha mẹ vẫn còn bổn phận dạy dỗ cho con cái làm những điều lành, tránh những điều xấu.
Bên cạnh những bổn phận giữa cha mẹ và con cái còn có những bổn phận khác gắn liền với vị trí của con người trong cộng đồng. Ở đây, chúng tôi chỉ nêu ra những bổn phận của con cái đối với cha mẹ và của cha mẹ đối với con cái từ đó làm rõ hơn về khái niệm “báo hiếu”.
“Báo hiếu” hiểu theo tiếng Khmer có nghĩa là Ka-ta-nhu, là việc thực hiện bổn phận của con cái đối với cha mẹ. Để thực hiện những bổn phận của mình, người con không chỉ phải nắm chắc những bổn phận đối với cha mẹ mà còn phải biết về những bổn phận của cha mẹ đối với bản thân mình. Giúp cha mẹ thực hiện bổn phận đối với con cái cũng là một việc làm có hiếu với cha mẹ, bởi vì đã làm điều tốt làm cha mẹ vui lòng.
Ví dụ như việc người Khmer quan niệm rằng, đi tu trong chùa là một việc làm báo hiếu, vì người con đã giúp cho cha mẹ thực hiện bổn phận dạy dỗ con cái đã nêu trong kinh phật. Hay việc những người con vào chùa trong Lễ thuyết pháp để nghe thuyết giảng về phong tục tập quán của cộng đồng cũng chính là việc làm có ý nghĩa báo hiếu. Bởi đi nghe thuyết pháp cũng chính là việc làm nhằm học hỏi những cách ứng xử đúng đắn trong cộng đồng, do vậy sẽ làm cha mẹ vui lòng và cũng làm cho bổn phận dạy dỗ con cái của cha mẹ được trọn vẹn.
(Còn tiếp)
Nhóm tác giả

Việc hiếu nghĩa của người Khmer (kỳ 5)

Written By kuxh on 19/09/2011 | 05:00

Bối cảnh giao lưu văn hóa giữa cộng đồng người Khmer với các tộc người khác ở Trà Vinh.
Theo cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009, hiện nay, tổng dân số Khmer ở Trà Vinh là 317.230 chiếm tỉ lệ 31,62% tổng dân số của toàn tỉnh Trà Vinh. Bên cạnh đó, người Hoa có dân số 7.690 chiếm 0,76% và người Chăm với 163 người chiếm 0,016% dân số của Tỉnh. Các dân tộc Việt, Khmer, Hoa, Chăm đã tụ cư lâu đời ở tỉnh Trà Vinh, do vậy đã nảy sinh quá trình gặp gỡ, giao lưu, tiếp thu, loại trừ và chọn lọc những yếu tố văn hóa chung và riêng của từng tộc người để hòa hợp và phát triển.

Các dân tộc Việt, Khmer, Hoa, Chăm đã tụ cư lâu đời ở tỉnh Trà Vinh, do vậy sẽ nảy sinh quá trình gặp gỡ, giao lưu, tiếp thu, loại trừ và chọn lọc những yếu tố văn hóa chung và riêng của từng tộc người để hòa hợp và phát triển. 
(Ảnh minh họa-Nguồn:Internet)
Xét về sinh hoạt kinh tế, người Khmer và người Việt đều có truyền thống làm nông nghiệp. Trên cùng một địa bàn tự nhiên, họ đã cùng nhau chia sẻ từ những kinh nghiệm, công cụ, hạt giống đến các cách thức canh tác… Người Khmer đã tìm ra hàng trăm giống lúa cổ có sức chịu mặn, chịu phèn tốt. Người Việt đã đào hàng ngàn kilomet kênh mương lớn nhỏ, tháo cạn đầm lầy. Người Hoa tổ chức các trung tâm trao đổi, buôn bán các loại nông sản. Từ sự kết hợp đó, các tộc người đã cùng phát huy thế mạnh của riêng mình vào việc phát triển kinh tế của cả vùng.
Thông qua trao đổi các phương thức kinh tế, các tộc người có xu hướng xích lại gần nhau, tạo ra các giao lưu trên nhiều phương diện văn hóa khác như văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, các loại hình văn học dân gian và nghệ thuật.
Trong các tập tục mai táng, chôn cất người chết, nhiều người Việt và người Hoa sống cạnh người Khmer cũng hỏa thiêu và gửi tro cốt vào các tháp trong các ngôi chùa của người Khmer. Ngược lại, nhiều người Khmer sống gần người Việt và người Hoa lại chuyển sang chôn người chết.
Một số nơi của tỉnh Trà Vinh như thành phố Trà Vinh, chùa Mỏ Neo (huyện Châu Thành), có nhiều người Việt và người Hoa cùng đón Tết Chol Chnamthmay của người Khmer, và người Khmer cũng đón Tết Nguyên Đán của người Việt và người Hoa.
Sự giao lưu văn hóa còn thể hiện qua một số hiện tượng như song ngữ và tam ngữ. Nhiều người Khmer, trừ những người già, đều nói được tiếng Việt như tiếng phổ thông trong quan hệ xã hội, nhiều người Hoa cũng nói được tiếng Việt và tiếng Khmer. Người Việt nói tiếng của Hoa và người Khmer cũng không hiếm, nhất là đối với những gia đình Việt, Hoa, Khmer có quan hệ với nhau về hôn nhân. Trong cuộc sống sinh hoạt, họ có thể  chuyển nhanh từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ kia một cánh tự nhiên.
Sự giao lưu về tín ngưỡng tôn giáo trong các tộc người cũng được thể hiện rõ nét. Trước đây việc thờ cúng của người Khmer chỉ được tập trung trong chùa, nhưng trải qua thời gian tiếp xúc lâu dài với người Việt và người Hoa, người Khmer hiện nay cũng lập bàn thờ ông bà trong nhà. Trước đây, bàn thờ Phật của người Khmer thường quay về hướng mặt trời mọc, nhưng ngày nay, họ thường làm bàn thờ Phật ở chính giữa nhà, đi vào cửa là nhìn thấy giống như người Hoa. Có nhiều  trường hợp trong nhà của người Khmer có cả bàn thờ Quan Thế Âm Bồ Tát và Quan Công. Điều đó chứng tỏ họ đã tiếp thu những yếu tố tín ngưỡng của người Việt và người Hoa. Ở một số xã của huyện Tiểu Cần – tỉnh Trà Vinh như: Hiếu Trung, Hiếu Tử… ta thấy ở bên ngoài, trước sân, phía đối diện với cửa nhà của người Việt, Khmer, Hoa đều có lập bàn thờ ông thiên. Tục cúng thầy pháp của người Việt cũng gần giống với tục cúng Arặc của người Khmer; hay tục thờ Bà Mẹ Sanh của người Hoa và người Việt cũng giống với tín ngưỡng Mđai Đơm của người Khmer. Một hiện tượng thường thấy ở Trà Vinh là Miếu Bà Thiên Hậu, miếu Ông Bổn, miếu Ngũ Hành của người Hoa được xây cạnh chùa của người Khmer hay bên cạnh chùa Tịnh độ cư sĩ của người Việt, đôi khi còn xen kẽ cả với những nhà thờ Công giáo.
Không chỉ trên lĩnh vực kinh tế, tín ngưỡng tôn giáo, cả các trong lĩnh vực văn học dân gian, sân khấu, ca múa cũng có sự giao lưu rõ nét giữa các tộc người. Truyện cổ tích của người Khmer cũng có nhiều tình tiết giống như trong chuyện cổ tích của người Việt.
Nhìn chung, do đặc điểm tự nhiên của đồng bằng Sông Cửu Long, do cộng cư lâu dài, quá trình phát triển đa dạng của người Khmer là do những yếu tố văn hóa nội tại, cộng với những yếu tố văn hóa bên ngoài thông qua quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa với người Việt và người Hoa.
(Còn tiếp)
Nhóm tác giả

Việc hiếu nghĩa của người Khmer (kỳ 4)

Written By kuxh on 18/09/2011 | 05:00

Văn hóa tinh thần.
Phật giáo Nam tông có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của người Khmer ở Nam bộ nói chung và ở Trà Vinh nói riêng. Điều này phần nào thể hiện trong cấu trúc xã hội của người Khmer qua việc những tu sĩ luôn là tầng lớp được dân chúng kính trọng nhất. Theo truyền thống của người Khmer, con trai khi đến tuổi trưởng thành là phải cạo đầu tu hành. Việc làm này trước hết là để báo hiếu cho cha mẹ, sau đó là để tu dưỡng đạo đức, học tập những lời dạy đúng đắn của Đức Phật. Sau khi đi tu được vài năm (thường thì hai đến ba năm) thì họ có thể hoàn tục, trở về nhà để lập gia đình.
Theo truyền thống của người Khmer, con trai khi đến tuổi trưởng thành là phải cạo đầu tu hành. 
(Ảnh minh họa-Nguồn: Internet)
Theo Lê Hương, người Khmer có thể cam chịu ở nhà tre vách lá, nhưng ngôi chùa chung của cộng đồng thì được đóng góp xây dựng tráng lệ. Đối với họ, công đức được tích góp càng nhiều thì sau này sẽ mau chóng được lên cõi Niết Bàn.
Thực ra, trước khi Phật giáo du nhập và trở thành tôn giáo chính thống thì người Khmer đã là tín đồ của nhiều tôn giáo khác như Bà la môn và Phật giáo Nam tông. Ngay từ những thế kỷ đầu công nguyên, những người Hinđu đã vào lãnh thổ của Vương quốc Phù Nam. Khi đó, lãnh thổ Chân Lạp vẫn còn là một bộ phận của Vương quốc Phù Nam cổ.
Đến thế kỷ thứ IX, Phật giáo Bắc tông lại được truyền vào Phù Nam và Chân Lạp và rất thịnh hành trong những năm 1181 – 1218. 
Đến thế kỷ thứ XIII, Phật giáo Nam tông từ Thái Lan lại truyền từ Thái Lan qua Chân Lạp, Phù Nam đã ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống của người Khmer và ngày càng chiếm địa vị độc tôn trong xã hội.
Đạo Bà la môn mất đi, nhưng vẫn để lại những di sản còn ảnh hưởng đến phong tục tập quán của người Khmer cho đến ngày nay. Trong những câu chuyện mà những người Khmer kể lại xuất hiện nhiều vị thần Bà la môn, tiêu biểu như: Prum (Prahma)- giáo chủ Bà la môn; Neareay-vị thần chuyên thực hiện theo ý thượng đề về mặt xây dựng hoặc kiến trúc; Tevada-vị thần bảo hộ gia đình nhà cửa, đất đai. Sau khi Phật giáo Nam tông thắng thế, những vị thần trên không biến mất trong tâm thức người Khmer, mà quay về quy thuận Đức Phật để làm phúc giúp đời.
Người Khmer ở Trà Vinh hiện nay vẫn còn duy trì tín ngưỡng Arặc và Neakta mà theo nhiều nhà nghiên cứu đó là những tín ngưỡng sơ khai của người Khmer, có từ trước khi Bà la môn giáo vào Phật giáo du nhập vào. Arặc không chỉ là một hình thức tín ngưỡng của dòng họ mà còn có các Arặc bảo vệ nhà, bảo vệ gia đình, bảo hộ khu đất, hay trấn giữ rừng. Còn Neakta thì người Việt hay gọi là Ông Tà. Neakta có nhiều loại, nhưng quan trọng hơn là Neakta chủ xóm. Mỗi năm, dân làng phải cùng họp lại, làm lễ cầu an trước khu thờ của Neakta.
Nói đến người Khmer ở Nam Bộ, người ta liên tưởng ngay tới một kho tàng văn học dân gian vô cùng phong phú, biểu hiện sự có mặt của đa dạng các thể loại, phản ảnh sinh hoạt hàng ngày của tộc người: Kamnap (thơ ca); rương boran (thần thoại); rương preng (truyện cổ tích); Sopheaset (tục ngữ); peak bandao (câu đố); châm riệng (ca hát).
Bên cạnh sự đa dạng của loại hình văn học dân gian thì nhìn vào những ngôi chùa của người Khmer ở Trà Vinh như Chùa Mỏ Neo, Chùa Âng, Chùa Hang, Chùa Ông Mek có thể thấy đó là những công trình với nhiều giá trị về mặt kiến trúc, điêu khắc, hội họa và hoa văn.
(Còn tiếp)
Nhóm tác giả

Việc hiếu nghĩa của người Khmer (kỳ 2)

Written By kuxh on 16/09/2011 | 05:00

Người Khmer ở Trà Vinh nói riêng và ở Việt Nam nói chung là một tộc người có truyền thống nông nghiệp lâu đời. Trên cơ sở kế thừa những nền văn hóa rực rỡ, kết hợp với sự phát triển tự thân và tiếp thu những yếu tố văn hóa của các tộc người khác, người Khmer đã không ngừng phát triển và đổi mới để tạo ra bản sắc văn hóa của tộc người mình.
Tổ chức xã hội
Hiện nay, người Khmer và các tộc người khác ở Trà Vinh đều đặt dưới sự quản lý hành chính của nhà nước các cấp như ấp, xã, huyện, tỉnh. Nhưng đơn vị cư trú truyền thống của người Khmer là Phum và Srock.
Phum là đơn vị cư trú của người Khmer có từ năm đến bảy, hoặc từ chín đến 10 hộ gia đình. Tên của phum không có tên gọi riêng mà phổ biến thường lấy tên của người lập ra phum để làm tên phum. Là một đơn vị cư trú nhưng đồng thời phum cũng là một thiết chế xã hội dựa trên quan hệ huyết thống và quan hệ hôn nhân. Do vậy, những người sống trong phum bao gồm khoảng từ ba đến bốn thế hệ của những người bà con thân thuộc về cả phía cha hoặc phía mẹ. Phum còn là đơn vị xã hội tự quản nhỏ nhất của người Khmer, đứng đầu là một Mê phum – người có uy tín và trách nhiệm với các công việc đối nội, đối ngoại của phum.
Bên cạnh đơn vị cư trú phum người Khmer còn cư trú theo đơn vi srock – một đơn vị cư trú lớn hơn. Srock của người Khmer là một tập hợp bao gồm nhiều phum lớn nhỏ khác nhau. Thông thường, srock được xác định qua vị trí của một ngôi chùa và tên gọi riêng của nó. Việc quản lý xã hội truyền thống của srock được dựa trên cơ chế quyền lực của cộng đồng và tổ chức Phật giáo Nam tông. Đứng đầu srock là một Mê srock, giúp việc cho một Mê srock là một ban quản trị được dân bầu ra. Bộ máy này thực hiện các chức năng đối nội, đối ngoại và tiếp xúc với nhà chùa để duy trì sự ổn định của xã hội, làm cho mối quan hệ của các thành viên trong cộng đồng được đảm bảo. Bên cạnh ban quản trị do nhân dân bầu lên thì cũng có tổ chức của nhà chùa Nam tông, bao gồm một vị sư cả và các sư phó. Nhà chùa gần như định hướng tư tưởng cho người dân trong cộng đồng. Triết lý nhà Phật được tiếp nhận như những triết lý sống trong hành vi và cách ứng xử của người dân. Do vậy, không nắm quyền quản lý hoàn toàn mọi công việc của một srock, nhưng tổ chức nhà chùa được kính trọng nhất và là linh hồn của một sock.
(Ảnh minh họa-Nguồn: Internet)

Ngày nay, vẫn tồn tại bộ máy tự quản srock Khmer, nhưng không còn các Mê phum, Mê Srock nữa mà chỉ còn lại bộ máy quản lý của nhà chùa. Bộ máy quản lý của nhà chùa không chỉ có các sư Nam tông, mà còn bao gồm cả một số người có uy tín cao trong srock gọi là Achar được nhân dân bầu ra để cùng với các sư chăm lo đời sống tinh thần cho họ. Như vậy bộ máy quản lý chùa bao gồm các sư quản lý về tư tưởng và những người Achar gọi là ban quản trị chùa.
Nhiều nơi ở Trà Vinh, có những trường hợp một srock trùng với một ấp, có sự tồn tại của cả hai hệ thiết chế xã hội truyền thống của người Khmer và nhà nước. Do vậy người dân vừa phải tuân thủ theo những luật pháp quy định của thiết chế nhà nước, nhưng đồng thời vẫn sinh hoạt, đặc biệt là sinh hoạt tín ngưỡng – tôn giáo theo thiết chế xã hội cổ truyền.
(Còn tiếp)
Nhóm tác giả

Việc hiếu nghĩa của người Khmer (kỳ 1)

Written By kuxh on 15/09/2011 | 05:00

  Lời nói đầu
Lịch sử và nguồn gốc của người Khmer ở Nam bộ là những vấn đề quan trọng đặt ra với những nhà quản lý văn hóa. Trà Vinh là một tỉnh có sự cộng cư của nhiều tộc người khác nhau, đặc biệt là ba tộc người Việt, Hoa và Khmer. Trong môi trường đa tộc người như vậy, sự giao lưu và tiếp biến văn hóa là một quá trình tất yếu.
Văn hóa của người Khmer ở Trà Vinh chịu nhiều ảnh hưởng của các tôn giáo như Bà la môn giáo và Phật giáo Nam tông. Tuy nhiên, để làm nên một văn hóa của người Khmer thống nhất thì phải kể đến cả những yếu tố văn hóa bản địa của chính họ đã tạo ra trong quá trình lịch sử, cộng thêm những yếu tố văn hóa có được do tiếp nhận của các tộc người cùng cộng cư trên mảnh đất Trà Vinh như người Việt, người Hoa…
(Ảnh minh họa-Nguồn: Internet)
Vấn đề “đạo hiếu” được nói đến rất nhiều trong tư tưởng của Nho gia và ảnh hưởng rất lớn trong đời sống của tộc người Việt ở Việt Nam. Thậm chí nó đã được thể chế hóa thành chuẩn mực đạo đức. “Hiếu” là bổn phận của con cái đối với cha mẹ, như Khổng Tử đã nói: “Khi cha mẹ sống thì theo lễ mà phụng sự cha mẹ, khi cha mẹ chết thì theo lễ mà an táng, và khi cúng tế cũng phải theo đúng lễ”. Bên cạnh đó, chữ “hiếu” cũng được nhắc nhiều trong quan niệm của Phật giáo Nam Tông.
 Qúa trình hình thành cộng đồng người Khmer ở Trà Vinh.
Trà Vinh là một trong 13 tỉnh của Đồng Bằng Sông Cửu Long, do vậy lịch sử hình thành của tỉnh này gắn liền với lịch sử của toàn vùng.
Đồng bằng Sông Cửu Long là một đồng bằng “trẻ” hơn so với nhiều đồng bằng khác ở Việt Nam. Theo nhà địa lý Lê Bá Thảo, cách đây khoảng 2500 năm, dưới sự che chở của các cồn cát duyên Hải, của đồi núi miền Đông Nam Bộ phía Bắc và dãy Đậu Khấu ở phía Tây Nam, vịnh biển vùng sông Cửu Long được lấp dần. Đồng bằng Sông Cửu Long dần vượt lên trên so với mực nước biển. Cách nay khoảng 2000 năm, đồng bằng Sông Cửu Long về cơ bản đã được hình thành.
Ngay từ thời cổ đại, đã có những nhóm cư dân đầu tiên sinh sống ở khu vực đồng bằng Sông Cửu Long, trên một số nơi như: các giồng cát có nước ngọt ven biển như Trà Vinh, Vĩnh Châu, Sóc Trăng; các vùng núi như An Giang. Tuy là một đồng bằng non trẻ, nhưng ngay từ những thế kỷ đầu công nguyên, công cuộc khai phá của cư dân ở đồng bằng Sông Cửu Long đã đạt tới mức đột phá dưới sự phát triển rực rỡ nền văn hóa Óc Eo.
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, văn hóa Óc Eo là đại diện của Vương quốc Phù Nam vào thời kỳ cực thịnh. Đó là nền văn hóa rất đa dạng, phong phú, có trình độ phát triển cao. Theo các nhà khảo cổ học, nền văn hóa này được hội tụ bởi hai truyền thống là: văn hóa Đồng Nai bản địa và văn hóa Ấn Độ. Nhưng từ thế kỷ thứ VIII sau Công nguyên, văn hóa Óc Eo bắt đầu tàn lụi. Các công trình của nền văn hóa Óc Eo bị chôn vùi trong lớp đất phèn mặn của Đồng bằng Sông Cửu Long. Như vậy, chủ nhân của nền văn hóa Óc Eo không phải là những cư dân Khmer ở Nam bộ. Có nhiều ý kiến cho rằng, chủ nhân của văn hóa Óc Eo là những cư dân thuộc nhóm Mã Lai Đa Đảo cổ và những cư dân thuộc văn hóa Đồng Nai bản địa.
Sự lụi tàn của văn hóa Óc Eo có nhiều nguyên nhân, trong đó có hai nguyên nhân quan trọng là: Sự xâm lược của nước láng giềng Chân Lạp và Vương quốc Phù Nam bị tan rã. Tiếp theo là từ thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ thứ X, mực nước biển ở đồng bằng Sông Cửu Long dâng cao, gây ra lụt lội vùi lấp những thành tựu của nền văn hóa Óc Eo. Từ thế kỷ thứ VIII, đồng bằng Sông Cửu Long chỉ là một vùng hoang vu, không có người ở. Cho đến thế kỷ thứ X, nước biển mới dần rút đi để lại những giồng đất đai màu mỡ.
Từ thế kỷ thứ XII, những người Khmer ở Campuchia do muốn trốn tránh sự áp bức, hà khắc của các vương triều Ăngco, nên một bộ phận lớn cư dân đã di cư sang các vùng đất của Đồng bằng Sông Cửu Long để mưu sinh. Từ những ngày đầu đến vùng đất này, những người Khmer đã đến những giồng cát lớn, quần tụ thành những vùng dân cư tập chung.
Cũng theo Nguyễn Khắc Cảnh thì Trà Vinh là một trong những khu vực cộng cư sớm nhất của người Khmer ở Nam bộ: Đến cuối thế kỷ thứ XV đầu thế kỷ thứ XVI, Đồng bằng Sông Cửu Long đã hình thành ba vùng dân cư tập trung của người Khmer, đó là: Vùng Sóc Trăng – Bạc Liêu – Cà Mau; vùng An Giang – Kiên Giang; và vùng Trà Vinh – Vĩnh Long.
Như vậy, người Khmer ở Đồng bằng Sông Cửu Long và người Khmer ở Campuchia là những nhóm tộc người có chung nguồn gốc lịch sử, có ngôn ngữ gần gũi và nhiều đặc trưng văn hóa tộc người. Nhưng do sống tách biệt trong khoảng thời gian dài, và với những vùng địa lý, lịch sử khác nhau, cho nên người Khmer ở Trà Vinh và Nam bộ đã hình thành nên những đặc trưng văn hóa riêng biệt so với tộc người Khmer ở Campuchia.
Theo số liệu thu được từ Cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009 được thực hiện bởi Tổng cục Thống kê Việt Nam thì người Khmer ở Trà Vinh có tổng số 317.230 người, chiếm 25,16% trong tổng số 1.260.640 người Khmer ở Việt Nam, chiếm 26,8% so với 1.183.476 người Khmer ở Tây Nam Bộ. Như vậy, có thể nói, Trà Vinh là một trong số những tỉnh có đông người Khmer sinh sống.
(Còn tiếp)

Nhóm tác giả

Xã hội truyền thống của người Khmer vùng Tây Nam Bộ - kỳ 9

Written By kuxh on 13/09/2011 | 05:00

Khi chúng tôi hỏi về giai đoạn “người có cày ruộng”, bác K hồi tưởng lại quá khứ và kể bằng một giọng rất say xưa như tất cả đã được ghi âm chỉ cần nhấn nút là nói. Bác K kể rằng giai đoạn này người dân không khổ, ai trực tiếp làm được bao nhiêu ruộng thì được quyền khai, làm được bao nhiêu khai bấy nhiêu.
"Hồi đó người ta chấm tọa độ công nhận đất, địa chủ chỉ đất nào là của ông thì là của ông."
(Ảnh minh họa-Nguồn: Internet)
Hỏi về chủ đất ở ấp thì bác nói, địa chủ lớn nhất thời này là ông N người Trung Quốc nhưng vì giai đoạn này cách mạng nổi dậy nên ông ở không được giao lại cho H. Khi chúng tôi hỏi tại sao địa chủ lại có đất nhiều như thế? Bác K trả lời, “hồi đó người ta chấm tọa độ công nhận đất, địa chủ chỉ đất nào là của ông thì là của ông, thực ra đất của ông thì ít nhưng ông khai thì nhiều, người dân ai can đảm lắm thì mới đi theo khai”. Bác K giải thích “hồi đó địa chủ là trời là đất mà. Bác K nói sau địa chủ thì địa tô có khoảng vài trăm công đất. Bác K nói tiếp “sau này chính sách khoán người thì đỡ hơn, nhà nước mua đất của địa chủ giao lại cho dân, mỗi hộ không quá 30 công ruộng”.
Vậy kinh tế thời nay người dân có khá lên không? Bác K cho biết “kinh tế thời nay cũng không lên nổi. Tuy nhiên, trước đó thì có đóng,  sau này thì không đóng, cũng đỡ được một phần so với trước”.
Khi hỏi tôi đến giai đoạn tập đoàn sản xuất thì bác K có nói “giai đoạn này người dân vì không quen làm tập thể nên khó, vất vả lắm ! Người ta làm theo cách tính công điểm tập thể. Chính sách lúc bấy giờ là ngăn sông cách chợ. Giai đoạn này người dân chạy đi nước ngoài nhiều (các nước Mỹ, Thái Lan, Campuchia…) cuộc sống vất vả lắm!
Bác K kể rằng: “Hồi đó nhà tôi có 70 công đất làm được có 300 – 400 dạ lúa. Đến thời kỳ TĐSX chỉ còn lại 5-6 công, thu nhập về được 2 chục dạ lúa. Tui nói thiệt là hồi đó ông già tui chửi nát luôn, ông nói “mày làm vậy đó hả ? Ruộng tao làm lúa mấy trăm dạ mày đem về cho tao mấy chục dạ đó hả?”. Nhưng mà cái chính sách nó vậy rồi biết làm sao được. Sau này có đỡ hơn, người ta chia cho mỗi người một công tính thuế phúc lợi, còn lại thì được giữ riêng, nhưng thời gian này vẫn còn đói lắm vì những chính sách ngăn sông cấm chợ đủ thứ. Ăn bo bo, tui đi học phải đem theo cả trăm ký gạo mình ăn 50kg còn lại lo lót dọc đường”.  Bác K nói tới đây thì chị con gái đang ngồi gần quay lại nói:  "trước đây đói lắm mẹ của chị phải rất vất vả để nuôi gia đình và các chị ăn học, chứ ba chị đi học và làm việc nhà nước lương không đủ nuôi chính ông''. Phản ứng của chị rất nhanh và tôi có cảm tưởng như thời gian này để lại trong chị một ấn tượng rất lớn.
Bác K lại tiếp tục. Trước đây Bác là giáo viên lãnh lương bốn tháng một lần nhưng hàng tháng đều được lãnh nhu yếu phẩm. Theo bác K nhận xét về đổi mới của các chính sách thì nhà nước mình đổi mới nhanh từ năm 1985 đến 1990 là đã ổn định.
Khi hỏi đến sự tan rã của tập đoàn thì Bác K cho biết khoảng năm 1985 là rã tập đoàn. Sau thời này, người ta giao ruộng lại cho mình. Người dân thưa kiện liên tục, lúc này bác làm bên Ủy ban mặt trận dân vận. Thời kỳ này nhà nước sửa sai (50 công đất thì mình còn lại ba mấy công)
Bác K nhận định hồi đó bí thư xã rất có quyền hành và làm việc không đúng nguyên tắc. Bác nói “bí thư xã hồi đó còn lớn hơn thủ tướng” là “vua một cõi” . Khi chúng tôi được biết có người ở ấp khác đến đây làm phó chủ tịch và thắc mắc về điều đó thì bác K mới giải thích là vì người ở xã này hồi đó vẫn chưa có trình độ nhiều. Bác K kể tiếp: hồi chính sách trang trại đất đai để cho người dân không có giấy tờ, khoảng thời gian này diễn ra sự xích mích lớn trong dân. Khi hỏi về bằng khoán có khớp với sổ đỏ hay không thì bác K có nói là có chỗ khớp có chỗ không vì trước đây chia bằng khoán rất chính xác và một lý do nữa là do phá bờ, do điều kiện sản xuất nên mới phát triển hệ thống kênh mương bố trí dày đặc. Hồi xưa không có kênh, mương đất của bác có 35 công nhưng chia lại còn 30 công và hiện nay còn 20 công.
Ngày 27/5/2011.
Trần Thị Thùy Trang

Xã hội truyền thống của người Khmer vùng Tây Nam Bộ- kỳ 7

Written By kuxh on 08/09/2011 | 05:00

Người già
7h30 sáng sau khi hoàn thành sổ nhật ký xong thì tôi đi lên nhà bác S, trưởng ban quản trị chùa. Tôi đi cùng với T, Đ và H. Trước khi đi, T có gọi điện trước nhưng bác S nói hôm nay bác phải đi xa tới 10h trưa mới về, nhưng chúng tôi vẫn quyết định đi sớm vì nhà bác khá xa. Chúng tôi hỏi thăm những người trên đường và cuối cùng chúng tôi cũng đến được nhà bác S. Trước mắt tôi là cảnh một căn nhà lá khá đơn sơ và cũng không có gì là khang trang, khá giả gì lắm. Tôi thấy một bà già khoảng 70 tuổi đang lụi cụi nhặt những trái gì đó, hỏi ra tôi mới biết đây là vợ của ông  S. Bà đang lượm những trái mù u để bán cho người ta, nhưng để người ta làm gì thì bà không biết. Thấy chúng tôi giới thiệu là sinh viên thực tập, muốn gặp bác S để hỏi một vài chuyện thì bà liền bảo đứa cháu nhỏ khoảng 9-10 tuổi gọi ông về. Chúng tôi bảo bà đừng gọi, chúng tôi sẽ đợi và chúng tôi cũng muốn tới thăm hỏi và chơi với bà.
Tôi nhìn thấy trong khu đất đó có hai căn nhà. Trước căn nhà bên đó có một cụ già đang đan cái xúc bằng tre. Trong lúc đợi ông Sơn về, tôi để cho bạn ở lại, còn tôi sang đó nói chuyện một chút. Tôi tiến tới, gật đầu và hỏi bác đang làm gì thế thì bác bảo là đang làm cái xúc phân bò (tương tự như cái xúc rác nhưng được đan bằng tre). Thực ra, tôi thấy nó không còn mới như là bị hư ở đầu mũi xúc nên bác đang sửa lại. Bác cho biết tiếng Khmer gọi là “cái ki”. Một bác gái cũng đang đi từ trước cổng vào với vẻ mặt đầy thắc mắc. Có lẽ bà muốn biết tôi là ai và cũng rất lạ lẫm. Bà không cười mà chỉ trao đổi bằng tiếng Khmer với ông  thôi. Khi tôi hỏi về tên tuổi và gia đình thì ông trả lời. Ông tên là  R,  73 tuổi. Vợ ông là P, 70 tuổi. Khi tôi trình bày với ông về việc tôi muốn biết về lịch sử Phum, sróc này, ông cười và nói là ông  không biết gì nhiều đâu. Tôi hỏi về gia đình ông R thì ông cho biết: Gia đình ông có 12 con: sáu người con trai và sáu người con gái. Con ông đã lập gia đình hết và hiện nay có ba người con trai và ba người con gái đang sống gần nhà ông. Ông bà sống với nhau trong căn nhà bằng lá bình thường như bao ngôi nhà của người dân Khmer tại địa bàn B.V. Ông vừa làm trong khi  tôi hỏi ông về vấn đề lịch sử của ấp trong khoảng thời gian ấp chiến lược. Ông R cho biết là trước đây ấp chiến lược có tên là B.V.  Trưởng ấp người Khmer gọi là Mê Phum. Khi tôi hỏi ông về việc hồi đó ông có đi bộ đội không thì ông trả lời là ông có đi một năm rưỡi rồi trốn về.  Ông nói tiếp “Hồi đó giặc giả không nhiều nên cũng không có gì ghê gớm lắm”. Tôi hỏi ông hồi đó khoảng năm bao nhiêu thì ông R cho biết đó là khoảng thời gian năm 1960-1961. Trước đây,bác có đi tu trong chùa không? Bác R nói bác không đi tu mà chỉ có em bác là bác S đi thôi. Bác R cho biết Bác R và bác S là hai anh em trai, còn đất này là đất của ba mẹ bác R để lại. Tôi hỏi bác chủ của đất này thì gọi bằng tiếng Khmer là gì? “Có phải là mê phum không ạ?”. Bác R trả lời “chủ của đất ở là tiếng khmer gọi là âm chạt chứ không phải là mê phum, Mê Phum là người đứng đầu phum B.V chứ không phải là chủ đất”. theo bác R, một ấp là một sróc, huyện là nư khụm, như ở đây là nư khụm C. N.
Cuộc sống người Khmer.
 (Ảnh minh họa, nguồn: Internet)

Hỏi về bác S thì bác R cho biết, bác S làm trưởng ban quản trị đã 9-10 năm nay, vì thiệt thà mà người ta cho làm hoài tới giờ. Khi tôi hỏi bác R về giai đoạn tập đoàn, bác có nói là thời kỳ này mỗi người có một  đến hai công ruộng. Tùy theo tập đoàn người ta có nhiều ruộng hay ít ruộng. Thời gian tập đoàn tiếp quản năm 1975.Theo bác R,  thời tập đoàn người dân sống cực hơn là trước bởi vì người ta tính theo công điểm, còn người già, người đau ốm không làm được thì không có cái ăn. Bác bảo nhà bác hồi đó có hai mấy công đất vì con cái đông nhưng hiện nay bác còn 18 công ruộng.
Khi làm xong cái ki, bác mời tôi vào nhà uống nước, bác gái đang ngồi ở mé giường cũng đã vui vẻ hơn lúc nảy. Tôi tới ngồi bên bác P, bác kể cho tôi nghe về bệnh tình của bác. Bác có bệnh biếu cổ (biếu dữ ) không mổ được, mười mấy hai mươi năm nay là bác đã bị rồi. Sau đó, ông từ trong phòng đi ra tay cầm ấm trà và gọi tôi lại bàn ngồi nói chuyện. Tôi cảm thấy bác cũng vui vẽ và sẵn sàng trả lời những câu hỏi của tôi. Bác P chỉ cho tôi hình cưới cô con gái út của bà được đặc dưới tấm kính bàn. Trong nhà bác có hai bàn thờ , thờ phật một bàn, thờ ông bà một bàn. Trước sân cũng có một bàn thờ Thiên chỉ có một lư hương mà không có mái che, tôi hỏi bác tên của bàn thờ này thì bác cho biết đây là bàn thờ Thiên. Theo bác R, trước giải phóng dân cư ở đây còn thưa thớt, chỉ khoảng hơn 100 hộ, bây giờ ấp này có hơn 300 hộ. Trước đây, khi dân ở đây còn thưa thì đất này rộng lắm. Hồi ấp chiến lược người ta rào hào rào trước đường lộ ban ngày người dân vẫn đi làm bình thường, ban đêm thì người ta không cho ra và có cả lính canh. Tôi thấy bác Rưng nói con gái bác sống ở trước khu vực gần nhà bác, gần đường lộ nhưng lại có những hàng rào bằng cây tre thì thắc mắc. Bác Rưng giải thích đất nơi của con bác đang ở là đất ruộng nhưng do bác đã đỗ đất lên vào khoảng thời gian trước thời giải phóng và nó trở thành đất phum.
Khi tôi hỏi bác về việc ở ấp này người ta giàu lên nhờ gì? Thì bác R trả lời là do người ta có con lấy chồng việt kiều, các nước như Pháp, Mỹ, Đài Loan. Ví dụ như ông H có đứa con gái lấy chồng nước ngoài nên mở cây xăng bán. Nhưng một phần, bác H giàu là từ thời ông bà do hồi xưa nhà họ có nhiều đất ruộng .
Bác R bảo ở đây người ta giàu là căn cứ vào đất ruộng chứ không tính theo đất Phum , giờ đất còn rẻ lắm, có đất mặt tiền ngoài lộ mới bán được giá. Từ thời ông bà đã có bằng khoán và tính theo m2.
(Còn tiếp)
27/5/2011
Trần Thị Thùy Trang

Xã hội truyền thống của người Khmer vùng Tây Nam Bộ- kỳ 6

Written By kuxh on 07/09/2011 | 05:00

Chia sẻ thông tin.
Chiều nay, tôi quyết định đến gặp bác R mà hôm trước gặp bác trong chùa tôi thấy bác là người biết khá rõ về phum, sróc. Khoảng chừng 30 phút sau khi rời khỏi  nhà, tôi tìm đến được nhà bác. Nhà bác ở gần cuối một con đường đất sâu và lầy lội.  Khi tôi bước vào tới sân, tôi cảm giác bác Rượng chẳng giàu có như tôi từng nghỉ. Một ngôi nhà làm một nửa là bằng lá, một nửa là đã xây bằng gạch bê tông nhưng có vẻ đã lâu năm, đi ra phía bên hông nhà tôi thấy có một bà cụ đang nằm trên giường tre dẫn võng ru cháu.
Bà T là vợ ông R. Bà T có mái tóc ngắn, thân hình cũng khá thô, làn da đen sạm. Bà T có một chiếc răng cửa làm bằng đồng chìa ra trông rất ngộ. Bà mặc bộ đồ khá cũ và tối màu. Bà có vẻ ngỡ ngàng, lạ lùng trước sự xuất hiện đột ngột của tôi. Tôi  chào hỏi bà, giới thiệu về bản thân mình và mục đích của tôi cho bà biết. Bà T nói rằng: “Ông đi vắng không có ở nhà khoảng tối tối ông mới về”. Tôi cũng nán ngồi đợi và trong lúc đó tôi cũng hỏi bà một vài thông tin về bà thân bà. Bà T năm nay 72 tuổi, đang sống cùng chồng là ông R và con gái út của bà.
Khoảng năm phút sau thì ông R về. Cô con gái út chở ông về trên chiếc xe Dream đã cũ. Tôi chào và hỏi thăm xem ông vừa đi đâu về ông nói là đi trả nợ ngân hàng về. Ông mặc quần tây, áo sơ mi. Tôi thấy thái độ của ông cũng rất vui vẻ và sẵn sàng chia sẻ cho tôi những thông tin mà ông biết. Tôi trình bày cho ông về vấn đề mà tôi còn thắc mắc là phum là gì? Sróc là gì? Khu vực anh em họ hàng sống quây quần bên nhau gọi là gì?. Ông R cung cấp cho tôi những thông tin như đất ruộng tiếng Khmer là đê sre, đất giồng (đất ở) là đê phum. Theo ông R biết thì Phum nhỏ là vuông của người Việt, chỉ về đất ở. Vuông này có thể là nhiều vuông chứ không phải là một vuông, còn phum lớn là ấp. Ông R cho tôi hay ông trước đây ông ở B.S nhưng lấy vợ ở đây nên về đây ở rể. Ông có sáu người con đã lập gia đình. Ông còn có phum của mình ở B.S do cha mẹ ông để lại và bây giờ ông cho con của ông ở. Hiện tại, trong phum nhỏ này có gia đình ông và gia đình em họ của vợ ông đang sống.
Thái độ của ông cũng rất vui vẻ và sẵn sàng
 chia sẻ cho tôi những thông tin mà ông biết.
(Ảnh minh họa, nguồn: Internet)
 Theo như ông R kể thì trước đây wện Tịch Anh này rất thưa người, cả wện chỉ có vài nhà thôi. Khi tôi hỏi ông về đất ruộng của ông thì ông cho biết ông có 20 công ruộng, năm công mía. Tôi hỏi bà T có đi ruộng được không thì bà cười vui vẻ, bà nói rằng: “Giờ thì ở nhà trông cháu thôi, nhưng lúc nào rãnh bà cũng đi ra ruộng để nhổ cỏ cho lúa và cho mía”.
Kết thúc cuộc phỏng vấn, ông R còn cho chúng tôi chuối và cả chanh dây, tôi thấy mọi người rất vui và còn chúc tôi học giỏi. Bây giờ đã là 5h15 chiều.
Ngày 26/5/2011
Trần Thị Thùy Trang

Xã hội truyền thống của người Khmer vùng Tây Nam Bộ- kỳ 5

Written By kuxh on 06/09/2011 | 05:00

Từ chuyện một gia đình người Khmer.
9h15 sáng, sau khi hoàn thành nhật ký của ngày hôm qua, tôi cũng lên một lịch làm việc mới do một vài gợi ý của cô D. Theo kế hoạch, tôi sẽ sang bà K hỏi chuyện nhưng tôi cứ thấy ngại ngại. Thấy bà K đang đứng ở bếp, tôi chạy lại hỏi thăm về những người già có khả năng biết về phum,  Sróc. Bà K chỉ cho tôi em út của bà cũng sống gần đây và bà bảo tôi dắt xe đạp để bà dẫn tôi sang nhà bà út. Bà K đã già. Năm nay bà  đã 72 tuổi nhưng tôi thấy bà làm việc liên tay liên chân suốt ngày.Chúng tôi đi được một lúc cách nhà bà K, khoảng vài trăm mét là tới nhà bà U dọc theo trục đường lộ. Nhà bà U là nhà xây kiên cố, khá rộng rãi và khang trang, sơn màu xanh dương nhạt trông rất sáng sủa. Tôi bước vào sân và thấy hơi ngại vì tôi cũng không phải là người quen giao tiếp với người lạ mà đặc biệt là chỉ có mình tôi thôi. Vừa vào trong sân, có một anh (anh T con bà K) chạy xe máy vào. Tôi cứ nghĩ là con bà U nên cũng gật đầu chào. Anh hỏi tôi “đi đâu đấy” tôi nói là đi tìm hiểu về phum, Sróc của người Khmer. Tiếp theo tôi cùng bà K ra sau nhà thì thấy một bà già đang vo gạo nấu cơm, tôi mới hỏi bà nấu cơm cho sư bưng bát hả bà thì bà cười và nói theo “bưng bát”. Bà K cũng nói lại với tôi một lúc nữa các sư lại bưng bát. Anh T hồi nãy gặp ngoài sân giờ đã đứng trước cửa nhà sau và hỏi tôi vấn đề tôi đang nghiên cứu là gì? Tôi thấy anh có vẻ rất nhiệt tình với những sinh viên như chúng tôi. Tôi cũng nói với anh về cái tôi đang cần tìm kiếm là các mê phum (trưởng phum) mê Sróc(trưởng ấp). Tôi muốn biết họ là ai trước khi có các đơn vị hành chính là ấp, xã… Anh nói rằng anh cũng không biết và nói bằng tiếng Khmer để hỏi về vấn đề này với bà U bà U cũng trả lời lại với anh bằng tiếng Khmer. Sau đó, anh trả lời tôi là “dì U cũng không rành nữa”. Anh mời tôi vào nhà và kéo ghế ngồi. Thấy anh này cũng nhiệt tình nên tôi mới sẵn hỏi thăm một số thông tin: anh tên là  T, con bà K. Anh đã có thời gian tu ở chùa bảy năm, hiện nay anh T đã có gia đình và một con gái học lớp chín. Khi tôi hỏi anh cảm thấy thế nào khi đi tu? Anh trả lời: đi tu thì nhỏ hơn 21 tuổi là xa di trả ơn mẹ, trên 21 tuổi là tì khưu trả ơn cha. Theo anh T thì đi tu lâu hay mau là do duyên kiếp chứ không phải mình muốn là được, khi nào cảm thấy hết duyên tu (căn tu) nữa thì ra chứ không phải ai muốn đi là đi. Khi tôi nói về sự hi sinh của người mẹ thì thấy anh có vẻ hơi xúc động và nói “bà cứ làm nuôi mình còn mình đi tu thì không giúp gì được cho bà” đi tu còn không được nghĩ ngợi gì về gia đình mà phải tụng kinh, cầu cho cha mẹ, làng xóm được bình an. Anh Tư cho tôi biết phum là ấp và bao gồm 6 wện của ấp Nô Nghét Chơn, Ô Nghét Bôn, Nơ Trọn, Lệt Woát, Kợt Woát, Tịch Anh. Anh Tư giải thích từ “Nghét” trong tiếng Khmer là chỉ ngã ba, ngã rẽ, “Nơ Trọn” là nằm thẳng, “Lệt Woát” là hướng đông của chùa, “Kợt Woát” là hướng nam của chùa. Tiếp theo, “Tịch Anh” là nơi có nhiều a cha (các thầy dạy tiếng Khmer và tiếng Bali). Anh T trước đây cũng từng làm a cha và anh xin đi học ở các chùa khác chứ ấp B.V không dạy. Tôi thấy anh T có vẻ không rảnh lắm nên nói: nếu anh không rảnh thì đi làm kẻo muộn và anh cũng nói là anh đang bận công chuyện một tí. Tôi cám ơn anh và anh đứng dậy ra về. Bây giờ, trong nhà chỉ còn lại tôi với bà U. Bà K đã về khi nào tôi cũng không biết nữa. Bà Út đang ngồi trên giường, tôi đi lại để nói chuyện với bà. Bà U trong rất đẹp lão, khuôn mặt bà rất sáng. Mái tóc của bà cũng giống như bao phụ nữ có tuổi của người Khmer ở đây là đều cắt ngắn, nhưng tóc bà vẫn còn đen và đẹp. Tôi hỏi bà năm nay bao nhiêu tuổi?  Bà nói cho tôi biết là năm nay đã 70 tuổi, hiện nay ở với gia đình con trai và bốn đứa cháu; và bà chỉ có một đứa con duy nhất. Bà U là em gái của chồng bà K. Bà U nói bà K không phải là gốc ở đây mà quê bà ở Trà Cú. Bà Út nói với tôi là bà không biết tiếng Kinh. Bà chỉ nói được chút ít thôi. Tôi hỏi bà U về con cái, đất đai. Bà và con bà hiện nay làm 10 công đất. Trong lúc nói tôi cố gắng nói rất chậm và lặp lại nhưng bà U vẫn có nhiều khi không hiểu. Bà cười và nói với tôi bằng tiếng Khmer như một người biết tiếng Khmer vậy. Nhưng tôi vẫn cảm thấy một điều là bà U có thể cho tôi biết một chút thông tin về phum, Sróc nên tôi không thấy nản và cũng không muốn bỏ cuộc. Bà U nói đây là phum bằng quên (B.V). Bà U cho biết bà có sáu anh chị em. Sau một hồi cố gắng hỏi han thì bà U cho biết  trước đây bà ở gần nhà bà K, nhưng sau đó bà về đây ở cả chục năm rồi. Các anh em của bà cũng ở gần nhà bà Kha nhưng bây giờ đã chết hết rồi. Bà U và tôi vẫn tiếp tục cuộc trò chuyện nhưng không phải là ở trong nhà mà đã ra ngoài bếp. Bếp sát bên chuồng heo, trong chuồng có hai con heo đang nằm, bếp củi vẫn cháy từ lúc tôi nói chuyện đến bây giờ. Thấy gà, vịt tôi cũng hỏi thăm bà có nuôi nhiều hay không thì bà cho biết là nuôi 15 con gà cả lớn cả nhỏ, năm con vịt và một vịt xiêm. Đang lúc chúng tôi (bà và tôi) đang trò chuyện thì tôi nghe có tiếng ai gọi, nhưng là tiếng khmer. Bà U nói là lục đi bưng bát mà bà chưa múc cơm. Lấy cái dĩa sâu bà xuống bếp xúc một đĩa khoảng hai chén bưng lên nhà. Sư đang chờ ở ngoài hiên. Bà U bưng cơm ra ngoài cúi đầu và cho cơm chia điều cho hai sư. Bà xuống nhà lấy một quả trứng đang bóc dở dang bỏ vào trong một cà mèn đựng đồ ăn riêng cho sư, rồi bái sư và sư đi ra.Trong thời gian cho cơm, cả bà Út và sư không có ai nói gì với ai. Theo tôi thấy thì bát của sư lớn khoảng chừng đựng được 20-25 chén cơm. Chén này luôn được sư che lại ở trong áo.Tôi hỏi bà Út có hay đi chùa không? Bà cho biết là mình yếu lắm không đi chùa được. Bà nói “chân tay cứ nặng không đi được” nên cả năm rồi bà không đi chùa. Khoảng 10h30 tôi hỏi thăm bà về người già ở gần đây bà chỉ cho tôi một ngôi nhà gần đó, khi tôi qua đó thì thấy cửa trước đóng và thấy cũng ngại nên tôi trở về nhà bà K.
 Khi nghe bà kể về cuộc đời mình, tôi thấy bà là một người mẹ lam lũ, vất vả cả cuộc đời, hy sinh nhiều cho gia đình, cho chồng con.
 (Ảnh minh họa, nguồn: Internet)
Tôi hỏi bà K là trước đây gì U cũng ở gần đây phải không? Bà K cho biết trước đây gì U ở gần giữa Bà K. Nhưng sao Bà U không ở đây mà chuyển đi? tôi hỏi. “Thì bà U có phum ở đó thì sang đó” bà K trả lời. “vậy có phum có phải là đất sở hữu không?” Một câu hỏi tôi tự đặt ra cho mình. “Bà ơi vậy đất mà bàđang ở là đất của ai hà bà? Bà trả lời tôi, đất này là đất của ông bà để lại, trước đây dì U ở đây nhưng giờ nhường lại cho chú T ở. Đất này con cháu ai ở thì ở chứ không mua bán gì hết. “Dì U không có chồng, xin con của tui về nuôi nhưng con tôi nó không chịu, nó nói “tui là con của mẹ tui chứ con gì bà” rồi dì U xin con của anh sáu về nuôi, bà K nói. Bà K quê ở Trà Cú, “trước đây tui lấy chồng về ở bên đó nhưng sau khi sinh được 3 đứa con (lấy chồng từ năm 17 tuổi – năm 23 tuổi là có 3 đứa con) thì ông mới về đây, tui thì không chịu lại, nhưng mẹ tui nói chồng ở đâu thì vợ ở đó, nên một năm sau tui mới lại nhà này”.
Hôm nay khi nói chuyện với bà K, tôi thấy bà có vẽ rất muốn giúp tôi làm bài, bằng cách chia sẽ thông tin mà tôi muốn biết rất nhiệt tình. Nhìn thấy bà trong bộ đồ đen đã sờn, đôi chân trần thô kệch, mái tóc ngắn bạc trắng cả đầu và một làm gia đã nhuốm mầu sương gió nên đã trở nên đen đủi và lắm đồi mồi. Bà làm việc suốt ngày không ngơi nghỉ. Hôm nay, khi nghe bà kể về cuộc đời mình, tôi thấy bà là một người mẹ lam lũ, vất vả cả cuộc đời, hy sinh nhiều cho gia đình, cho chồng con. Khi nói về gia đình bà không giấu được niềm tự hào về chồng con, nhưng cũng không khỏi ngậm ngùi, tiếc xót về sự ra đi của chồng con bà.
11h35 tôi kết thúc cuộc trò chuyện với bà K
(Còn tiếp)
26/5/2011
Trần Thị Thùy Trang

 
Support : Creating Website | Johny Template | Mas Template
Copyright © 2011. Bảo tàng Ký ức Xã hội - All Rights Reserved
Template Created by Nhật Nguyên Published by Nhật Nguyên
Proudly powered by Nguyễn Đức Lộc